Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Phần Giải Đáp
Bài 1
- Lu-ca đã dùng nhiều cách và nguồn tài liệu khác nhau để ghi chép sách Phúc Aâm Lu-ca. Những nguồn tài liệu này có thể là truyền khẩu hay tài liệu đã được viết ra như Phúc Aâm Ma-thi-ơ và Mác ví ba sách này có nhiều chỗ giống nhau.
- Lu-ca muốn một người tín hữu tên Thê-ô-hi-lơ và tất cả mọi người biết rõ ràng, theo thứ tự và chân xác ChúaCứu Thế Giê-su và hội thánh của Ngài (Sách Công Vụ).
- Lu-ca muốn độc giả thấy rằng Đức Chúa Trời đã chuẩn bị từ trước sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế vì Giăng Báp-tít là người đến trước, chuẩn bị lòng người cho Chúa Cứu Thế. Có thể Lu-ca cũng cho thấy hai sự đáp ứng khác nhau của giới chức sắc Do Thái giáo và những người dân đơn sơ đối với Tin Mừng cứu rỗi.
- Thầy tế lễ Cô Ma-ri
Già nua trẻ
Chức sắc Do Thái giáo người dân thường
Sùng kính Chúa sùng kính Chúa
Tuân giữ giới luật Do Thái giáo tuân giữ giới luật
Không có đức tin có đức tin lớn
Bị phạt câm được khen thưởng
Giăng Báp-tít Chúa Cứu Thế Giê-su
Tiên tri Con Đức Chúa Trời
Được thiên sứ báo tin được thiên sứ báo tin
Con thầy tế lễ dòng dõi vua Đa-vít
Chuẩn bị lòn dân cứu rỗi dân ra khỏi tội
- Lu-ca 1:34 là một câu hỏi, không phải lời khấn nguyện. Nếu khấn nguyện ở đồng trinh sao còn nhận lời chung sống với Giô-xép?
- Vì đây là một việc siêu nhiên của Đức Chúa Trời Toàn Năng.
- Ma-ri tin Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng, Ngài có quyền làm cho cô dù là trinh nữ nhưng sẽ có thai do quyền năng của Thánh Linh và sinh con. Đức Chúa Trời là Đấng thành tín, Ngài sẽ thi hành điều Ngài hứa.
- Bà Ê-li-sa-bét mừng cho Ma-ri, là người được hồng phúc Chúa cưu mang Chúa Cứu Thế và là người đã tin tưởng lời hứa của Chúa.
- Ma-ri nghĩ đến thân phận tầm thường của mình trước mặt Chúa và cô cũng là người cần sự cứu rỗi(câu 47).
- Ma-ri là người có đức tin lớn, can đảm và trung tín sống theo lời hứa của Chúa.
- Kinh Thánh cho thấy Ma-ri đồng tring khi sinh Chúa Cứu thế nhưng sau đó chung sống bình thường với chồng là Giô-sép và có con cái khác.
(Xem một vài tà thuyết về bà Ma-ri)
- Vì Kinh Thánh cấm cầu nguyện với con người đã chết hay thiên sứ. Lê-vi 19:31; Col 2:18; Khải 22:8-9
Chỉ có một Đấng trung gian cho loài người là Chúa Giê-su. 1Tim 2:5
Bài 2
- Họ biết rằng điều Chúa hứa là thật và học được bài học đức tin và vâng lời Chúa.
- “có tay Chúa ở cùng” thường chỉ về ân huệ và quyền năng của Chúa giúp đỡ để làm nhiều việc quan trọng và hữu ích cho Chúa.
- Xa-cha-ri ca ngợi Đức Chúa Trời và nói tiên tri về Chúa Cứu Thế cũng như con ông là tiênv tri Giăng Báp-tít trong chức vụ tiền phong chuẩn bị lòng người cho Chúa Cứu Thế.
- Giăng lớn lên, tăng trưởng về thể xác lẫn tâm linh.
- Lu-ca ghi lại niên hiệu hoàng Đế La Mã chứng tỏ biến cố này xảy ra thật và là một biến cố lịch sử chính xác.
- Lu-ca đề cập đến dòng dõi vua Đa-vít để cho thấy Chúa Cứu Thế Giê-su là sự ứng nghiệm của các lời tiên tri trong Kinh Thánh Cựu Ước về một hậu tự của vua Đa-vít sẽ đến và trị vì vương quốc của Chúa. Và ứng nghiệm lời thiên sứ thông báo trước đây.
- Sự giáng sinh của ChúaCứu Thế Giê-su là sự ứng nghiệm của lời hứa Chúa hứa vớidân Ngài; đây là một Tin Mừng (Phúc Aâm) cho mọi người. Nhưng Chúa Cứu Thế đã ra đời trong một hoàn cảnh nghèo nàn, khiêm tốn.
- Sự giáng sinh của Chúa Cứu thế là một tin mừng cho nhân loại vì Ngài đến để cứu rỗi con người đang sống trong tối tăm, tội lỗi.
- Đấng cứu rỗi, Chúa Cứu Thế (Christ, Mê-si-a) và Chúa Tể.
- Các thiên sứ trên trời ca ngợi, tôn vinh Đức Chúa Trời.
- Không; chỉ những người đáp ứng và tiếp nhận Chúa Cứu Thế Giê-su thì mới có sự bình an của Chúa. Những người tin Phúc Aâm hay tin Chúa Cứu Thế Giê-su là những người được Đức Chúa Trời thương và ban ân huệ cứu rỗi cho.
- Những người đơn sơ này nghe Tin Mừng, đi tìm và thấy rõ Chúa Cứu Thế nên tin những điều này và vui mừng tôn vinh, ca ngợi Đức Chúa Trời.
Nếu chúng ta đã nghe Tin Mừng, đã tin và thấy là đúng sự thật, hãy ca ngợi và tôn vinh Chúa trong đời sống mình.
Bài 3.
- Chúa Giê-su được sinh ra dưới luật pháp và theo Giao Ước của Đức Chúa Trời để làm tuyển dân của Ngài, tức là một người Do Thái hoàn tòan vâng giữ luật Chúa.
- Chúa Giê-su được trưởng dưỡng trong một gia đình Do Thái, có lẽ nghèo nàn, ở trong một miền tầm thường (Ga-li-lê) bị khinh miệt. Nhưng Giô-xép và Ma-ri là cặp vợ chồng trẻ công chính và sùng kính Chúa.
- Đời sống kinh tế không phải là yếu tố quyết định cho lòng tin kính Chúa. Ma-ri và Giô-xép là gia đình nghèo nàn, làm nghề chân tay (thợ mộc); ở trong một làng nhỏ, tầm thường; sống trong một xã hội sa sút về tôn giáo vì Ga-li-lê là miền bị ảnh hưởng của người ngoại quốc và nhiều thần thánh ngoại quốc. Dù vậy hai vợ chồng trẻ này là những người sùng kính và yêu mến Chúa.
Vấn đề tin kính là vấn đề của tấm lòng và mối liên hệ của người đó với Chúa. Hoàn cảnh xã hội hay điều kiện kinh tế không phải là yếu tố quyết định cho mối liên hệ của một người với Chúa mặc dù có thể ảnh hưởng một phần nào.
- Người công chính và sùng kính Chúa có một số đặc tính sau:(Ma-ri, Giô-xép, Si-mê-ôn và An-ne).
-Gìn giữ các đìêu răn, qui luật của chúa.
-vâng lời Chúa.
-tin và trông đợi Đấng Cứu Thế đến.
-Có Đức Thánh Linh trong lòng.
-Được Đức thánh Linh tthông báo và hướng dẫn để gặp Chúa Cứu Thế.
-Được chúa đáp lời ước nguyện.
-Được Chúa khải thị, cho biết những chân lý, chương trình cứu rỗi của Ngài.
-Có đời sống kiêng ăn, cầu nguyện thường xuyên và sâu nhiệm.
-Đang phục vụ chúa.
- Oâng Si-mê-ôn nhận biết Chúa Giê-su giữa vòng ahàng trăm em bé tại đền thờ nhờ Chúa Thánh Linh chỉ dẫn.
- Chúa Giê-su là Chúa Cứu Thế của dân Do thái lẫn toàn thể nhân loại.
- Những điều ông Si-mê-ôn nói tiên tri về Chúa Giê-su đã được ứng nghiệm:
-Nhiều người Do Thái thấy và tin Chúa Cứu thế Giê-su.
-Một số lớn không tin và chống đối Ngài.
-Một số chỉ trích Ngài.
-Cuộc đời và sự chét của Chúa Giê-su trên thập tự giá là một nhát gươm đâm vào lòng người mẹ Ngài tức bà Ma-ri.
-Thái độ của người Do Thái đối với Chúa cứu Thế bày tỏ tấm lòng của họ đối với Đức Chúa Trời. Ai tiếp nhận Đức Chúa Con tức là tiếp nhận Đức Chúa Cha, ai từ khước Đức Chúa Con cũng từ khước Đức Chúa Cha.
- Nữ tiên tri An-ne là người có Đức Thánh Linh; tận hiến đời sống phục vụ Chúa; có một đời sống kiêng ăn, cầu nguyện thường xuyên và sâu nhiệm; có hy vọng và lòng trông đợi Chúa Cứu Thế đến.
- Điêu này chứng tỏ Chúa Giê-su là một con người thật, bình thường và hoàn toàn.
Kinh Thánh cũng dạy rằng Chúa Giê-su là Đức chúa trời (Giăng 1:1-5); Ngài có từ vĩnh hằng (Giăng 8:58); là Chúa Tể của vũ trụ (Giăng 20:28; Khải 19:16). Chúa Giê-su là một thần nhân, có hai bản tính Trời và người đầy đủ nhưng không lẫn lộn. Đây là điều Kinh Thánh dạy, một huyền nhiệm và chúng ta tin dù không thể giải thích một cách thỏa đáng hoàn toàn.
- Câu trả lời cho thấy Chúa Giê-su lúc ấy ý thức rõ mối liên hệ đặc thù (Con Đức Chúa Trời) và chức vụ thiêng liêng của mình.
- Theo người Do Thái lúc bấy giờ Con Đức Chúa trời là Đấng Mê-si-a, bình đẳng với Đức Chúa Trời; vì thế Chúa Giê-su bị kết án phạm thượng vì xưng mình là Con Đức Chúa Trời.
- Hiếu thảo, vâng phục cha mẹ.
- Thuận phục thi hành chức vụ và chương trình cứu rỗi vào thời điểm Chúa Cha ấn định
Bài 4.
- Lu-ca trích dẫn những nhân vật lịch sử đương thời là cách những người chép sử thời xưa bắt đầu trang sử của họ. Lu-ca ghi chép những nhân vật lịch sử để chứng tỏ rằng những gì ông ghi chép là sự thật lịch sử đáng tin cậy chứ không phải là những chuyện hoang đường, huyền thoại.
Một số người ngày nay (những học giả tự do “Liberal”) cho rằng các sách Phúc Aâm là huyền thoại, không phải sự thật lịch sử, có nhiều sai lầm.
- Giăng Báp-tít được Đức Chúa Trời kêu gọi và Lời Ngài truyền bảo ông thi hành chức vụ. c. 2--3
- Phép báp-tem của Giăng có mục đích đem người ta đến chỗ ăn năn, thay đổi quan điểm sống để chuẩn bị lòng đón tiếp Chúa Cứu Thế. Hình thức Phép báp-tem của Giăng giống như hình thức thi hành phép báp-tem của Chúa Giê-su, tức là nhận chìm người xuống nước; nhưng ý nghĩa và mục đích thì khác nhau.
- Giăng Báp-tít là người tiền phong, mở đường như vị quan tiền hô đi trước dẹp đường cho phái đoàn của vua ngự đến một địa phương nào đó. Giăng Báp-tít đến rao truyền sứ điệp ăn năn, chuẩn bị lòng người Do Thái để họ sẵn sàng đón tiếp Đấng Mê-si-a, tức là Chúa Cứu Thế đến.
- Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài làm phép báp-tem nhân danh Chúa Giê-su (Công Vụ 19:1-5); Chúa Giê-su làm phép báp-tem cho người ta bằng Đức Thánh Linh và lửa. Người tin Ngài và nhận phép báp-tem sẽ được Đức Thánh Linh ngự vào lòng (Ga-la-ti 3:2), thanh tẩy người đó trở thành tinh sạch trước mặt Đức Chúa Trời và bảo vệ người đó khỏi bị lửa phán xét hủy diệt. Phép báp-tem của Giăng dẫn người ta đến sự ăn năn và để sẵn sàng tin nhận Chúa Cứu Thế (Công Vụ 19:1-5).
- Một người thật lòng ăn năn sẽ thay đổi từ ích kỷ, gian ác thành rộng lượng, nhân từ; từ tham gian trở thành ngay thẳng; từ độc ác, bạo tàn thành hiền hòa và tấm lòng mềm mại, mở rộng để tin nhận Chúa Cứu Thế.
- Ngày nay một số người Công giáo và một số ít người Tin Lành cho rằng họ được ơn nhiều là vì họ “đạo dòng” nhiều đời. Nhưng đây là một quan điểm sai lầm của người Do Thái thời xưa lẫn người theo đạo Chúa ngày nay. Giăng Báp-tít cũng như Kinh Thánh cho thấy một người được cứu rỗi là nhờ đức tin của mình nơi Chúa Cứu Thế chứ không phải vì mình là “đạo dòng.”
- Giăng muốn cho người ta thấy rằng cơ hội hay ân huệ của Chúa đang hiện diện và Chúa Cứu Thế đang đến, nhưng cũng sẽ có sự phán xét cho những người không ăn năn hối cãi.
- Chúa Cứu Thế có quyền năng hơn Giăng; Chúa Cứu Thế làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh và Chúa Cứu Thế là Đấng phán xét tối hậu; Giăng chỉ là một vị tiên tri cảnh cáo dân chúng.
- Giăng Báp-tít là một tiên tri can đảm, dám dạy dỗ và dám sống theo đạo đức của Chúa trong một xã hội sa đọa, tội lỗi dù phải trả bằng sự tù đày và bằng mạng sống của mình.
- Giăng là một người thành thật, thật sự khiêm nhường và thuận phục Đức Chúa Trời. Oâng vui lòng chấp nhận chức vụ và vai trò cũng như vị trí của mình trước mặt Chúa cũng như không ngần ngại công nhận vai trò và chức vụ tiền phong, chuẩn bị đó dù Giăng được rất nhiều người ngưỡng mộ và cho rằng ông là Đấng Mê-si-a của họ.
Ngày nay chúng ta có bằng lòng làm những công việc của Chúa mà không được nhiều người biết, thấy và khen ngợi không?
- Ngày nay mạng lệnh vĩ đại của Chúa Giê-su (Mat 28:18-20) đòi hỏi chúng ta phải truyền giảng Phúc Âm và trang bị muôn người làm môn đệ Chúa để chuẩn bị đón Chúa Cứu Thế tái lâm.
Bài 5.
- Phép báp-tem của giăng Báp-tít là phép báp-tem ăn năn, có mục đích cảnh tỉnh lòng người để sẵn sàng đón tiếp và tin Chúa Cứu Thế.
Phép báp-tem những người tin Chúa giê-su nhận ngày nay là để vâng lời Chúa (Ma-thi-ơ 28:18-20), bày tỏ niềm tin của mình trong Chúa Giê-su, công khai tuyên xưng rằng mình đồng chết với Chúa và đồng sống lại với Chúa trong một đời sống mới. (Rô-ma 6:1-11)
- Không, Chúa Giê-su là người hoàn toàn vô tội; Ngài không cần ăn năn tội (Giăng 8:46; 2 Cô 5:21; Hê 4:25; 1 Phê 2:22).
- Chúa Giê-su bảo Giăng làm phép báp-tem cho Ngài là vì:
a. Ngài muốn đồng hóa với nhân loại tội lỗi, cần ăn năn.
b. Ngài công nhận sứ điệp và phép bap-tem của Giăng là do Đức Chúa Trời truyền.
c. Để chứng tỏ rằng Ngài là Đấng Cứu Thế để cứu rỗi nhân loại qua việc Chúa Thánh Linh giáng xuống trên Ngài.
- Không phải, đây là một tà giáo sai lầm. Chúa Giê-su là Đấng Hằng Hữu (Giăng 8:58). Ngài là Ngôi Lời từ vĩnh cửu (Giăng 1:1). Ngài là Chúa Cứu Thế , Đấng đầu tiên và cuối cùng , Đấng đời đời (Khải 22:12-13).
- Chúa Giê-su được hoài thai bời Đức Thánh Linh vì thế Đức thánh Linh ở với ngài từ ngày đầu tiên khi Ngài trở thành người. (Mat 1;20; Lu 1:35)
- Chúa Thánh Linh ngự xuống trên Ngài như hình chim bồ câu biểu tượng cho việc xác nhận Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời và chức vụ mà Ngài sắp bắt đầu thi hành. Đức Thánh Linh giáng xuống cũng là biểu hiệu cho quyền năng thiêng liêng của Đức Chúa trời vận hành trong Chúa Giê-su và Ngài hành động bởi quyền năng của Chúa Thánh Linh. (Công vụ 1:8 và 2:1-4)
- Chúa Giê-su cầu nguyện khi nhận lễ báp-tem để bắt đầu chức vụ cứu rỗi nhân loại cho chúng ta thấy Chúa Giê-su có một mối tương giao thân cận và gần gũi với Đức Chúa Cha. Ngài đã nương cậy và tùy thuộc vào mối liên hệ và quyền năng của Đức Chúa Cha để thi hành công vụ của mình.
Ngày nay nếu chúng ta muốn sống cho Chúa và làm công việc cứu rỗi của Chúa chúng ta không thể nào thiếu sự cầu nguyện với Chúa một cách cá nhân lẫn tập thể như một hội thánh, như dân Chúa.
- Cả ba tác giả đều ghi nhận lời nói từ trời chứng tỏ họ tin rằng đây là sự công nhận và khen thưởng của Đức Chúa Trời về Chúa Cứu Thế và công vụ của Ngài.
- Đức Chúa Trời xác nhận rằng Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời, là Chúa Cứu Thế của nhân loại. Ngoài ra Chúa Cha cũng xác nhận đời sống toàn hảo của Chúa Giê-su và sự tận hiến đời sống để thi hành, để phục vụ ý chỉ, chương trình của Đức Chúa Cha là điều hoàn toàn đẹp ý Ngài.
- Chúa Giê-su đã sống một cuộc đời toàn hảo từ khi sinh ra cho đến lúc tận hiến để bắt đầu chức vụ công khai. Việc hoàn toàn thuận phục và tận hiến để thi hành chức vụ Chúa Cha giao phó là điều làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
- Ngày nay chúng ta không thể sống toàn hảo, vô tội như Chúa Giê-su nhưng chúng ta có thể sống đẹp lòng Chúa bởi đức tin (Hê-bơ-rơ 11:6) và tận hiến đời sống làm theo chương trình của Ngài như Chúa Giê-su đã làm.
Bài 6.
- Lu-ca muốn nhấn mạnh đến điểm gia phả theo pháp lý chứ Chúa Giê-su không phải là con ruột của Giô-xép. Ngoài ra Lu-ca đã ghi lại sự hoài thai và giáng sinh siêu nhiên của Chúa Giê-su do nữ đồng trinh Ma-ry, nên đây chỉ là cách người ta hiểu thông thường về Chúa Giê-su.
- Cả hai gia phả đều đúng mặc dù có nhiều tên khác nhau vì tác giả chỉ chọn ghi tên những người tiêu biểu, không phải danh sách của tất cả tổ tiên. Ngoài ra vấn đề hôn nhân thừa kế (levirage marriage) của người Do Thái sẽ giải tỏa những điểm khác biệt như Giô-sép là con của Hê-li (Lu-ca) và Giô-sép là con của Gia-cốp (Mat). Có thể Gia-cốp là người anh không con trai và em là Hê-li lấy chị dâu sinh Giô-sép vì thế theo pháp lý Giô-sép là con của Gia-cốp.
- Lu-ca muốn nhấn mạnh đến những điều như “con của Aùp-ra-ham là con của đức tin và giao ước; “con của Đa-vít” nói lên dòng dõi hoàng tộc, có quyền nối ngôi vua một cách hợp pháp và chính thống; con A-đam, tức là loài người nói chung; Con Đức Chúa Trời nói đến sự liên hệ đặc thù của Chúa Cứu Thế và Đức Chúa Cha.
- Những sự cám dỗ đều là sự kiện thật đã xảy ra cho Chúa Giê-su như nhịn đói và “đói” không thể là tưởng tượng. Nếu nói rằng “đói” tưởng tượng thì sự cám dỗ cũng chỉ là một sự tưởng tượng , không có thật. Cả ba tác giả ghi lại cuộc cám dỗ đều không có chỗ nào cho thấy họ ghi lại một sự tưởng tượng.
- Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời nhưng Ngài cũng là một con người hoàn toàn, biết đói, khát, buồn vui... Vì thế Chúa Giê-su cũng chịu cám dỗ như một người và sự cám dỗ đó là một kinh nghiệm thật cho nên Chúa hiểu và cảm thông với những cám dỗ của loài người. Điểm kế nữa là Chúa Giê-su là con người như A-đam nhưng khi A-đam thất bại thì Chúa Giê-su toàn thắng cám dỗ và vì thế có thể giúp đỡ con cái Ngài chiến thắng cám dỗ của ma quỉ. (Hê 2:18; 4:15)
- Chúa Giê-su bị cám dỗ trong khi Ngài đang bị đói khát, rất yếu về thể xác. Điều này tương phản với điều kiện mà A-đam, con người đầu tiên, đang ở trong tình trạng đầy đủ, mạnh khỏe.
- Sa-tan muốn cám dỗ Chúa Giê-su dùng quyền phép siêu nhiên để thỏa mãn nhu cầu thể xác và như thế là không tin cậy vào sự chu cấp, chăm sóc của Đức Chúa Cha. Ngoài ra nếu Chúa Giê-su không chịu nổi cơn đói và phải dùng quyền năng siêu nhiên để giải tỏa nạn đó thì Ngài làm sao có thể chịu nổi “thập tự giá” để cứu rỗi nhân loại.
- Đời sống toàn diện và sung mãn của con người gồm cả nhu cầu vật chất lẫn tâm linh và Lời Chúa là nhu cầu của tâm linh không thể thiếu của một đời sống đựơc cứu rỗi hay sự sống vĩnh phúc.
- Đây là quan điểm hoàn toàn phàm tục, chỉ thấy nhu cầu vật chất nơi con người mà không thấy nhu cầu và phương diện tâm linh và vĩnh cửu trong đời sống.
Chúa Giê-su cho thấy con người cần cả hai nhu cầu, vật chất lẫn tâm linh; cơm gạo lẫn Lời Chúa. Vì thế thờ phượng và học hỏi Lời Chúa là một phần trong đời sống một người.
- Sự cám dỗ thứ hai nói đến thái độ qui phục quỉ vương thay vì để Đức Chúa Trời tể trị trong đời sống chúng ta để đạt được một số thành công trong đời.
- Trong thế giới hiện nay, thỏa hiệp để thành công, để đạt được một số lợi lộc (danh, quyền, tiền bạc) là những cám dỗ tế nhị và sâu hiểm nhất vì nhiều người vẫn giữ những hình thức tôn giá nhưng không vâng phục ý chỉ và đường lối của Chúa nhưng hành động theo thế gian.
Hãy để Chúa là Chủ tể đời sống mình, thờ phượng và phục vụ một mình Đức Chúa Trời mà thôi.
- Sự cám dỗ thứ ba là đòi hỏi Chúa làm phép lạ để bảo vệ mình dù mình cố ý làm điều sai và thách thức, không tin cậy sự cham sóc, lời hứa của Chúa.
- Chúa đã dùng Lời Đức Chúa Trời để chống tả cám dỗ và ma quỉ. Sống và vâng phục Lời Chúa hay những nguyên lý của Lời Chúa là biện pháp an toàn để tránh và chiến thắng cám dỗ.
- Dùng hay trích Kinh Thánh theo ý riêng sẽ làm trái ý Chúa. Hiểu đúng ý nghĩa và áp dụng đúng mới là làm theo Ý Chúa.
- Phải nghiên cứu, học hỏi Kinh Thánh để có thể hiểu đúng và áp dụng đúng cũng như chỉ ra và bài bác những sai lầm, tà giáo.
Bài 7.
- Lu-ca cho thấy Đức Giê-su chính là Con Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Thế vì Ngài luôn luôn có Chúa Thánh Linh ở cũng. Ngoài ra Lu-ca nhấn mạnh đến công việc của Chúa Thánh Linh vì ngay cả Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời cũng thi hành chức vụ của Ngài bởi quyền năng của Đức Thánh Linh. Sau này trong Công Vụ Các Sứ Đồ Lu-ca cũng cho thấy sự hoạt động của Chúa Thánh Linh trong sự thiết lập hội thánh.
- Người ta ca ngợi Chúa Giê-su về các phép lạ Ngài thi hành và cũng ca ngợi cách dạy dỗ của Ngài.
- Lu-ca cho thấy Chúa Giê-su có thói quen thờ phượng, học hỏi Lời Chúa tại hội đường. Người Do Thái có ba buổi thờ phượng tại hội đường vào ngày Sa-bát (thứ Bảy ), thứ Hai, Thứ Năm và các ngày lễ. Ngoài ra Ngài được mời để giảng tại hội đường chứng tỏ rằng Ngài là người được coi là người sùng kính Chúa, đủ điều kiện và tiêu chuẩn để giảng dạy Kinh Thánh.
- Đoạn Kinh Thánh I-sa 61:1-2 và 58:6 nói về vị Đầy Tớ của Chúa, một vị tiên tri sẽ đến. Một số người cho rằng đoạn này cũng nói về Đấng Mê-si-a của họ. Chúa Giê-su tuyên bố rằng đoạn Kinh Thánh này ứng nghiệm trên chính Ngài.
- Những người Do Thái trong hội đường Na-xa-rét hiểu rõ đoạn Kinh Thánh trên nói về một đấng tiên tri hay Mê-si-a của họ nhưng câu hỏi “Oâng này không phải là con của Giô-sép sao” chứng tỏ rằng họ không chấp nhận lời tuyên bố của Chúa Giê-su về sự ứng nghiệm của đọan Kinh Thánh trên cho Ngài.
Vì câu hỏi trên có ý nói rằng :’phải, người này là con của Giô-xép trong làng đây mà.’
- Những người Do Thái tại Na-xa-rét không chấp nhận rằng Chúa Giê-su chính là đấng tiên tri mà sách I-sa nói đến trong đoạn Kinh Thánh trên. Lý do gần nhất là họ tưởng rằng họ biết rõ lai lịch, gia cảnh của Chúa Giê-su. Trong suốt 30 năm ngài sống tại đó như một người bình thường trong làngï. Một lý do khác có thể là không có chỗ nào trong Kinh Thánh nói Đấng Cứu Thế hay Mê-si-a đến từ Na-xa-rét như Na-tha-na-ên đã nói (Giăng 1:46): Có gì tốt ra từ Na-xa-rét đâu?
- Những người ở Na-xa-rét cho rằng họ biết rõ Chúa Giê-su nhưng sự thật họ không biết rõ và đúng về nguồn gốc siêu nhiên của Ngài. Họ không chịu bỏ công tìm hiểu cho cặn kẻ, chính xác. Những người Do Thái tại đây chỉ việc hỏi bà Ma-ri, mẹ Ngài thì họ sẽ biết rõ rằng Ngài không phải là con ông Giô-sép và rằng Ngài được sinh ra ở Bết-lê-hem xứ Giu-đê, đúng như Kinh Thánh đã tiên báo. Lu-ca là một người ngoại quốc thuộc thế hệ sau nhưng ông đã bỏ công tìm hiểu, “tra cứu chính xác mọi việc từ ban đầu.” Người Do Thái có thành kiến, không thật lòng khao khát tìm hiểu sự thật nên họ đã lầm lẫn, tin sai đưa đến hậu quả từ khước Đấng Cứu Thế của Chúa.
- Chúa Giê-su không thể làm nhiều phép lạ tại Na-xa-rét vì dân chúng không tin Ngài là Chúa Cứu Thế Đức chúa Trời sai đến.
- Chúa Giê-su muốn nói đến thực trạng tội lỗi bất trung của dân chúng thời tiên tri Ê-li làm cho ân phúc của Đức Chúa Trời không đến được với họ. Ngoài ra Đức Chúa Trời sẵn lòng ban ân phúc cho tất cả nhân loại, không phân biệt người Do Thái hay người ngoại quốc. Khi người Do Thái không sống đẹp lòng Chúa, không chấp nhận tiên tri của Chúa thì Ngài dùng các tiên tri ban ân phúc cho người ngoại.
Đó là điều các tiên tri trước kia đã làm và Chúa Giê-su cũng sẽ làm. Thật ra sau này Phao-lô cũng làm như vậy.(Công 28:25-28).
- Những người Do Thái tại Na-xa-rét nổi giận vì Chúa Giê-su cho rằng Đức Chúa Trời thương yêu và cứu giúp người ngọai quốc tội lỗi hơn họ. Họ định xô Chúa Giê-su xuống vách đá cao và ném đá cho chết. Đó là cách người ta thường làm vào thời đó.
- Nếu Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời Toàn Năng còn cần quyền năng của Đức Thánh Linh để thi hành chức vụ của Ngài thì chúng ta còn cần quyền năng của Đức Thánh Linh hơn nữa để làm công việc của Đức Chúa Trời.
- Công vụ 1:8 Chúa Giê-su hứa : “Các con sẽ nhận lãnh quyền năng khi Đức Thánh Linh đến trên các con.” Phao-lô dạy :Hãy hết lòng cầu nguyện, nài xin; trong mọi trường hợp, hãy nhờ Thánh Linh mà cầu nguyện.” Êph 6:18-20
- Không, Chúa Giê-su vẫn bị chống đối, từ khước. Vì người ta yêu bóng tối hơn ánh sáng và chân lý.
- Chúa Giê-su dạy sự thật, Ngài khen ngợi, khuyến khích người làm đúng nhưng cũng nói lên sự thật. Hội thánh của Chúa cũng phải dạy sự thật của chúa và như Chúa đã làm.
Bài 8.
- Chúa Giê-su đến hội đường để thờ phượng và dạy dỗ.
- Vì theo Lu-ca 4:16 Chúa Giê-su đã đi đến hội đường để thờ phượng Chúa và học hỏi Kinh Thánh từ nhỏ. Khi Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ công khai Ngài đã 30 tuổi (Lu-ca 3:23). Vì vậy Ngài được coi như người sùng kính Đức Chúa Trời và đủ điều kiện giảng dạy trong hội đường Do Thái giáo.
- Có hay lý do Chúa không muốn ma quỉ loan truyền về Ngài cho dân chúng:
a. Ma quỉ là những nhân vật ác, gian dối, là tổ của nói dối, giả mạo vì thế sự công nhận của chúng không phải là một điều tốt đẹp trái lại sẽ tạo trong dân chúng một ấn tượng và hiểu lầm rằng Chúa Giê-su có liên hệ với ma quỉ.
b. Chúa Giê-su cũng không cho phép các môn đệ Ngài tiết lộ về bản chất thật của Ngài vì chưa đến lúc và sự loan báo rằng Ngài là Chúa Cứu Thế, là đấng Mê-si-a của người Do Thái có thể sẽ khuấy động dân chúng nổi dậy chống chính quyền La Mã vì họ cho rằng vị vua cứu tinh củ a họ đã đến. Người Do Thái đang mong đợi một vị cứu tinh chính trị đến giải thoát họ ra khỏi ách đô hộ của La Mã. Chúa Giê-su đến để giải thoát con người ra khỏi tội lỗi.
- Chúa Giê-su không giống những thầy pháp, thầy phù thủy thời bấy giờ ở nhiều điểm. Ngài không dùng một vật bùa phép hay thần thông nào cả. Chúa cũng không dùng một lời thần chú hay bài kinh gì để đọc hay tụng trong khi chữa bệnh. Chúa Giê-su trong đa số các trường hợp chỉ phán một vài lời để chữa bệnh. Chúa Giê-su đuổi quỉ cho những người bị quỉ ám và chữa bệnh cho những người bị bệnh; Ngài không dùng một cách cho cả hai vấn đề khác nhau.
- Huyền thoại thường được xây dựng qua một thời gian lâu dài, có thể là cả trăm năm. Những câu chuyện Kinh Thánh đặc biệt là bốn sách Phúc Aâm được ghi chép ngay trong thế hệ của Chúa. Mẹ và các môn đệ của Chúa Giê-su đều còn sống; nhiều người Do Thái đồng thời với Chúa Giê-su và không tin nhận Chúa cũng còn đó. Cho nên những người nghe hay đọc sách Phúc Aâm có thể phối kiểm với nhiều nhân chứng để biết sự thật. Lu-ca ngay trong đầu sách Phúc Aâm Lu-ca cũng đã nói rõ rằng ông đã tra cứu cẩn thận những điều ông ghi chép để trình bày cho Thê-ô-phi-lơ, một vị quan, để biết rõ sự thật. Ngoài ra một số người nghĩ rằng thời cổ mới có những chuyện đuổi quỉ. Nhưng hiện nay ngay trong các xãhội tân tiến, khoa học người ta cũng không thể phủ nhận nhiều hiện tượng bị quỉ ám đã xảy ra.
- Ngày nay một số người vẫn còn chịu ảnh hưởng của thời thịnh hành và độc tôn của khoa học thực nghiệm vào thế kỷ 19 và 20. Những người này cho rằng chỉ có những điều gì được khoa học thực nghiệm chứng minh thì mới có thật. Nhưng khoa học thực nghiệm chỉ có thể xác nhận và chứng minh những biến cố và dữ kiện có thể lập lại. Trên thế giới có nhiều vấn đề và phạm trù không thể lập lại và không thể nhận thấy bằng giác quan thể xác. Khoa học thực nghiệm không thể giải đáp vấn đề nguồn gốc của sự sống; ý nghĩa của sự vật và vô số hiện tượng siêu nhiên.
Những người theo chủ thuyết duy lý, khoa học thực nghiệm và vô thần thì không tin có ma quỉ và phép lạ siêu nhiên. Nhưng đây chỉ là quan niệm giới hạn, hẹp hòi của một số người. Ngày nay có rất nhiều khoa học gia, đại trí thức tin tưởng hoàn toàn vào khoa học thực nghiệm nhưng cũng tin vào một Đấng Tạo Hóa toàn năng, toàn tri sáng tạo vũ trụ và một thế giới siêu hình mà lý trí con người chưa thể hiểu hết được. Không hiểu nổi thế giới siêu nhiên không có nghĩa là thế giới đó không hiện hữu.
- Lu-ca là một bác sĩ, Ma-thi-ơ là một công chức thuế vụ, Phao-lô là một người trí thức thời ấy. Tất cả những người này đã chứng tỏ là những người yêu sự thật và đã chết cho sự thật vì thế những gì những người này ghi chép là sự thật. Ngoài ra chúng ta có Chúa Giê-su là một người thể hiện cho sự thật và chân lý xác nhận sự thực hữu của ma quỉ và phép lạ vì thế chúng ta có thể tin tưởng rằng ma quỉ là có thật và phép lạ có thể xảy ra.
- Lu-ca là một bác sĩ cho nên ông hiểu rõ bệnh tật và ghi là bệnh. Ngoài ra Lu-ca cũng ghi rõ nhiều bệnh tật khác nhau, không mơ hồ. Lu-ca cũng phân biệt người bị quỉ ám khác với người mắc bệnh.
- Chúa Giê-su bắt đầu một ngày làm việc bằng sự cầu nguyện nơi thanh vắng.
- Chúa đến là để “truyền giảng Phúc Aâm về Nước Đức Chúa Trời.”
- Mục đích của tín hữu cũng như hội thánh nằm trong mạng lệnh cuối cùng của Chúa Mat 28:18-20
- Chúng ta phải cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa. Chúng ta phải dạy Lời Chúa, giảng Phúc Aâm và làm những công tác giúp đỡ, giải thoát con người ra khỏi những đau khổ thể xác lẫn tinh thần.
Bài 9.
- Lời Đức Chúa Trời gồm có Cựu Ước và Tân Ước (gồm những lời dạy của Chúa Giê-su và các sứ đồ).
- Trong câu chuyện này, việc chính của Chúa Giê-su là dạy Lời Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su đã làm phép lạ cho Phê-rơ và các bạn của ông để kêu gọi họ theo Ngài.
- Phê-rơ là người đánh cá chuyên nghiệp ở vùng đó. Oâng và các bạn vừa đánh cá suốt đêm nhưng không có gì. Chúa Giê-su là một rabbi (người dạy đạo) và có thể Phê-rơ cũng biết qua về Chúa Giê-su là người thợ mộc ở Na-xa-rét. Những điều Chúa Giê-su bảo Phê-rơ đều trái với sự hiểu biết chuyên môn của ông; đánh cá ban đêm có nhiều cá hơn ban ngày. Vì vậy Phê-rơ có vẻ trách móc Chúa bảo làm một điều không hợp lý lắm, tuy nhiên ông cũng cả nể mà vâng lời.
- Những người đánhh cá chuyên nghiệp này kinh ngạc và nhận ra ngay đây là một phép lạ vượt ra ngoài sự hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp của họ.
- Phê-rơ thấy Chúa Giê-su có sự hiểu biết và thẩm quyển siêu nhiên và là Đấng thánh. Chúa có thể hướng dẫn họ thành công vượt bực ngay trong nghề chuyên môn của họ.
- Phê-rơ thấy Chúa Giê-su biết và hướng dẫn đúng; cọng thêm với những lời dạy dỗ đầy quyền năng nên Ngài là đấng thánh. Phê-rơ nhận thức rằng mình suy nghĩ và hiểu biết sai; điều này dẫn đến sự ý thức sâu xa về đời sống tội lỗi của mình trước mặt Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.
- Phê-rơ và các bạn dù không hiểu rõ và có thể không hoàn toàn đồng ý với mạng lệnh đi đánh cá ban ngày của Chúa Giê-su nhưng họ đã vâng lời nên phép lạ đã xảy ra. Những người Na-xa-rét không tin và không vâng lời nên Chúa Giê-su đã không làm được nhiều phép lạ tại đó.
- Phê-rơ và các người bạn của ông cho thấy họ thành thật với chính họ nên thấy rõ tình trạng tội lỗi của mình; họ khiêm nhường xưng nhận tội lỗi và ăn năn; họ có tấm lòng mềm mại, cởi mở sẵn sàng vâng lời Chúa.
- Phê-rơ, Gia-cơ và Giăng đã rời bỏ nghề đánh cá của mình để theo làm môn đệ Chúa đi làm người đánh lưới cứu rỗi tội nhân.
- Lu-ca ghi chép câu chuyện này để chúng ta thấy Chúa Giê-su là Đấng có thẩm quyền siêu nhiên; Ngài là Đấng Thánh và Ngài biết rõ tình trạng tội lỗi của con người nhưng Ngài vẫn tìm cách đến và hướng dẫn con người ra khỏi tình trạng tội lỗi để theo Ngài, tham gia với Ngài trong công tác cứu rỗi nhân loại tội lỗi hư mất.
- Qua câu chuyện này ân sủng cứu rỗi của Đức Chúa Trời được thể hiện trong Con Ngài, tức là Chúa Giê-su. Đức Chúa Trời là Đấng đem sự cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế đến cho nhân loại tội lỗi, chứ không phải loài người tìm kiếm Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su biết con người là tội lỗi nhưng Ngài vẫn tìm cách đến với con người để cứu rỗi và sử dụng họ trong chương trình cứu rỗi nhân loại củ a Ngài. Người nhận được ân sủng cứu rỗi và được Chúa sử dụng là những người đáp ứng lại lời kêu gọi của Chúa bằng đức tin và vâng lời.
- Lu-ca đã ghi chép những sự kiện khác hoàn toàn đúng với bằng chứng lịch sử và chứng tỏ ông là một nhà nghiên cứu cẩn thận, chân thật. Ngoài ra các chi tiết của câu chuyện cho thấy đây là một câu chuyện thật phù hợp với mục đích của Lu-ca khi ghi lại Phúc Âm của ông.
- Chúa Giê-su là Chân Lý nên biết đúng Chúa Giê-su sẽ giúp một người thấy rõ thực trạng tội lỗi của mình; thấy rõ quyền năng cao cả và chủ tể của Ngài; thấy sự nhân từ và tình thương củ a Ngài nên sẽ dễ dàng xưng nhận tội lỗi, ăn năn hối cải những sai lầm, tội lỗi.
- Khi thật lòng đáp ứng lại lời kêu gọi của Chúa thì thái độ, hành động và mục đích sống hay lý tưởng của một người sẽ đổi mới theo ý chỉ của Đức Chúa Trời.
Bài 10.
- Chúa Giê-su đầy tình thương và sẵn lòng cứu giúp người đau khổ, cùng khốn và bị xã hội loài người ruồng bỏ.
- Chúa nêu gương cho chúng ta, là con dân Ngài phải sẵn lòng, đưa tay yêu thương ra để cứu vớt những người tội lỗi.
- Chúa muốn người được chữa lành chứng tỏ mình đã được lành và được nhận vào trong xã hội cộng đồng như tất cả những người bình thường khác.
- Chúa Giê-su tôn trọng và làm theo trọn Kinh Luật của Đức Chúa Trời.
- Qua các chỗ Lu-ca ghi lại việc cầu nguyện của Chúa , chúng ta thấy Chúa Giê-su coi việc cầu nguyện rất quan trọng và là một phần của đời sống hàng ngày vì thế Ngài để thì giờ cầu nguyện dù rất bận rộn với công việc. Chúa Giê-su không có quan điểm cho rằng cầu nguyện là việc phụ, khi nào rảnh rỗi thì làm; công việc giảng dạy, chữa bệnh mới là chính và quan trọng cần làm.
- Chúng ta cần để thì giờ cầu nguyện cho cá nhân lẫn tham gia cầu nguyện tại hội thánh nếu chúng ta muốn thấy đời sống cá nhân, gia đình mình được phước hạnh và công việc Chúa được phát triển.
- Lý do bận rộn là không chính đáng vì ai cũng chỉ có 24 giờ một ngày. Chúa Giê-su khi còn tại thế Ngài cũng chỉ có 24 giờ một ngày. Thật ra Chúa Giê-su chỉ có khoảng 33 năm sống trên đất để làm một công việc khó khăn, quan trọng và vĩ đại nhất nhưng Ngài cũng để thì giờ cầu nguyện với Đức Chúa Cha.
Lý do chúng ta không để thì giờ cầu nguyện vì chúng ta không cho rằng cầu nguyện là quan trọng và cần thiết cho đời sống và công việc của mình. Bạn vẫn có thể làm được nhiều việc thành công mà không cần cầu nguyện gì cả. Ngoài ra một lý do khác cũng làm cho nhiều người không muốn và không thấy cần cầu nguyện là vì đức tin và mối quan hệ của họ với Chúa rất hời hợt và nông cạn.
- Đức tin nơi Chúa Giê-su có thể chữa lành cho bạn mình và tình yêu thương bạn đã giúp họ không ngại khó khăn, trở ngại.
- Chúa thấy đức tin của họ. “Ngài thấy đức tin của họ.” (c. 20) nghĩa là đức tin của bốn người bạn và của người bệnh nữa.
- Vì những người này cho rằng Chúa Giê-su chỉ là một người thường; chỉ có Đức Chúa Trời mới có quyền tha thứ tội lỗi của con người.
- Chúa Giê-su dùng lời nói để truyền cho người bệnh được lành chứng tỏ lời nói của Ngài có quyền năng chứ không phải lời nói suông. Ngoài ra Chúa Giê-su cũng chứng tỏ rằng Lời nói của Ngài là thật và hiệu năng để chứng tỏ rằng Ngài cũng có thẩm quyền tha tội.
- Lu-ca ghi lại những điều này để chứng tỏ Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a, hay Chúa Cứu Thế được Đức Chúa Trời sai đến để cứu rỗi loài người. Lu-ca cho thấy Chúa Giê-su có sự hiểu biết siêu nhiên, Ngài thấy đức tin; Ngài biết tư tưởng trong lòng người ta; Ngài có quyền năng chữa lành bệnh tật và có thẩm quyền tha tội cho loài người.
- Chúa Giê-su có sự hiểu biết siêu nhiên, có quyền năng phục hồi sức khỏe, chữa lành mọi bệnh tật và có quyền tha tội cho con người. Chúa Giê-su có thần tính mà các giáo chủ khác không có vì họ chỉ là người.
- Nếu bạn là một con dân của Chúa và đã được sinh lại bạn sẽ có lòng thương những người đang chết mất trong tội lỗi và sẽ bị chết mất đời đời nơi hỏa ngục.
- Chúng ta nên cố gắng đem họ đến với Chúa Giê-su để được cứu rỗi.
Chúng ta có thể chia xẻ Phúc Aâm cho họ.
Mời đến nhà dự những buổi học Kinh Thánh, cầu nguyện.
Mời họ đến nhà thờ trong những dịp đặc biệt để nghe Lời Chúa.
Bài 11.
- Hành động đi theo Chúa của ông Lê-vi bao gồm việc tin Chúa, từ bỏ công việc thu thuế, từ bỏ mọi sự để đi theo làm môn đệ Chúa.
- Lê-vi không những muốn tiếp đón và tôn trọng Chúa nhưng ông cũng hân hoan cử hành dịp vui cứu rỗi và trở thành môn đệ của Chúa; ông cũng mời bạn bè cũ đến giới thiệu với Chúa Cứu Thế.
- Vì họ cho rằng họ là những người thánh thiện, giữ theo những nghi lễ và giáo điều. Tiếp xúc và giao thiệp với những người tội lỗi sẽ lây tội lỗi và ô uế. Ngoài ra những người Pha-ri-si khinh bỉ và không muốn giao thiệp với những người mà xã hội khinh khi và coi là tội lỗi.
- Không, Chúa tiếp xúc và dự tiệc với họ để đem họ về với chân lý cứu rỗi. Ngài nói rõ Ngài đến để đem tội nhân trở về ăn năn vì thế Ngài không công nhận, hay hưởng ứng, ủng hộ lối sống và hành động của họ. Tiếp xúc, giao thiệp không có nghĩa là thỏa thuận hay hưởng ứng.
- Chúa Giê-su xem những người thu thuế và những người tội lỗi như là nững người bị bện tật tâm linh, cần được cứu giúp, chữa trị chứ không phải để khinh bỉ, xét đóan và lên án.
- Chúa Giê-su xem những người thu thuế và tội lỗi là những người đáng thương chứ không phải đáng khinh. Chúa đến với tội nhân để cứu vớt họ chứ không phải ruồng bỏ họ.
Tiếp xúc, giao thiệp với những người tội lỗi không làm cho mình tội lỗi. Vì tội lỗi xuất phát từ trong lòng. Ngoài ra những người Pha-ri-si cũng là những ngườ I tội lỗi nhưng họ không nhận thấy điều đó trước mặt Chúa mà thôi.
- Tín hữu và hội thánh phải sống trong xã hội, phải tiếp xúc, giao thiệp với tất cả mọi người trên bình diện con người và xã hội.
Chúng ta không tham gia những hành động tội lỗi và trái với Kinh Thánh nhưng sẵn sàng tham gia vào những hoạt động từ thiện, xã hội, văn nghệ, thể thao v.v.
- Chúa Giê-su chấp nhận việc kiêng ăn thời ấy nhưng không quan niệm lập luật lệ ràng buộc việc kiêng ăn. Cuộc đời của Chúa và các môn đệ cho thấy quan điểm đó. Người ta có thể kiêng ăn khi cần và muốn để cầu nguyện với Đức Chúa Cha nhưng kiêng ăn không phải là một việc làm để chứng tỏ ta đây thiêng liêng.
- Chúa muốn nói đến việc Chúa bị chết.
- Những người tu ép xác, khổ hạnh là những người chủ trương tạo việc thiện và đạo đức. Những người làm và quan niệm như thế là những người câu nệ luật lệ và dựa vào năng lực đạo đức cá nhân để thánh thiện. Chúng ta được cứu rỗi bởi ân huệ và do đức tin. Chúng ta được thánh hóa cũng do đức tin và quyền năng của Chúa Thánh Linh chứ không phải làm theo luật lệ tu hành, ép xác, khổ hạnh.
- Cơ Đốc giáo không phải là Do Thái giáo cải cách nhưng là một con đường mới trong Chúa Cứu Thế dù Cơ Đốc giáo cũng đến từ một gốc là Đức Chúa Trời và Kinh Thánh.
- Các tôn giáo đều có những điểm tốt và giá trị về phương diện đạo đức mà thôi nhưng về phương diện cứu rỗi và tâm linh Chúa Cứu Thế Giê-su là Chân Lý và chỉ có một Đức Chúa Trời và một con đường cứu rỗi, đó là Chúa Cứu Thế Giê-su. Công Vụ 4:12
- Không, chúng ta vẫn có thể giữ những truyền thống tốt đẹp nếu chúng không vi phạm đến những giáo lý, niềm tin của chúng ta. Chúa muốn cứu rỗi chúng ta là những người Việt nam chứ không có ý định biến chúng ta thành một người thuộc dân tộc nào khác.
- Người tín hữu của Chúa Cứu Thế đặt niềm tin và sự sống của mình trên Kinh Thánh và giáo lý vì thế chúng ta cũng dùng Kinh Thánh và giáo lý để làm nền tảng, tiêu chuẩn cho mọi hành động, quyết định của mình.
- Niềm tin cũ của đa số chúng ta bị ảnh hưởng của tam giáo, Phật, Khổng, Lão giáo vì thế nếu theo niềm tin cũ chúng ta không thể tin theo Chúa Cứu Thế được. Đức Chúa Trời đòi hỏi chỉ tin một mình Ngài mà thôi (Mười Điều Răn). Còn vấn đề đạo đức và truyền thống thì chúng ta có thể vẫn giữ những truyền thống tốt đẹp, không trái với kinh Thánh và niềm tin của chúng ta.
Bài 12.
- Họ đã theo dõi Chúa và các môn đệ Ngài từ ngoài đồng đến trong hội đường và âm mưu tìm bằng chứng để tố cáo Chúa.
- Chúa Giê-su dùng ngay Kinh Thánh về hàn động của vua Đa-vít trong ngày Sa-bát để biện minh.
- Kinh Thánh không có chỗ nào lên án hành động trên của Đa-vít (dù Kinh Thánh có nói đến và lên án tội tà dâm, giết người của vua Đa-vít). Như thế chúng ta phải hiểu rằng luật của Chúa có cho phép ngoại lệ và nhu cầu sự sống quan trọng hơn vấn đề giữ luật lệ.
- Theo những qui luật của người Pha-ri-si đặt thêm ra để giữ ngày sa-bát thì các môn đệ đã vi phạm việc gặt lúa, đập lúa, sàng sảy và chuẩn bị thức ăn.
- Người Pha-ri-si đã hiểu sai ý nghĩa và mục đích của luật Sa-bát. Luật đặt ra là để giúp ích, để bảo vệ đời sống vì thế áp dụng luật mà làm hại đời sống là làm sai luật. Sự sống của con người là quan trọng hơn vấn đề giữ luật. Câu nệ luật lệ là một điều sai lầm, tội lỗi.
- Chúa Giê-su và các môn đệ không vi phạm luật ngày Sa-bát của Đức Chúa Trời vì họ hành động trong tinh thần luật cho phép. Trái lại Chúa Giê-su và các môn đệ vi phạm những qui luật của người Do Thái đặt ra để bảo vệ ngày Sa-bát.
- Chúa Giê-su biết hành động theo dõi và âm mưu của người Pha-ri-si nhưng Ngài vẫn chữa lành người liệt tay trong ngày Sa-bát vì Ngài bắt đầu dạy về thời đại mới và con đường mới của Ngài mà Ngài đã nói đến trong ngụ ngôn trước đây (5:36-39).
- Chúa lập ra luật ngày sa-bát là để giúp loài người bảo tồn, phục hồi sức sống cho con người.
- Vì Chúa Giê-su làm đúng theo tinh thần luật Sa-bát, tức là tình thương và nhu cầu sống lành mạnh là quan trọng hơn luật lệ và luật lệ là để giúp con người làm điều lành chứ không phải để hại người. Ngoài ra dù Chúa Giê-su làm trái với những qui lệ của người Pha-ri-si đặt ra nhưng Ngài chữa lành bằng lời nói, không phải hành động nên người Pha-ri-si không có bằng cớ để tố cáo Ngài.
- Người liệt tay đã tin và vâng lời Chúa đưa tay lên nên được lành.
- Người Pha-ri-si tức giận và âm mưu giết Chúa Giê-su.
- Quan niệm này sai lầm vì nguyên lý giữ gìn và bảo vệ sự sống vẫn hiệu lực; dù chúng ta là những Cơ Đốc nhân, không phải theo giao ước của người Do Thái nhưng chúng ta cũng phải gìn giữ và bảo tồn sự sống Chúa ban. Người làm luôn bảy ngày là người tham lam, hủy hoại sức khỏe và thiếu lòng tôn kính thờ phượng Đấng Tạo Hóa, tức là thiếu sự sống tâm linh.
- Người có quan niệm như thế là người chưa có sự sống tâm linh. Con người ta không những có sự sống vật chất nhưng người tin Chúa có thêm sự sống tâm linh và thờ phượng Chúa là một phần của sự sống tâm linh. Tín hữu thờ phượng Chúa để gìn giữ và tăng trưởng mối liên hệ với Chúa. Đức Chúa Trời tìm kiếm người thờ phụng Ngài (Giăng 4:23-24).
- Tín hữu Chúa Giê-su không phải là người Do Thái nên không phải theo giao ước, luật lệ của người Do Thái; ngoài ra Cơ Đốc nhân vẫn giữ tinh thần của luật Sa-bát, tức là dùng ngày Chúa Nhật để nghỉ ngơi và thờ phượng Chúa.
- Một người phải được tái sinh, tâm trí được Đức Thánh Linh đổi mới và soi sáng mới có thể hiểu những vấn đề tâm linh sâu sắc của Kinh Thánh.(1Cô-rinh-tô 2:10-15) Ngoài ra chúng ta cũng cần có một tâm trí và tấm lòng cởi mở, không thành kiến thì mới dễ hiểu và tiếp nhận Lời Chúa.
Bài 13.
- Chúa Cứu Thế có một mối tương giao gần gũi với Đức Chúa Cha. Khi ở trong thân xác con người Chúa Cứu Thế cũng cần quyền năng siêu nhiên hay quyền năng thiêng liêng để sống và thi hành chức vụ của Cha giao phó.
- Vấn đề chọn lựa những môn đệ theo mình là một điều rất quan trọng trong tiến trình đào tạo môn đệ của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su cũng cần sự hướng dẫn thiên thượng của Đức Chúa Cha khi chọn lựa các Sứ Đồ.
- Chúng ta phải cầu nguyện, tìm kiếm ý Chúa cũng như những tiêu chuẩn thuộc linh của Chúa (1Tim 3:1-13; Tích 1:5-9) chứ không phải chỉ chọn theo tình cảm cá nhân, cá tính, khả năng hành chánh hay văn hóa...
- Chúa Giê-su đã chọn một số môn đệ thân tín lúc bắt đầu chức vụ và khi sắp về trời Ngài cũng truyền mạng lệnh cho những môn đệ này phải đào tạo môn đệ để làm cho cả thế giới trở thành môn đệ của Ngài. Như thế đào tạo một nhóm môn đệ để những môn đệ này cũng sinh ra những môn đệ khác cho Chúa là chiến lược toàn cầu của Chúa Giê-su.
- Chúa tuyển chọn một số nhỏ những người lãnh đạo trong số đông các môn đồ cho thấy không phải tất cả mọi người đều là những người có tiềm năng lãnh đạo. Tiến trình đào tạo môn đệ được thực hiện trong một nhóm nhỏ, không phải quảng đại quần chúng. Những người lãnh đạo thường có nhiều đặc tính và điều kiện cao hơn những người khác.
- Môn đồ là những người tin theo Chúa Giê-su. Sứ đồ là những môn đồ được Ngài kêu gọi và chọn lựa để làm đại diện cho Ngài truyền giảng Phúc Aâm, xây dựng Vương Quốc Đức Chúa Trời. Sứ Đồ của Chúa Giê-su cũng là mười hai người được Ngài chọn.
- Chúa Giê-su đã chọn các Sứ Đồ từ những người bình thường về phương diện văn hóa, xã hội. Nhóm 12 Sứ Đồ gồm có những người khác nhau về cá tính, nghề nghiệp, chính kiến, địa phương; mức độ sùng đạo Do Thái cũng khác nhau. Như thế sự trưởng thành đức tin và thuộc linh không hoàn toàn tùy thuộc vào trình độ văn hóa, giai cấp xã hội, cá tính, hoàn cảnh, địa phương...
- Phê-rơ chứng tỏ là người lãnh đạo của nhóm và Giu-đa là kẻ sẽ phản Chúa.
- Chúa Giê-su chọn mười hai môn đệ để sống gần với Chúa, học hỏi từ Chúa, nhận quyền năng để chữa bệnh, đuổi quỉ, truyền giảng Phúc Aâm và nhận một trọng trách mới cùng mang một danh hiệu đặc biệt: Sứ Đồ.
- Công tác lúc bấy giờ của Chúa Giê-su và các Sứ Đồ là dạy Lời Chúa, giảng Phúc Aâm, chữa lành bệnh tật, đau ốm và đuổi quỉ trừ tà.
- Chúng ta nên theo gương Chúa Giê-su tìm kiếm sự hướng dẫn thiên thượng của Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện, xin Chúa Thánh Linh soi sáng, hướng dẫn chúng ta qua các nguuyên tắc trong Lời Chúa.
- Nếu Chúa Giê-su đã chọn những người bình thường để đào tạo họ thành những vị lãnh đạo thuộc linh vĩ đại của nhân loại và hội thánh Ngài thì Ngài cũng có thể kêu gọi và đào tạo bạn thành những người hữu dụng lớn cho Hội Thánh và Nước Đức Chúa Trời. Vấn đề là chúng ta có bằng lòng dâng tấm lòng và đời sống mình cho Ngài sử dụng không.
Bài 14.
- Nghèo khổ ở đây nói đến người nghèo về vật chất và vì ý thức sự bất lực của mình nên biết nhờ cậy Chúa để giúp đỡ mình. Vì thế nghèo ở đây chủ yếu là nghèo về tinh thần nhưng cũng có thể xuất pháttừ sự nghèo khổ vật chất.
- Khi ý thức được sự bất lực của mình và quyền năng cũng như sức mạnh của Chúa và tin cậy vào Đức Chúa Trời để được đầy đủ thì người đó sẽ được phước của Chúa.
- Vì những người nghèo khổ có liên hệ đức tin với Đức Chúa Trời qua sự tin cậy Chúa nên họ được Chúa chấp nhận vào Nước của Ngài.
- Ma-thi-ơ đoạn 5 nói rõ thêm rằng người đói khát sự công chính của Đức Chúa Trời.
- Khóc lóc về tình trạng tội lỗi của mình và cũng có thể về tình trạng đau khổ của những người ở ngoài mối liên hệ với Đức Chúa Trời.
- Hạnh phúc thật không phải đến từ sự sở hữu vật chất nhưng hạnh phúc thật đến từ Đức Chúa Trời và là một vấn đề tinh thần và tâm linh.
- Muốn được hạnh phúc thật của Chúa phải ý thức rằng hạnh phúc là một vấn đề tinh thần và tâm linh.
Hạnh phúc thật đến từ Chúa. Phải nhận thức được giá trị tạm bợ của vật chất thế tục. Phải thiết lập mối liên hệ tâm linh với Đức Chúa Trời bởi đức tin nơi Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-su và sống theo đường lối, mục đích của Ngài.
- Một người vì tin theo Chúa Giê-su có thể bị thù ghét, bắt bớ, ngược đãi. Vấn đề này đã và đang xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới.
- Vì họ kinh nghiệm được tình yêu thương và những phứơc hạnh thiêng liêng của Chúa mà không điều gì trên trần thế này có thể so sánh được. Niềm hạnh phúc tâm linh đã giúp tín hữu chấp nhận, chịu đựng những bắt bớ, đau khổ do ma quỉ và kẻ thù của Chúa gây ra.
- Phước của Chúa là kinh nghiệm tinh thần và tâm linh, không phải vật chất, quyền thế phàm tục. Phước của Chúa đến từ Chúa và do mối liên hệ tâm linh với Chúa đem lại chứ không phải do sở hữu nhiều vật chất, tiền tài, danh vọng trong trần thề đem lại. Phước của Chúa là một kinh ngiệm hiện tại lẫn vĩnh cửu; phước trần thế chỉ là điều tạm bợ hiện tại.
- Vì nếu một người chỉ tìm kiếm hạnh phúc vật chất hiện tại thì họ chỉ có những thứ đó trong hiện tại. Khi Nước Trời thiêng liêng vĩnh cửu toàn diện sẽ đến những người kia không có gì cả và không thể vào Nước Trời vĩnh cửu vì thế họ chỉ có họa diệt vong nơi hỏa ngục.
- Hạnh phúc của Chúa không đến từ vật chất; trong Kinh Thánh chúng ta thấy nhiều người giàu có tin theo Chúa nhưng Chúa không buộc họ phải từ bỏ hết gia tài giàu có.Vì thế tình nghuyện để sống nghèo nàn tự nó không phải là điều kiện để được hạnh phúc của Chúa. Ngoài ra nếu một người cho rằng vì mình hy sinh tài sản, sống nghèo nàn, tức là mình đã làm một điều thiện, một hành động công đức nên Chúa phải ban phước thì lại càng sai lầm hơn nữa. Hạnh phúc thật từ Chúa là một phần của sự cứu rỗi; mà sự cứu rỗi là do đức tin đơn thuần; không phải do đức tin cộng với tu hành, công đức; vì thế chỉ tình nguyện sống nghèo nàn mà thôi sẽ không đem lại hạnh phúc thật từ Chúa.
Nếu một người vì tin theo Chúa và sống theo lý tưởng và giá trị của Chúa nên không năng nổ, để hết tâm trí sức lực tìm kiếm sự giàu có và vì thế bị nghèo nàn thì sự nghèo nàn này là hậu quả của một niềm tin nơi Chúa và vì thế sự nghèo nàn vì đức tin nới Chúa mới có thể có hạnh phúc thật từ Chúa.
Bài 15.
- Bốn điều Chúa khuyên con dân Ngài làm là:
a. yêu thương kẻ thù
b. Đối xử tử tế với người ghét mình
c. Chúc phước cho những kẻ chửi rủa mình
d. Cầu nguyện cho những kẻ lăng mạ mình.
- Con dân của Chúa phải nhờ tình yêu thương siêu nhiên và vô vị kỷ của Chúa đổ vào lòng chúng ta để làm những điều này.
- Thái độ nhịn nhục, sẵn sàng tha thứ và tiếp tục làm điều lành, thiện.
- Những minh họa trên dạy chúng ta vì tình yêu thương và vì Đạo Chúa mà nhịn nhục, chịu sỉ nhục và không trả thù. Những điều này cho chúng ta biết chúng ta có thể bỏ qua quyền cá nhân vì Đạo Chúa chứ không nhất thiết phải từ bỏ mọi quyền tự vệ của cá nhân hay cộng đồng, quốc gia. Vì Giăng Báp-tít, Phao-lô đều không khuyên những người quân nhân nên giải ngũ hay từ bỏ quân đội. Phao-lô khuyên nên vâng phục chính quyền. Rô 13:1-4
- Kinh Thánh Cựu Ước cấm người Do Thái cho vay lấy lời với người Do Thái nhưng có quyền làm như thế với người ngoại quốc. Chúa Giê-su trong một ngụ ngôn hỏi người đầy tớ sao không để tiền trong nhà băng (người cho vay) để lấy lời. Vì thế tín hữu không bị cấm cho vay hay dùng tiền đầu tư lấy lời phải lẽ vì đó là một việc đầu tư bình thường trong xã hội.
- Hãy làm cho người khác điều mình muốn người ta làm cho mình.
- Vì chúng ta đã được tái sinh, đổi mới và được Chúa Thánh Linh giúp sức.
- Vì chúng ta không thể nào biết hết mọi sự kiện và khách quan, chính xác. Ngoài ra chúng ta không có quyền định tội và lên án một ai, chỉ có tòa án và Đức Chúa Trời có quyền đó.
- Con dân của Chúa cần quan sát, nhận xét hành vi đạo đức của một người để biết cách đối ứng hợp lý và phải lẽ. Vì thế Chúa dạy chúng ta hãy không ngoan như rắn nhưng hiền lành như chim bồ câu.
Nhận xét để sống và đối xử đúng và thích hợp. Chúng ta luôn luôn có lòng muốn giúp đỡ, khuyến khích mọi người cãi thiện, sống trong tình yêu thương và trở về với Đức Chúa Trời, không phải để kiêu ngạo và cho rằng mình thánh thiện hơn người khác.
- Người lãnh đạo mù lòa là người không có ánh sáng của Lời Chúa và không làm theo Lời Chúa dạy nhưng chỉ làm theo dục vọng cá nhân như danh lợi, quyền hành, tiền bạc, lợi lộc v.v.
- Một người trước hết phải trưởng thành, biết giải quyết những nan đề của mình rồi mới có thể quan tâm giúp đỡ người khác hựu hiệu.
- Tư tưởng và ý định đều phát xuất từ tấm lòng vì thế vì trong lòng có nghĩ đến và có ý định nên mới nói ra miệng. Nhiều người hay mau nói nên không thể kiềm chế lời nói của mình; đa số những người này có nghĩ đến, có ý định và nói ra nhưng đa số không có ý định hay chủ ý thi hành những điều mình nói. Thường đây chỉ là những lời nói để biện hộ cho những tư tưởng, lời nói không hiền lành, tốt đẹp.
Hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời thấy và xét từ trong lòng, trong tư tưởng chứ không phải chỉ có hành động mới phạm tội.
- Người không những tuyên xưng Chúa Cứu Thế Giê-su là Chúa Tể đời mình mà cũng cố gắng làm theo mọi điều Ngài dạy.
- Người khôn ngoan thật là người nghe Lời Chúa, học hỏi Lời Chúa và làm theo, thực hành trong đời sống hằng ngày.
- Người không sống theo Lời Chúa bị thiệt hại ngay trong đời này lẫn đời sau. Vì Lơiø Đức Chúa Trời là để cho con dân Chúa sống ngay trong đời này lẫn chuẩn bị cho đời sau.
Bài 16.
- Viên đội trưởng là một người sĩ quan trong quân đội La Mã, thường là ngườ La Mã nhưng cũng có thể là người của các quốc gia khác được tuyển mộ vào quân đội La Mã, nhưng chắc chắn không phải là người Do Thái. Oâng này là người kính sợ Đức Chúa Trời, có cảm tình với người Do Thái và đạo Do Thái.
- Vì ông đội trưởng là người kính sợ Đức Chúa Trời và đã xây hội đường cho người Do Thái, tức là một công đức lớn đối với Do Thái giáo và dân Do Thái nên họ muốn Chúa Giê-su giúp đỡ ông ta.
- Chúa Giê-su sẵn lòng giúp một người ngoại quốc. Chúa đến để cứu giúp tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc. Ngoài ra Chúa cũng đến nhà một người ngoại đạo, không kiêng cữ như những người Do Thái sùng đạo vẫn phân biệt, kiêng cữ tiếp xúc với người ngoại đạo vì cho rằng họ và nhà họ ô uế vì họ ăn uống đồ cúng tế các thần cũng như nhà có thể thờ thần tượng.
- Viên đội trưởng là người tốt, kính sợ Đức Chúa Trời và sống đẹp lòng Chúa.
- Viên đội trưởng nhận thấy được rằng Chúa Giê-su có thẩm quyền siêu nhiên để chữa bệnh dù đang ở xa cách nhà ông.
- Viên đội trưởng nhận thấy Chúa Giê-su có thẩm quyền siêu nhiên và tin tuyệt đối vào thẩm quyền đó có đủ năng lực làm điều Ngài bảo như một người lính tin và vâng phục quyền của sĩ quan cấp trên của mình.
- Lời khen của Chúa Giê-su cho thấy giữa vòng người ngoại quốc cũng có nhiều người có đức tin nơi Đức Chúa Trời và nơi Chúa Giê-su khi họ nghe và biết về Ngài.
- Người Do Thái lúc bấy giờ còn quan sát về sự dạy dỗ và hành động của Chúa Giê-su và chưa tin tưởng về Chúa Cứu Thế nhiều.
- Lu-ca cho thấy người đội trưởng không hề xuất hiện và thấy Chúa Giê-su nhưng đã tin cậy Ngài và nhận được điều mình xin. Đây là điều sau này sẽ xảy ra cho muôn vạn người khác, là những người tin Chúa Giê-su dù chưa bao giờ thấy Ngài tận mặt.
- Chúa Giê-su có quyền năng chữa bệnh cho một người ở cách xa Ngài. Chúa không cần phải có một lời thần chú, một hành động gì,hay đụng đến người bệnh hay dùng một vật thiêng nào cả. Quyền năng của Chúa Giê-su tác động vượt không gian và thời gian.
- Người Do Thái thường cho rằng chỉ có họ mới được Được Đức Chúa Trời chọn lựa và cứu rỗi; ai muốn được cứu rỗi phải trở thành người Do Thái trước đã. Nhưng Chúa Giê-su đến và cứu giúp viên đội trưởng cùng nhiều người ngoại quốc khác nữa chứng tỏ Chúa đến để cứu rỗi tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da hay văn hóa.
- Chúa Giê-su khen ngợi một người ngoại quốc về đức tin của ông cho thấy Chúa cũng mong mỏi thấy nhiều người ngoại quốc có đức tin nơi Đức Chúa Trời và nơi Chúa Giê-su sau này.
- Có thể đó là tình trạng của người Việt bấy lâu nay, nhưng nếu Chúa Giê-su cho thấy người ngoại quốc cũng có đức tin lớn nơi Ngài thì chúng ta cũng còn hy vọng rằng khi Phúc Aâm của Chúa được rao truyền rộng rãi và chính xác nhiều người Việt sẽ mở mắt và tin Chúa.
Bài 17.
- Lu-ca muốn cho thấy tình cảnh bi đát của bà góa vì vào thời đó người đàn bà góa sẽ không có ai nương tựa khi tuổi già vì không có chương trình xã hội nào giúp đỡ người già.
- Chúa Giê-su tự mình khởi xướng việc cứu sống thanh niên kia.
- Vì không ai ngờ được rằng có người có thể cứu sống người chết và họ tưởng Chúa Giê-su cũng chỉ là một thầy dạy đạo bình thường như những người khác mà thôi.
- Chúa tự động đến sờ vào quan tài và cứu sống cậu thanh niên cho thấy tấm lòng yêu thương chăm sóc của Chúa đối với một hoàn cảnh bi đát của người đàn bà góa.
- Chúa dạy chúng ta phải chịu khó, chịu cực khổ, không quản ngại sự phiền phức, bất tiện mới có thể đem Tin Mừng cứu rỗi người đang chết mất.
- Chúa Giê-su chỉ phán một lời để cứu sống cậu kia. Điều này chứng tỏ Chúa Giê-su có quyền năng siêu nhiên chứ không cần phải nhờ vào vật gì như bùa, ngãi hay điều gì (như thần chú, kinh) để thi hành phép lạ.
- Lu-ca tuyên bố rằng ông đã nghiên cứu chính xác (Lu-ca 1:1-4) mọi sự. Những điều Lu-ca ghi chép đã được khảo cổ và sử liệu bên ngoài chứng minh là chính xác nên biến cố này cũng sẽ chính xác.
Lu-ca ghi chép tất cả những ưu cũng như khuyết điểm của các Sứ Đồ, tức là những nhân vật chính của sách Lu-ca, Công Vụ và cách ghi chép câu chuyện này cho thấy Lu-ca không thêu dệt thêm để thần thánh hóa câu chuyện.
- Lu-ca là một bác sĩ, ông biết rõ sự khác biệt giữa bất tỉnh và chết. Lu-ca đã dùng nhiều danh từ chuyên môn y khoa trong Phúc Aâm Lu-ca cũng như Công Vụ nên ông biết rõ và sẽ ghi “bất tỉnh” nếu cậu này chỉ bất tỉnh mà chưa chết thật.
- Vũ trụ quan chống siêu nhiên (phép lạ) và chỉ tin những gì khoa học thực nghiệm có thể chứng minh mà thôi khiến một số người, kể cả những học giả Kinh Thánh theo khuynh hướng thần học tự do không chấp nhận và tin rằng Lu-ca ghi chép một phép lạ thật sự của Chúa Giê-su.
- Hành động cứu sống cậu thanh niên đã chết chứng tỏ Chhúa Giê-su có quyền năng siêu nhiên của Đức Chúa Cha và Ngài chính là Chúa Cứu Thế đến từ trời.
- Dân chúng nhận thấy Chúa Giê-su là một tiên tri lớn như tiên tri Ê-li hay Ê-li-sê thời xưa. Đây là một sự tiến bộ trong sự nhận thức về Chúa Giê-su dù chưa đúng hẳn ( Chúa Giê-su chính là Chúa Cứu Thế chứ không phải chỉ là một vị tiên tri mà thôi).
- Nếu Chúa Giê-su có quyền cứu sống kẻ chết thì mới có quyền cứu rỗi chúng ta. Nếu Chúa Giê-su không cứu nỗi một người chết thì làm sao Ngài có thể cứu rỗi cả thể xác lẫn linh hồn chúng ta dù chúng ta tin Ngài?
- Nếu một người không thể tin rằng Chúa Giê-su có quyền cứu sống kẻ chết nhưng Ngài chỉ là một vị đại giáo sư đạo đức cao cả mà thôi thì người đó không thể được cứu rỗi vì đấng mà người đó tin không phải là Chúa Giê-su có quyền chiến thắng sự chết như trong Lu-ca đã ghi. (Thật ra những người không tin Chúa Giê-su có quyền chữa bệnh, cứu sống người chết, và chết cho tội lỗi nhân loại và sống lại, sẽ không mong rằng Chúa Giê-su có thể cứu rỗi họ. Họ chỉ theo gương đạo đức của Chúa mà thôi).
- Phép lạ này dẫn chúng ta đến chỗ biết rằng Chúa Giê-su sẽ chiến thắng sự chết bằng sự phục sinh của Ngài.
- Chúa Giê-su không những cứu sống kẻ chết nhưng chính Ngài cũng sẽ chiến thắng sự chết bằng chính sự phục sinh của chính Ngài mà không một tiên tri hay giáo chủ của một tôn giáo nào trên thế giới có thể làm nỗi.
Bài 18.
- Họ báo cáo những phép lạ Chúa làm như chữa bệnh, tật, cứu người chết sống lại, đuổi quỉ...trong các đoạn trước của Lu-ca.
- Nhiều đề nghị trả lời cho lý do Giăng hỏi về Chúa. Giăng muốn cũng cố hy vọng; muốn tăng cường đức tin cho môn đệ mình. Lý do rõ ràng nhất là sự nghi ngờ vì Chúa Giê-su không hành động như đa số những người Do Thái lúc bấy giờ mơ tưởng; tức là một vị vua cứu tinh cho dân tộc họ. Ngoài ra nếu Giăng là một vị tiên tri đang bị bạo chúa bỏ tù mà Chúa Giê-su, Đấng Mê-si-a cứu tinh không giải thoát ông ra khỏi tù.
- Nhiều người dù là tín hữu nhưng có nhiều thành kiến sai lầm và không học hỏi Lời Chúa nên không hiểu biết đúng về Chúa Cứu Thế và ý chỉ, chương trình của Đức Chúa Trời.
- Lu-ca muốn nhấn mạnh điểm những người nhân chứng này thấy rõ Chúa Giê-su đang làm những phép lạ kia tận mắt chứ không phải chỉ nghe đồn.
- Câu trả lời của Chúa Giê-su cho thấy Ngài chính là Đấng Mê-si-a.
- Vì Chúa Giê-su đang làm ứng nghiệm những điều mà tiên tri I-sa đã tiên báo về thời kỳ Đấng Mê-si-a đến (I-sa 35: 5-6; 61:1)
- Người Việt hay đưa ra một vài lý do như không muốn bỏ việc thờ cúng ông bà; không muốn bỏ truyền thống lâu đời của dân tộc (theo Tam Giáo: Phật-Khổng-Lão) vì đạo nào cũng tốt.
- Giăng là một tiên tri lớn của người Do Thái.
- Vì tín hữu của Nước Thiên Đàng có nhiều đặc ân của Chúa hơn những người trong thời Cựu Ước nhiều. Đặc biệt là những tín hữu thấy tận mắt, nghe tận tai lời dạy dỗ của Chúa Cứu Thế.
- Những người ăn năn khi nghe sứ điệp của Giăng Báp-tít là những người cũng tin sứ điệp của Chúa Giê-su vì Giăng là tiên tri của Chúa và Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời; cả hai đều đến từ Chúa Cha và truyền bá một sứ điệp đem đến cùng một mục đích: Đem người về cùng Đức Chúa Trời. Giăng Báp-tít là người chuẩn bị và Chúa Giê-su là Đấng hoàn thành sự cứu rỗi.
- Những người không ăn năn cũng như kông tin nhận Chúa Giê-su là những người từ khước ý chỉ của Đức Chúa Trời.
- Những người này dù học hỏi nhiều Kinh Thánh nhưng chỉ biết trên phương diện trí thức, còn tấm lòng cứng rắn, không chịu ăn năn tội lỗi và không thấy sự tội lỗi của mình nên không muốn tiếp nhận sự thật của Chúa.
- Một người tin nhận Chúa Giê-su là kết quả của sự khôn ngoan thiêng liêng.
- Nhiều người ngày nay cũng có cùng một quan điểm như Giăng Báp-tít và những người Do Thái thời Chúa Giê-su; họ mong muốn Hội Thánh của Chúa Giê-su đóng vai trò của một nhà cách mạng chính trị, kinh tế và quân sự nữa. Nhưng Hội Thánh của Chúa Giê-su phải làm theo những gì Chúa Giê-su làm và dạy, tức là chú trọng đến sứ mạng thiêng liêng của việc truyền bá Phúc Aâm và môn đệ hóa nhân loại. Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ rằng Chúa Giê-su đã làm rất nhiều việc từ thiện trong khi giảng dạy Phúc Aâm. Vì thế Hội Thánh cũng phải thực hành việc từ thiện để bày tỏ tình thương yêu của Chúa cho mọi người.
Bài 19
- Người đàn bà kia đã khóc, nước mắt rơi ướt chân Chúa nên lấy tóc lau chân Chúa, hôn chân Chúa và xức dầu thơm cho chân Chúa Giê-su.
- Người Pha-ri-si mời Chúa dùng cơm nhưng không cung cấp nước để Ngài rửa chân khi vào nhà; không hôn chào Chúa và không xức dầu thơm cho Chúa như một vị khách tôn quí.
- Người đàn bà này là người tội lỗi. Có thể là một cô điếm nhưng cũng có thể là một người đàn bà lăng loàn mà thôi.
- Chúa Giê-su kể ngụ ngôn để dạy dỗ người Pha-ri-si chứng tỏ Chúa biết rõ người đàn bà kia là người như thế nào. Ngoài ra chính Chúa bảo: “Dù tội lỗi chị này nhiều lắm” và sau đó Chúa phán”Tội lỗi con đã được tha” cho thấy Chúa biết người đàn bà kia là người tội lỗi.
- Người Pha-ri-si có thái độ khinh thường và lên án đối với người đàn bà; hành động thông thường của họ là không tiếp xúc và tránh xa những người như thế.
- Chúa Giê-su không những không khinh thường và lên án người đàn bà tội lỗi nhưng Ngài tiếp nhận người đó và tha thứ họ khi họ khiêm nhường, ăn năn trước mặt Chúa. Chúa đối xử với người tội lỗi bằng lòng thương xót và mở rộng ân huệ tha thứ của Đức Chúa Trời cho họ.
- Chúa muốn hội thánh, tức là những con dân tin theo Ngài cũng phải có thái độ và hành động yêu thương, rộng mở ân sủng của Chúa cho mọi người, bất kể họ là người tội lỗi như thế nào.
Lu-ca 5:32 Hội thánh là thân thể của Chúa Cứu Thế để tiếp nối sứ mệnh cứu rỗi tội nhân của Ngài cho đến khi Chúa quang lâm. Hội thánh không phải chỉ để cứu người tốt và công chính nhưng cứu tội nhân như Chúa chúng ta đã làm và dạy họ trở nên những người tốt, thánh thiện.
- Người đàn bà này ý thức được tội lỗi của mình nên khiêm cung trước mặt Chúa, ăn năn và đức tin nơi Chúa đã thúc đẩy bà hành động phục vụ và tận hiến phục vụ Chúa.
- Người đàn bà này được tha tội và cứu rỗi là nhờ đức tin; chính Chúa Giê-su đã xác nhận như thế “đức tin con đã cứu con”c. 50; và vì đây là đức tin thật nên biểu lộ ra việc làm hay hành động tận hiến phục vụ Chúa như thế.
- Vào thời đó chỉ có thầy tế lễ mới tuyên bố tha tội cho một người, nhưng chỉ tuyên bố sau khi người đó dâng tế lễ chuộc tội tại đền thờ Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su tuyên bố trực tiếp và không cần của tế lễ gì cả cho thấy Ngài có thẩm quyền của Đức Chúa Trời để tha tội. Lu-ca 5:20,24
- Lu-ca tóm lược mục đích của Chúa Giê-su là truyền bá Phúc Aâm cho mọi người ở mọi nơi. Mục đích này cũng phù hợp với mạng lệnh Ngài truyền cho các Sứ Đồ trước khi Ngài thăng thiên (Lu-ca 24:47).
- Chúa Giê-su không đi truyền đạo và dạy dỗ một mình nhưng Ngài luôn luôn đem theo các môn đệ để dạy dỗ họ và cho họ tập tành chức vụ truyền giảng Đạo Chúa. Người trưởng thành trong Chúa cũng phải nghĩ đến và tìm mọi cách giúp đỡ, dạy dỗ những tín hữu mới để họ phục vụ và rao truyền Phúc Âm
cho cộng đồng, thế giới.
- Đức tin và lòng yêu mến Chúa của các phụ nữ trên được thể hiện bằng cách đi theo, phục vụ cho phái đoàn truyền giáo của Chúa và dùng tài sản, của cải của mình tài trợ chức vụ của Chúa và môn đệ Ngài. Những phụ nữ này không những phục vụ Chúa và Đạo Chúa bằng công sức nhưng cũng bằng tài chánh nữa.
Bài 20.
- Người đi gieo hạt chỉ về Chúa Cứu Thế rao giảng Lời Chúa cho dân chúng. Ngày nay người đi gieo là tín hữu rao truyền Lời Chúa hay Tin Mừng của Chúa Cứu Thế cho nhân loại.
- Mục đích của Sa-tan là ngăn cản không để cho Lời Chúa vào tâm hồn người nghe và đạt kết quả tốt trong đời sống theo Chúa của một tín hữu.
- Chúa Giê-su dùng ngụ ngôn để dạy dỗ dân chúng và để những người thật lòng khao khát tìm kiếm chân lý sẽ cố tìm hiểu Lời Chúa; còn những người không thực tâm tìm kiếm Chân Lý cứu rỗi sẽ không cố gắng tìm hiểu thêm.
- Chúa muốn vừa nhắc nhở những người nghe Lời Chúa phải thực tâm tìm kiếm vừa cảnh cáo những người không quan tâm sẽ không thể hiểu Lời Ngài dạy được.
- Chúa Giê-su trích tiên tri I-sa để nói lên sự cứng rắn, chai lì của người Y-sơ-ra-ên thời tiên tri I-sa. Những người này nghe tiên tri I-sa rao truyền Lời Chúa nhưng họ cứng lòng, chai đá không vâng phục Lời Chúa nên sau đó dân Y-sơ-ra-ên bị trừng phạt và lưu đày biệt xứ.
- Loại người thứ nhất là loại người nghe Lời Chúa nhưng không quan tâm chú ý gì cả. Tấm lòng của họ đã bị nhiều người dẫm nát và chai cứng. Hạt giống rơi xuống sẽ nằm trên mặt đất; chim chóc thấy và ăn đi.
- Những người này để Lời Chúa ngoài tai; tấm lòng của họ đã bị nhiều người trong thế gian dẫm nát và chai đá vì thế Lời Chúa không thể đi vào tấm lòng và ma quỉ có thể lấy đi dễ dàng; nghĩa là họ không nhớ được những gì Lời Chúa dạy.
- Những trở ngại của nhóm người thứ hai là đá ngầm, rễ không đâm sâu được vì thiếu đất. Mặt trời thiêu đốt cây non. Sự khó khăn, bắt bớ đạo.
Những tấm lòng này trông có vẻ như đất tốt, mềm mại nhưng thật ra chỉ là một lớp đất mỏng trên mặt còn phía dưới là những tảng đá vôi lớn cho nên Lời Chúa không thể đâm rễ sâu xuống lòng đất được.
- Lý do chính làm cho loại người này bỏ đức tin và bỏ đạo sau một thời gian là vì lòng của họ chai đá, cứng cỏi; họ chỉ đáp ứng với Lời Chúa theo cảm xúc nhất thời. Lời Chúa không thể ăn sâu vào lòng những người này và không thể đâm rễ trong lòng họ.
- Nếu một người có rễ lớn, ăn sâu vào lòng thì ánh sáng mặt trời lại giúp cho cây lớn lên và sự bắt bớ lại càng làm cho đức tin mạnh mẻ, trưởng thành. Cho nên nan đề chính của loại người thứ hai không phải là sự khó khăn, bắt bớ mà là tấm lòng chai đá, không có chỗ cho Lời Chúa đâm rễ, lớn mạnh.
- Lu-ca cho thấy có ba loại nan đề làm cho loại người thứ ba không trưởng thành và kết quả được:
Lo lắng về đời này thái quá, ham làm giàu; thích lạc thú ở đời hơn phúc hạnh thiên thượng.
- Những người muốn nghe và hiểu Lời Chúa; có tấm lòng thành thực khao khát chân lý cứu rỗi, tấm lòng thiện lành; trung tín với Đạo và kiên trì trong đức tin.
- Theo sự giải thích và trích dẫn Lời Chúa trong tiên tri I-sa, Chúa Giê-su muốn ám chỉ đến những người dù có tiếng là Dân Chúa nhưng tấm lòng chai cứng, không cố gắng học hỏi, tìm hiểu rõ ràng và sâu xa Lời Chúa cho nên nhìn những công việc của Chúa nhưng không thấy, nghe Lời Chúa rao giảng nhưng không hiểu và cũng không cố gắng tìm hiểu hay học hỏi.
- Ngụ ngôn trên cho thấy hậu quả của việc nghe Lời Chúa nhưng không đáp ứng đúng là không được cứu rỗi và không trưởng thành cũng như không có kết quả tốt trong đời sống tín hữu và đem vinh hiển cho Chúa.
- Các loại kết quả của một đời sống tin kính tốt là:
a. Chứng Đạo, đem nhiều người về với Chúa.
b. Dâng hiến tiền bạc dồi dào giúp công việc Chúa.
c. Làm những việc từ thiện.
d. Đời sống đạo đức được đổi mới nhiều và cao
e. Đời sống tràn đầy sự ca ngợi Chúa.
Bài 21.
- Cây đèn thắp sáng tượng trưng cho lời dạy dỗ của Chúa Giê-su.
- Mục đích của ánh sáng là soi sáng cho người ta thấy. Lời Chúa cần được rao truyền công khai cho mọi người để cho người ta biết chân lý của Chúa.
- Đó là một người mất trí; không ai là người bình thường sẽ làm như vậy.
- Chúa Giê-su là ánh sáng của thế giới vì thế Ngài rao giảng Lời Chúa cho mọi người công khai. Chúa phán rằng tín hữu cũng là ánh sáng và chúng ta nên chiếu sáng chân lý của Chúa (phản chiếu ánh sáng của Chúa) cho người khác thấy.
- Nếu một người xưng mình là tín hữu của Chúa Giê-su nhưng lại nói rằng :”Đạo ai nấy giữ” thì có thể người này không học hỏi và biết Lời Chúa. Cũng có thể người này chỉ là một người theo đạo (đồng ý với những điều Chúa dạy) nhưng chưa được tái sinh làm con cái thật của Chúa.
- Một người có thể không dám nói về Đạo Chúa cho người khác vì một số lý do:
a. Người này chỉ chấp nhận sự dạy dỗ của Chúa nhưng chưa được tái sinh.
b. Người này tin Chúa nhưng không học hỏi Lời Chúa nên không biết gì nhiều về Chúa nên không dám nói cho ai cả.
c. Người này có đời sống không xứng đáng và không đẹp lòng Chúa nên không dám xưng nhận và nói cho người khác biết mình là con dân Chúa.
- Người không chiếu ánh sáng của Chúa cho người khác không những không nhận thêm được ánh sáng của Lời Chhúa mà có thể mất luôn những phước hạnh thiêng liêng họ tưởng mình đã có.
- Ngoài tác dụng soi sáng, Lời Chúa cũng có tác dụng định giá, phơi bày tất cả bí ẩn (Lời nói, tư tưởng, hành động) trong đời sống con người và phán xét trong ngày phán xét của Chúa.
- Chân lý của Chúa sẽ phơi bày tất cả những gì trong lòng người và phán xét là điều an ủi và hy vọng cho những người bị hàm oan, hiểu lầm hay bị bắt bớ, ngược đãi vì Danh Chúa hay vì sống ngay thẳng theo Lời Chúa dạy.
Nhưng Lời Chúa cũng làm chúng ta sợ điều gian ác mà tránh đi vì biết rằng chúng ta không thể che giấu Đức Chúa Trời được.
- Những người nghe Lời Chúa và làm theo là người thuộc về gia đình thiêng liêng của Chúa.
- Một người chỉ nghe và đồng ý hay công nhận Lời dạy dỗ của Chúa là đúng nhưng không bằng lòng sống theo Lời Chúa thì chưa được tái sinh, vì thế người này chỉ là tín hữu “ngoài miệng, trên danh hiệu, hữu danh vô thực) và chưa được cứu rỗi. ( Gia-cơ cho rằng đây là đức tin chết. Gia-cơ 2:20-26)
Đức tin nơi Chúa Cứu Thế để được cứu rỗi gồm cả sự chấp nhận và ý chí hành động theo Lời Ngài chứ không phải chỉ đồng ý trong đầu mà thôi rồi muốn sống thế nào mặc ý mình.
- Đối với Chúa Giê-su gia đình thuộc linh quan trọng hơn gia đình thuộc thể vì gia đình thuộc thể nếu không tin Chúa Cứu Thế Giê-su chỉ tồn tại một thời gian ngắn tại thế, còn gia đình thuộc linh của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại mãi mãi với Chúa trong Nước Thiên Đàng.
Ở đây Chúa Giê-su chỉ nhấn mạnh đến gia đình thuộc linh so với gia đình thuộc thể mà thôi chứ Ngài không có ý bài bác hay từ bỏ, khước từ gia đình thuộc thể. Chúa Giê-su đã sống và chu cấp cho gia đình mình đến năm 30 tuổi. (Oâng Giô-sép có thể đã mất sớm).
Bài 22.
- Chúa Giê-su là một con người thật, biết mệt mỏi sau một ngày giảng dạy.
Nhưng Chúa Giê-su cũng có sự bình an lớn nên có thể ngủ yên trên thuyền trong khi trời bão lớn.
- Những người đánh cá chuyên nghiệp đã phải sợ tức là trậân bảo rất lớn và tình trạng rất nguy hiểm vượt ra khỏi sức chèo chống của họ.
- Chúa Giê-su quở sóng gió và chúng yên lặng.
- Cách hành văn và sự mô tả của Lu-ca rất bình thường như những biến cố lịch sử khác mà ông ghi chép lại trong sách Công Vụ. (Đã được xác nhận là chính xác và đúng với những dữ kiện lịch sử và khảo cổ ). Đa số những câu chuyện thần thoại thời đó người ta phải đọc thần chú, cầu nguyện với các thần linh, dùng bùa v.v. ở đây Chúa Giê-su chỉ quở trách một lời thì sóng gió lập tức yên lặng.
- Sóng gió là những hiện tượng thiên nhiên vô tri giác nên chúng phải qui phục trước quyềøn năng của Con Đức Chúa Trời.
Đối với loài người Đức Chúa Trời ban cho ý chí tự do vì thế một số người không vâng phục Chúa. Những tín hữu, dù đã được tái sinh nhưng chưa trưởng thành và thiếu đức tin nên họ vẫn chưa vâng phục Chúa hoàn toàn.
- Những môn đệ thiếu đức tin nhờ cậy nơi quyền năng bảo vệ, săn sóc của Đức Chúa Trời và họ cũng chưa có đức tin nơi Chúa Giê-su, Chúa Cứu Thế quyền năng của họ nên họ trở nên sợ hãi. Thiếu đức tin thường đem đến lo âu, sợ hãi.
- Đức tin ở đây là lòng tin cậy vào quyền năng bảo vệ, chăm sóc của Đức Chúa Trời trên đời sống hàng ngày chứ không phải đức tin tiên khởi nơi Chúa Giê-su để được cứu rỗi.
- Khi phán với sóng gió làm cho chúng yên lặng Chúa Giê-su chứng tỏ Ngài là Con Đức Chúa Trời có quyền năng trên thiên nhiên.
- Qua câu chuyện đuổi quỉ này Kinh Thánh và cả Chúa Giê-su dạy chúng ta rằng:
- thế giới siêu nhiên là một thực thể, không phải là điều huyền thoại hay mê tín dị đoan.
- ma quỉ là những thực thể có thật.
- ma quỉ có thể ám và kiểm soát một người và cả thú vật nữa.
- ma quỉ là những hữu thể siêu nhiên, có quyền năng mạnh hơn loài người.
- ma quỉ có sự hiểu biết về số phận của chúng và về Con Đức Chúa Trời.
- ma quỉ sợ và vâng phục dưới quyền năng của Chúa Giê-su.
- Những người này cho rằng họ chỉ tin vào khoa học thực nghiệm và một số có khuynh hướng vô thần. Tuy nhiên ngày nay nhiều nhà khoa học cũng phải công nhận rằng khoa học thực nghiệm không giải thíc h được tất cả mọi sự việc và hiện tượng trong vũ trụ.
- Người bị quỉ ám ở trong tình trạng đau khổ, bẩn thỉu, bị đàn áp.
- Ma quỉ biết Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời và có quyền đuổi chúng xuống vực sâu.
- Chúa Giê-su cho phép đám quỉ nhập vào bầy heo có lẽ vì chưa đến thì giờ phán xét ma quỉ nên chúng vẫn được phép hiện diện trên trần thế. Ngoài ra Chúa quan tâm và muốn con người được sống mạnh khỏe, an lành nên Ngài giải cứu người bị quỉ ám dù gây ra thiệt hại cho những người có đàn heo.
Chúa quí đời sống của con ngừơi hơn thú vật. Phản ứng của những người dân làng sau đó cho thấy họ coi trọng đàn heo hơn đời sống lành mạnh của một người láng giềng của họ.
- Người bị quỉ ám trở lại hành động, ăn nói bình thường trái với tình trạng khi còn bị quỉ ám. Bằng chứng khác là đám heo bị quỉ nhập và nhào xuống biển chết. Đây là bằng chứng có ma quỉ từ người kia xuất ra và nhập vào đàn heo và người kia không phải bị bệnh tâm trí, điên khùng, mất trí.
- Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời có quyền năng trên những lực lượng ma quỉ và Ngài cũng có lòng thương xót và quí trọng đời sống con người hơn thú vật.
- Những người này coi trọng tài sản (đàn heo) hơn sự cứu rỗi. Vì họ sợ nếu Chúa Giê-su ở lại đó sẽ có nhiều đàn súc vật khác sẽ bị chết như đàn heo chăng!
Bài 23.
- Giai-ru là một trưởng lão, một nhân viên chính quản trị hội đường. Thường người này là người giàu có, cũng giữ vai trò lãnh đạo trong cộng đồng của mình.
- Giai-ru là người đang gặp khó khăn, tuyệt vọng vì con gái đau sắp chết. Oâng cũng tất kính trọng và tin tưởng Chúa Giê-su nên mới quì xuống trước mặt Chúa giữa công cộng.
- Đa số dân chúng và kể các môn đệ Chúa lúc bấy giờ chỉ biết Chúa Giê-su như là một vị thầy tôn giáo hay hơn nữa là một vị tiên tri mà thôi. Họ không nghĩ rằng Chúa Giê-su có quyền cứu sống người đã chết.
- Chúa Giê-su khuyên Giai-ru đừng sợ và tin mà thôi.
- Sự sợ hãi, vô tín và thiếu kiên nhẫn là những trở ngại lớn để con dân Chúa tìm được sự cứu giúp từ Chúa chúng ta.
- Lu-ca là một bác sĩ vì thế ông biết rõ sự khác nhau giữa hôn mê bất tỉnh và chết. Ngoài ra hôn mê bất tỉnh thì tim vẫn còn đập. Người Do Thái sau khi xác nhận chắc chắn một người đã chết họ mới cho mời đám người khóc than. Những người trong gia đình chế nhạo Chúa khi Ngài bảo em bé chỉ ngủ.
- Chúa Giê-su cứu sống em bé gái đã chết chứng tỏ Ngài có quyền năng của Đức Chúa Trời và Ngài chính là Chúa Cứu Thế đem lại sự sống vĩnh phúc cho nhân loại.
- Kinh Thánh không nói rõ nhưng xét theo diễn biến và tình hình chung lúc ấy người ta có thể nêu ra một vài lý do sau:
a. Phép lạ không phải là trọng tâm của sứ mệnh của Chúa Cứu Thế trên thế giới.
b. Ngài không muốn dân chúng theo Ngài vì phép lạ.
c. Ngài sẽ phải chết trên thập tự giá vì thế Ngài muốn những kẻ tin theo Ngài cũng sẵn sàng chịu khổ chứ không phải vì Ngài có quyền năng làm nhiều phép lạ giúp đỡ họ về vật chất.
- Giai-ru là người khiêm nhường, tôn quí, vâng phục Chúa; có đức tin và kiên nhẫn chờ đợi Chúa cứu sống con gái mình theo ý chỉ và thời gian của Chúa. (Oâng phải chờ Chúa giải quyết vấn đề người đàn bà bị bệnh xuất huyết xong rồi mới đi đến nhà cứu sống con mình).
- Người đàn bà này đã tiêu hết tiền bạc, bệnh không lành; bị coi là ô uế, không được tiếp xúc với người khác trong xã hội, không được dự và hành lễ vì ô uế.
- Có lẽ bà sợ Chúa, cũng như những thầy tôn giáo khác từ khước đụng đến bà vì sợ bị lây ô uế; hoặc nếu bà xin Chúa giữa đám đông thì sẽ bị phản đối, đuổi đi vì bà là người ô uế. Bà này chưa biết được lòng nhân từ của Chúa Giê-su.
- Bà này không những sợ bị từ khước nhưng bà cũng tưởng rằng Chúa như các thầy pháp thuật, phù thủy có bùa phép trong người và trong các vật dụng của Ngài. Vì thế chỉ sờ đến áo của Ngài cũng có thể lành bệnh. Đức tin của bà này còn ở mức độ tương tự như mê tín dị đoan.
- Chúa muốn bà này can đảm xưng nhận đức tin của mình và chứng tỏ mình đã được lành để có thể công khai được chấp nhận vào trong cộng đồng trở lại.
- Chúa khuyến khích, xác nhận, nâng đỡ niềm tin của mọi gười dù là đức tin nhỏ bé, lệch lạc.
- Chúa cứu giúp tất cả những người có đức tin nơi Ngài dù là đức tin ấy còn bé nhỏ , chưa mạnh mẽ và còn khiếm khuyết vì Ngài yêu thương, nhân từ và qua sự cứu giúp ấy Chúa có dịp nâng đỡ, dạy dỗ người ta lớn lên trong đức tin. Chúa cũng đối xử với các môn đệ của Ngài như vậy từ đầu khi đức tin của họ còn non kém, yếu ớt và nhiều khiếm khuyết, hiểu lầm Chúa.
Bài 24.
- Chúa Giê-su sai các Sứ Đồ đi truyền giảng Nước Đức Chúa Trời và chữa bệnh cho những người đau ốm.
- Các Sứ Đồ nhận được năng lực và thẩm quyền của Chúa khi đi ra truyền bá Nước Chúa.
- Chúng ta muốn truyền bá Nước Đức Chúa trời, chúng ta cũng cần năng lực và thẩm quyền của Chúa Cứu Thế Giê-su.
- Ngày nay chúng ta cần cầu nguyện để nhận được quyền năng của Chúa Thánh Linh (Công Vụ 1:8; Eâph 5:18) và cần học hỏi Lời Chúa để có năng lực , khôn ngoan thiêng liêng trong việc truyền bá Đạo Chúa. Cô-lô-se 3:16
- Đây là giai đoạn đầu trong chức vụ của Chúa Cứu Thế nên Ngài chỉ sai 12 Sứ Đồ; sau đó Ngài cũng sai 72 môn đồ (Lu-ca 10:1-20). Mạng lệnh sau cùng và vĩ đại của Chúa trước khi Ngài về trời bao gồm tất cả con dân của Chúa trong mọi thế hệ. Mat 28:18-20
- Đây là một cuộc truyền giáo ngắn hạn và tại địa phương vì thế các Sứ Đồ không phải bận tâm chuẩn bị nhiều hành trang. Nhưng nói chung nếu chúng tamuốn truyền Đạo Chúa cho thế gian thì phải sống đơn sơ, trang bị nhẹ nhàng, không quá bận bịu với của cải vật chất của thế gian này.
- Nói chung Chúa Cứu Thế dạy chúng ta phải sống đơn sơ thì mới có thể tận tâm truyền bá Đạo Chúa. Vì nếu một người quá bận tâm lo làm giàu; hay lo cho sự nghiệp, danh tiếng hay quyền thế ở đời này thì sẽ không còn thì giờ, năng lực và tâm trí truyền báo Đạo Chúa.
- Chúa Giê-su tin tưởng và mong mỏi những người đã tiếp nhận sứ điệp cứu rỗi của Ngài, tức là những con dân Chúa, phải lo chu cấp những nhu cầu vật chất cho những người để trọn thì giờ và cuộc đời rao truyền và dạy dỗ Đạo Chúa. Chúa Giê-su coi điều này như là một bổn phận đương nhiên nếu họ thật lòng tiếp nhận Đạo Chúa vì thế Ngài truyền cho các môn đệ Ngài cứ ra đi truyền đạo và không cần phải lo trang bị nhiều.
- Những người từ khước Đạo Chúa tức là từ khước Đức Chúa Trời và hậu quả là họ sẽ bị đoán xét vào ngày phán xét chung như những người ngoại đạo, vô tín.
- “Phủi bụi dính chân” nói lên thái độ cho rằng họ hết trách nhiệm và không liên hệ gì đến sự hình phạt mà những người vô tín, từ khước Đạo Chúa sẽ phải hứng chịu.
- Vì được báo trước tình trạng vô tín, từ khước và chống đối đạo Chúa của một số dân chúng nên các môn đồ chuẩn bị tinh thần và không bị thương tổn, thất vọng khi gặp chống đối. Ngoài ra các môn đệ Chúa cũng biết rõ rằng người ta từ khước họ tức là từ khước Chúa mà họ chỉ là tôi tớ, sứ giả đại diện Chúa trên trần thế.
- Các Sứ Đồ đi truyền đạo khắp các thành đông dân cư cũng như những làng mạc thôn xóm nhỏ bé, ít người. Nói chung họ đi khắp nơi và truyền đạo Chúa cho tất cả mọi người.
- Chúng ta cũng phải tuân theo mạng lệnh Chúa như họ, đi truyền giáo cho tất cả mọi người ở khắp nơi. Sứ mệnh vĩ đại của Chúa là truyền Đạo Chúa cho tất cả mọi người ở khắp thế giới. Nhưng chúng ta không thể truyền đạo Chúa khắp thế giới và cho mọi người cùng một lúc, vì thế chúng ta phải chọn lựa địa điểm, nhóm người mà thì giờ và phương tiện cho phép. Đây là vấn đề chiến lược, nhưng mục đích thì không có gì thay đổi: Phúc Aâm cho mọi người trên khắp thế giới.
- Chúng ta phục vụ Chúa và truyền giảng Đạo Chúa cho đến ngày Chúa Cứu thế Giê-su trở lại thế gian này trong vinh quang.
Bài 25.
- Các môn đệ được sai đi truyền giảng Nước Đức Chúa Trời và chữa lành bệnh tật cho dân chúng.
- Một trong những bổn phận của một môn đệ của Chúa là làm chứng, truyền giáo cho mọi người về Chúa Cứu Thế và Nước Đức Chúa Trời.
- Tin theo Chúa Giê-su gồm có phần nghe Ngài giảng dạy và thực hành những gì mình học được từ Chúa. Ở đây chúng ta thấy các môn đệ, không phải chỉ 12 sứ đồ mà sau này 72 môn đệ của Ngài đều đi ra truyền giáo. Tại hội thánh đầu tiên các chấp sự và tín hữu đều làm chứng, truyền giáo.
- Chúa Giê-su đem các môn đệ ra nơi vắng, tránh đám đông để nghỉ ngơi sau chuyến truyền giáo của họ.
- Chúa Giê-su là một người, Ngài kinh nghiệm đói, khát, mệt nhọc và cần nghỉ ngơi. Chúa cũng không đòi hỏi các môn đệ của Ngài làm việc quá sức và cần có thì giờ yên tỉnh, nghỉ ngơi.
- Dù muốn nghỉ ngơi, Chúa Giê-su đã không từ khước tiếp đón và dạy dỗ, chữa bệnh cho đám đông khi họ đến với Ngài.
- Tinh thần của Chúa Giê-su là tiếp đón, dạy dỗ, giúp đỡ cho tất cả những người đến với Ngài. Chúa không từ khước giúp đỡ những người đến với Chúa.
- Hội thánh của Chúa cũng cần phải có tinh thần hoan nghênh, tiếp đón tất cả những người đến với hội thánh. Hội thánh của Chúa không nên khước từ người đến với Chúa dù là để tìm hiểu, hay vì tò mò hay vì một động lực nào khác. Nếu Hội thánh giảng dạy Lời Chúa, Lời Chúa sẽ thay đổi, chữa lành mọi bệnh tật tâm linh của một người.
- Chúa Giê-su đã giảng dạy Lời Chúa , Nước Đức Chúa Trời và chữa lành bệnh tật cho những người đau yếu trong mục vụ của Ngài.
- Ngày nay hội thánh cũng có thể theo tinh thần của Chúa Giê-su giảng dạy Lời Chúa hay Phúc Aâm và làm những việc từ thiện, y tế giúp đỡ đồng bào. Đây là những việc hội thánh có thể làm thường xuyên.
- Chúa Giê-su hóa bánh cho trên năm ngàn người ăn là một việc đặc biệt trong hoàn cảnh đặc biệt, các sách Phúc Aâm chỉ ghi lại có hai lần Chúa Giê-su làm phép lạ hóa bánh cho đám đông dân chúng trong suốt chức vụ của Ngài trên đất.
- Việc hóa bánh cho nhiều người ăn chứng tỏ Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời, Đấng thần nhân, có quyền năng siêu nhiên trên vật chất, thiên nhiên.
Nhưng cung ứng cho đám đông đang bị đói và không thể kiếm mua đồ ăn cũng chứng tỏ lòng thương xót, từ ái của Chúa Cứu Thế trước nhu cầu cơm ăn, áo mặc của con người.
Chúa Giê-su đến thế gian chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu tâm linh cho con người nhưng Ngài cũng không bỏ qua nhu cầu vật chất của con dân Ngài.
Bài 26
- Phê-rơ tuyên xưng Chúa Cứu thế và sự hóa hình của Chúa Giê-su đều xảy ra khi họ đang cầu nguyện.
- Sự hiểu biết thiêng liêng và kinh nghiệm sự vinh quang huyền diệu của Nước Đức Chúa Trời đều xảy ra trong môi trường cầu nguyện, tức là trong môi trường thiêng liêng. Cầu nguyện là cây cầu ngắn nhất để có mối liên hệ gần gủi, thân cận với Chúa và dễ cảm nhận kinh nghiệm sự hiện diện của Chúa cùng sự hiểu biết thiêng liêng trong đời sống tín hữu.
- Đa số dân chúng công nhận Chúa Giê-su là một tiên tri. Điều này đúng nhưng chưa đầy đủ.
- Phê-rơ và các môn đệ nhận biết Chúa Giê-su là Chúa Cứu Thế, Con Đức Chúa Trời hằng sống. Sự hiểu biết này mới hoàn toàn đúng và đầy đủ. Sự hiểu biết của đám đông dân chúng là hời hợt, nông cạn; sự hiểu biết của các môn đệ mới sâu xa và có tính cách thiêng liêng.
- Nếu một người công nhận rằng Chúa Giê-su là một vĩ nhân, điều này đúng nhưng chưa đủ để khiến họ trở nên tín hữu của Chúa Giê-su.
- Những học giả hay tín đồ theo khuynh hướng tự do cũng giống như đám đông kia, họ chưa phải là tín hữu của Chúa Giê-su và chưa được cứu rỗi. (dù họ là những người theo đạo)
- Chúa Giê-su dạy, ai muốn hteo Ngài phải từ bỏ mình, chịu chết đi cái tôi và dục vọng tư kỷ và tuân theo sự dạy dỗ của Ngài.
- Người muốn cứu đời sống mình bằng những nỗ lực, công đức của riêng mình thì không thể nào làm nỗi, vì thế người đó sẽ chết mất trong tội lỗi mình.
- Chúa muốn nói đến sự chọn lựa của một người giữa sự sống vĩnh phúc, nước Đức Chúa Trời so với những ân phúc, quyền lợi, ưu tiên, vật chất của thế gian hay được thế gian chấp nhận.
- Hổ thẹn về Chúa: không dám công khai nhận mình là tín hữu của Chúa Giê-su hoặc vì sợ bị chê bai hay bắt bớ, ngược đãi.
Hổ thẹn về Đạo Chúa: Không dám công nhận sự dạy dỗ của Chúa Giê-su là đúng và sống theo lời Chúa dạy.
- Nếu có ai nói rằng Chúa sẽ không trở lại thì chúng ta chỉ việc trích câu Lu-ca 9:26 chính Chúa Giê-su tuyên bố để xác chứng. Ngoài ra Kinh Thánh Tân Ước cũng có nhiều câu khác dạy dỗ về sự tái lâm của Chúa Giê-su. Math 24:29-31; Mác 13:14-27; Lu-ca 21:20-28; Công Vụ 1:11
- Chúa Giê-su muốn Phê-rơ, Gia-cơ và Giăng biết chắc rằng Chúa chính là Chúa Cứu Thế của Đức Chúa Trời và kinh nghiệm được một phần nào sự vinh quang, phước hạnh của Nước Đức Chúa Trời.
- Có lẽ Phê-rơ kinh nghiệm được phước hạnh và vinh quang trong Nước Trời nên muốn cứ ở đó.
- Tiếng phán từ trời để xác nhận với các môn đồ rằng Chúa Giê-su chính là Chúa Cứu Thế, Con Đức Chúa Trời và đồng thời cũng điều chỉnh sự hiểu biết thiếu sót của Phê-rơ và các môn đệ; họ cho rằng Chúa Giê-su ngang hàng với Môi-se và Ê-li. Lời phán xác nhận rằng Chúa Giê-su cao cả, siêu việt hơn hai vị thánh cựu ước kia.
- Nếu bạn không thể tin Chúa Giê-su được thì bạn chưa phải là tín hữu thật của Chúa Cứu Thế nhưng có lẽ đức tin của bạn cũng chỉ giống như đám đông dân Do Thái kia.
Bài 27.
- Chúa Giê-su, Phê-rơ, Gia-cơ và Giăng lên núi cầu nguyện.
- Những môn đệ còn lại ở dưới đồng bằng đang cãi nhau với những chuyên gia Kinh Luật Do Thái. Theo bối cảnh câu chuyện có lẽ họ đang tranh luận, biện hộ về việc đuổi quỉ, chữa bệnh mà họ đã không làm được.
- Theo Ma-thi-ơ các môn đệ không đuổi quỉ được vì thiếu đức tin.
- Chúa Giê-su đã ban cho 12 sứ đồ quyền năng đuổi quỉ và chữa bệnh (Lu-ca 9:1) và họ đã thực hành thành công mỹ mãn trong chuyến truyền giáo đầu tiên (Lu-ca 9:6).
- Các môn đệ còn lại ở dưới đồng bằng đã không cầu nguyện (Mác 9:28-29) nên không có quyền năng Chúa đã ban cho họ trước đây.
- Chúng ta phải cầu nguyện mới có quyền năng siêu nhiên để phục vụ Chúa và làm các mục vụ giúp đỡ tha nhân.
- Chúa Giê-su quở trách cả thế hệ người Do Thái thời bấy giờ kể cả các môn đệ của Ngài. Hãy chú ý ở đây Chúa Giê-su không quở trách nạn nhân.
- Cha của em bé cũng không có đức tin nhưng ông đã nhận biết sự khiếm khuyết của mình và cầu xin Chúa ban thêm đức tin cho ông.
- Chúa không muốn ở cùng và chịu đựng những kẻ vô tín và đồi trụy.
- Triết lý của Chúa Cứu Thế là nhập thế, không phải tu thân hay hưởng vinh quang trên núi thánh. Mục đích của Ngài là đi vào xã hội, giải cứu con người ra khỏi sự áp bức, đau khổ của ma quỉ và tội lỗi.
- Chúa Giê-su chữa bệnh xong Ngài giao em bé cho cha em, cho thấy Chúa có đầy lòng thương xót; Ngài quí trọng tình cảm gia đình, cha con.
Chúa cũng muốn chứng tỏ cho thấy Ngài đáp lời cầu xin của người cha đã nhận biết mình thiếu đức tin và cầu xin với Ngài.
- Chúng ta cần cầu nguyện xin Chúa ban thêm cho chúng ta đức tin nếu mình cảm thấy mình thiếu đức tin để sống và phục vụ Chúa.
- Lu-ca cho thấy mục đích của ma quỉ la đàn áp, làm cho người bị ám đau đớn, khổ sở.
- Chúa Giê-su có quyền uy chiến thắng ma quỉ. Ngài muốn thấy con dân Ngài cũng có quyền uy chiến thắng ma quỉ. Mác và Giăng nói rõ con dân Chúa có Chúa trong lòng nên sẽ chiến thắng ma quỉ.
- Nếu bạn là con dân thật của Chúa (người đã được tái sinh) thì bạn đương nhiên có Chúa Thánh Linh trong lòng và nhờ quyền năng của Ngài bạn có thể chiến thắng ma quỉ hay nói một cách khác bạn sẽ không sợ bị ma quỉ ám hại.
Nếu bạn nói rằng mình không có quyền năng chiến thắng ma quỉ thì có lẽ vì bạn chưa có đức tin hoặc chưa biết tin cậy vào quyền năng nơi Chúa Cứu Thế Giê-su. Đọc Mác 16:16-18; 1Giăng 4:3-4
Bài 28.
- Chúa báo trước rằng Ngài sắp bị người Do Thái bắt và xử tử .
- Các môn đệ vẫn tưởng rằng Chúa Giê-su sẽ lên là vua giải phóng dân Do Thái như là Đấng Cứu Tinh của họ. (họ hiểu Đấng Cứu Tinh theo nghĩa chính trị, quân sự và kinh tế chứ không phải tâm linh) vì họ đang tranh giành chức vị lớn trongnội các của Chúa.
- Có thể những người này chỉ theo đạo Chúa nhưng chưa được tái sinh, đổi mới tâm trí để hiểu biết những điều thiêng liêng.
Thư Cô-rinh-tô nói đến những tín đồ phàm tục, không chú tâm đến những vấn đề thuộc linh.
Một số tín hữu khôngđể tâm, thì giờ học hỏi Lời Chúanên không hiểu biết ý Chúa, chương trình và mục đích của Ngài cho mình cho hội thánh Ngài.
- Người được coi làvĩ đại trong Nước Chúa là người có mối liên hệ thân thiết với Chúa, khiêm nhường và hết lòng phục vụ Chúa và tha nhân.
- Người từ khước Chúa Giê-su là từ khước Đức Chúa Trời, Đấng sai Ngài đến thế gian cứu rỗi nhân loại.
- Không nên ngăn cấm họ.
- Người Sa-ma-ri không tiếp Chúa Giê-su vì Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem. Người Sa-ma-ri thờ Chúa trên núi Giê-ri-sim, không phải Giê-ru-sa-lem.
- Gia-cơ và Giăng có thể còn tinh thần kỳ thị người Sa-ma-ri; lòng nhiệt thành về Đấng Mê-si-a củangười Do Thái và về sự vinh quang danh dự của Chúa Cứu Thế bị xúc phạm.
- Sứ mệnh của ChúaCứu Thế là cứu rỗi không phải đoán xét; thời đại của Chúa Cứu Thế là thời đại tình thương, ân huệ, hy vọng không phải đoán xét, hủy diệt.
- Giá thứ nhất: Sẵn sàng chịu nghèo khổ, thiếu thốn, bị thế gian từ khước để theo Chúa.
- Chúa dạy thái độ chọn lựa ưu tiên trong cuộc sống khi tin theo Chúa nhưng không nhất thiết là tất cả những người theo Chúa đều phải sống nghèo khổ, thiếu thốn, không nhà cửa.
- Giá thứ hai: Tính cách ưu tiên và khẩn cấp của việc truyền bá Phúc Aâm so với những việc chăm sóc, phục vụ người chết về tâm linh.
- Điều này hàm ý có rất nhiều người chết về tâm linh, họ có thể lo cho những người chết tâm linh, nhưng chỉ có những môn đệ của Chúa Giê-su mới đem lại sự sống vĩnh phúc cho nhân loại.
- Giá thứ ba: Sự tận hiến, hết sức chú tâm vào công việc Chúa, việc Nước Trời.
- Người theo Chúa nhưng còn lưu luyến thế gian, ham mến những giá trị của thế gian sẽ không có hiệu quả trong đời sống phục vụ Chúa và hội thánh Ngài.
Bài 29.
- Chúa Giê-su muốn chứng tỏ rằng Ngài muốn tất cả môn đệ (tín hữu) của Ngài cũng truyền báo đạo Chúa. Mat 28:18-20
- Hãy cầu nguyện để Chúa sai thêm thợ gặt vào đồng lúa của Ngài. Tức là hãy cầu nguyện để tất cả những người tin nhận Chúa sẽ trở thành thợ gặt, hay người truyền đạo Chúa.
- Vì hội thánh Việt Nam chúng ta có quá ít tín hữu tích cực chia sẻ niềm tin hay trở thành người truyền đạo Chúa cho đồng bào mình.
- Truyền đạo Chúa và huấn luyện người tin Chúa trở thành những người truyền đạo Chúa.
- Chúng ta sống và truyề đạo Chúa giữa thế gian giống như cừu con hiền lành ở giữa lang sói hung dữ, độc ác nhưng chúng ta có Chúa ở cùng.
- Người có hành trang nhẹ nhàng sẽ chú tâm thi hành sứ mệnh khẩn cấp của Chúa thay vì quá lo cho cuộc sống vật chất hay khoa trương đời sống vật chất.
- Phúc Aâm Nước Trời là sứ điệp cứu rỗi, bình an và chữa lành.
- Chúa dạy rằng người làm việc thuộc linh, dạy dỗ, rao truyền Lời Chúa cần được chu cấp đầy đủ vì những giá trị thuộc linh cũng quí giá như những công việc vật chất hay xã hội thông thường.
- Ví Phúc Aâm là sự khải thị lớn lao, rõ ràng và sẵn sàng ngay trước mặt về ân huệ cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
- Khước từ Chúa Giê-su là khước từ chính Đức Chúa Trời và ân huệ cứu rỗi của Ngài.
- Sự kiện tên của con dân Chúa đã được ghi trong sổ sự sống trên thiên đàng là niềm vui lớn lao hơn cả những quyền năng và thẩm quyền tín hữu có.
- Một người đãtin nhận Chúa Giê-su làm Chúa Cứu Thế và vâng lời Ngài thi hành sứ mệnh Ngài truyền, kinh nghiệm được những quyền năng Chúa ban cho như các môn đệ kia.
- Chúa Giê-su vui mừng ca ngợi Đức Chúa Cha vì chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã được khải thị và tiếp nhận cũng như lưu truyền qua những người tầm thường.
- Câu 22 nói lên Chúa Giê-su có tất cả thẩm quyền của Đức Chúa Cha; Ngài là sự khải thị trọn vẹn của Đức Chúa Cha và sự liên hệ giữa Chúa Cứu thế Giê-su và Đức Chúa Cha là một sự liên hệ thân thiết như Giăng đãghi lại lời Chúa Giê-su phán: “Ta với Cha là một.” Gi 10:30
- Chúng ta biết chắc chắn rằng sẽ có tận thế và ngày phán xét cuối cùng vì Chúa Giê-su đã dạy nhiều lần trong các sách Phúc Aâm cũng như trong đoạn này vậy.
Bài 30.
- Có lẽ chuyên gia này muốn thử sự hiểu biết Kinh Luật của Chúa Giê-su vì Ngài không phải là người chuyên môn nghiên cứu Kinh Luật tại kinh đô Giê-ru-sa-lem như ông.
- Chúa công nhận chuyên gia kia hiểu đúng nhưng Ngài cũng nhấn mạnh rằng ông phải thực hành những điều đó nữa thì mới đầy đủ.
- Chúa Giê-su nhấn mạnh đến hai lần vấn đề thực hành Lời Chúa (câu 28 và 37) vì hiểu đúng là điều cần và tốt nhưng chưa đủ.
- Vào thời đó cũng có hai quan niệm về người “lân cận”; vì thế chuyên gia này muốn biết xem Chúa Giê-su quan niệm như thế nào. Có lẽ ông mong rằng Chúa Giê-su cũng như đa số người Do Thái thời đó chủ trương “người lân cận” là người Do Thái đồng chủng và đồng hương; như thế ông sẽ có cơ hội biện minh cho mình rằng ông theo đúng Lời Chúa.
- Thầy tế lễ và người Lê-vi thiếu tình yêu thương, không có tinh thần giúp đỡ người bị nạn và ích kỷ.
- Theo Chúa Giê-su người cần sự giúp đỡ của chúng ta chính là người lân cận của chúng ta bất kể người đó là ai, thuộc chủng tộc hay quốc gia nào. Nói chung là tất cả mọi người chúng ta đối diện và tiếp xúc.
- Một người lân cận nhân từ là người thấy nhu cầu của người liên hệ và sẵn lòng đáp ứng nhu cầu của người đó với lòng yêu thương và không đặt điều kiện .
- Chúa đã nhắc nhở đến hai lần rằng “phải thực hành” dù chuyên gia Kinh Luật đã trả lời đúng cả về Kinh Thánh lẫn trong trường hợp nạn nhân bị cướp nhưng ông ta đã không tự nhiên công nhận người Sa-ma-ri là nhân từ vì vẫn còn thành kiến kỳ thị.
- Theo Chúa Giê-su, yêu kính Chúa thì sẽ yêu thương đồng loại.
- Qua câu chuyện ngụ ngôn người Sa-ma-ri, tình yêu thương không phải chỉ là lời nói suông hay cảm xúc nhất thời mà là hành động thương xót, bằng lòng tốn kém, mất thì giờ, tốn công để giúp đỡ người có nhu cầu.
- Người chuyên gia Kinh Luật, thầy tế lễ và người Lê-vi chỉ theo nghi thức tôn giáo nhưng không có hành động yêu thương thật sự vì thế họ sẽ không có sự sống vĩnh phúc.
- Người tín hữu ngày nay cũng không thể hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí yêu kính Chúa và yêu thương người lân cận như mình được.
- Người tín hữu của Chúa Giê-su ngày nay cũng không làm nổi hai điều răn kia, nhưng tín hữu của Chúa Giê-su khác hơn những người chuyên gia Kinh Luật, thầy tế lễ và Lê-vi ở vài điểm căn bản sau:
a. Tín hữu công nhận rằng mình làm không nổi, tức là công nhận rằng mìnhtội lỗi, khiếm khuyết, thiếu mất vinh quang nguyên thủy của Chúa khi tạo nên con người. Rô 3:23
b. Tin cậy nơi hồng ân và côngđức của Chúa Cứu Thế Giê-su, là Đấng chu toàn mọi điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời.
c. Nhờ quyền năng của Chúa Giê-su để yêu Chúa và yêu thương người khác.
- Nếu bạn tin cậy Chúa Cứu Thế Giê-su làm Cứu Chúa và Chủ tể đời mình bạn sẽ biết chắc chắn mình được sự sống vĩnh phúc. 1Giăng 5:10-13
Có Đức Thánh Linh trong lòng làm ấn bảo chứng cho chúng ta. Ê-phê-sô 1:13-14
Được đổi mới và sống theo ý Chúa. Rô 12:1-2; 2Cô 5:17
Bài 31.
- Ma-thê là người hiếu khách, siêng năng và muốn tiếp đãi Chúa và các môn đệ chu đáo.
- Những môn đệ học với thầy mình vào thời đó.
- Chúa không từ khước dạy dỗ và cho phép phụ nữ ngồi học chung với các nam môn đệ của Ngài; đây là một quan niệm cách mạng và bất thường vào thời trọng nam khinh nữ lúc ấy.
- Ma-thê bực mình vì mình phải làm việc một mình và chỉ có cô mới phục vụ Chúa còn Ma-ri không làm gì cả. Ma-thê cũng có thể cho rằng Chúa không nhạy cảm và thấy nan đề của cô em để bảo cô ấy giúp Ma-thê.
- Chúa Giê-su không bảo Ma-ri phải giúp Ma-thê vì nan đề của Ma-thê là bị công việc không cần thiết lôi cuốn làm mất thì giờ để làm những công việc quan trọng hơn.
- Chúa Giê-su không có ý dạy Ma-thê phải chọn một trong hai việc, nhưng cần chọn theo ưu tiên quan trọng và thì giờ họ có để làm các công việc một cách thích đáng. Sau đó Giăng cho chúng ta thấy Ma-thê vẫn làm cơm khách đãi Chúa Giê-su và các môn đệ tại nhà anh mình là La-xa-rơ mà không hề than phiền.
- Việc học hỏi Lời Chúa và thờ phượng là tốt và cần yếu.
- Chúa sẽ không khen thưởng người có quan niệm sai lầm như thế.
- Vì người đó thiếu sự tương giao với Chúa Giê-su; làm việc Chúa để người khác nhận thấy và tự cao, cho mình mới là người phục vụ Chúa.
- Vì Ma-ri đã chọn phần ăn thiêng liêng và nhận Lời Chúa vào lòng nên không ai có thể đoạt mất được.
- Những người này có quan niệm sai lầm rằng tỉnh nguyện, tương giao với Chúa, học hỏi Lời Chúa và thờ phượng Ngài là những việc tốt nhưng phụ thuộc, không cần thiết.
- Vì sâu kín trong tâm trí bạn cho rằng những việc tỉnh nguyện, học hỏi Lời Chúa và thờ phượng Chúa không phải là những việc quan trọng, cần yếu và có giá trị cao trong đời sống mình nên bạn không để thì giờ cho những việc đó.
Cũng có thể bạn chưa có mối liên hệ, tương giao gần gủi, thân thiết với Chúa nên bạn chưa có những kinh nghiệm ngọt ngào, bình an khi ra mắt Chúa, tỉnh nguyện, tương giao với Ngài. Bạn chỉ đi nhà thờ vì thói quen hay vì sợ mắc tội.
Bài 32.
- Chúa muốn chúng ta có mối liên hệ gần gủi, thân thiết với Đức Chúa Trời.
- Người cầu nguyện cùng Chúa phải tôn kính danh Chúa và giữ gìn danh Chúa thánh khiết và tôn vinh.
- Con dân Chúa phải có mục đích sống hợp ý Chúa và sống để xây dựng Nước Chúa cho đến khi hoàn thành. Lý do chúng ta được cứu và còn sống trên trần thế là để hoàn thành sứ mệnh của Chúa Cứu Thế, hoàn tất Nước của Đức Chúa Trời. Vì thế những gì chúng ta cầu xin phải hợp với ý muốn hoàn thành Nước Trời. Người không biết vàkhông để ý đến nước Đức Chúa Trời có thể là người chưa được tái sinh.
- Con dân của Chúa phải để Chúa trên hết, có ưu tiên cao nhất trong cuộc sống. Chúng ta cần phải nhớ đến bổn phận tôn kính danh Chúa và gìn giữ danh Ngài thánh khiết. Chúng ta là công dân Nước Trời nên phải để quyền lợi và mục đích của Nước Trời trước quyền lợi vật chất của cá nhân.
- Chúa là Đấng chu cấp tất cả nhu cầu của chúng ta, từ vật chất đến tâm linh.
- Chúa muốn chúng ta biết nương cậy Chúa mỗi ngày và không tham lam.
- Chúa muốn chúng ta xin cả vật chất cả tâm linh vì trong Mat. 4:4 Chúa nói rõ chúng ta sống nhờ cả hai thứ thực phẩm, vật chất lẫn tâm linh (Lời Chúa).
- Tội lànợ trước mặt Chúa.
- Chúng ta phải tha thứ người khác.
- Chúa muốn chúng ta tha thứ tất cả những người vi phạm chúng ta.
- Vì chúng ta không đủ sức tự mình chiến thắng quyền năng của tội lỗi, ma quỉ và xác thịt yếu đuối.
- Chúng ta có thể không đủ sức vượt qua những thử thách như bị bắt bớ, bách hại và bội đạo hay sa ngã.
- Chúng ta nên mạnh dạn đến với Chúa để cầu xin Ngài giúp đỡ và kiên trì cầu nguyện.
- Chúng ta hãy xin Chúa; chúng tahãy tìm kiếm ý Chúa và sự hiện diện của Ngài trong đời sống mình; chúng ta cũng hãy tìm kiếm những cơ hội để sống cho Chúa và nhận ân phúc của Chúa.
- Cha trên trời của chúng ta là Đấng ân huệ, nhân từ và yêu thương hơn bất cứ một người cha nào trên trần thế này. Vì thế Chúa luôn luôn ban cho chúng ta điều tốt nhất cho chúng ta; nhưng không có nghĩa là điều chúng ta thích hay mong muốn nhất. Chúa Giê-su đã về trời vì thế Chúa Thánh Linh là Đức Chúa Trời Ngôi Ba, Đấng Chân Lý, Khôn Ngoan và Quyền Năng để giúp đỡ, hướng dẫn chúng tasống một cuộc sống sung mãn và thành công cho Chúa cho đến khi Ngài tái lâm.
Bài 33.
- Dân chúng rất kinh ngạc khi thấy Chúa Giê-su làm phép lạ đuổi quỉ câm.
- Phép lạ làm dân chúng ngạc nhiên; nhưng chỉ có một số người tin Chúa, một số khác nghi ngờ và không tin nhưng cho rằng Chúa Giê-su dùng ma thuật của quỉ vương.
- Những người Pha-ri-si và các chuyên gia Kinh Luật, tức là những người lãnh đạo Do Thái giáo và trí thức thời đó.
- Họ cho rằng Chúa Giê-su dùng quyền năng của quỉ vương để làm phép lạ.
- Chúa Giê-su có thể hiểu rõ những tư tưởng trong lòng người ta. Đây là một bằng chứng cho thấy thần tính của Chúa Giê-su.
- Chúa Giê-su đã dùng ba lý luận đểchứng minh rằng Ngài dùng quyền năng của Đức Chúa Trời:
a. Chúa dùng quyền năng của Đức Chúa Trời để phá hủy, giải cứu người bị quyền năng của ma quỉ áp chế. Sa-tan không bao giờ dùng quyền năng của nó để phá nó.
b. Quyền năng của Chúa để làm điều tốt lành, không phải để làm hại, áp chế loài người như ma quỉ.
c. Một số người Do Thái cũng nhờ quyền năng của Chúa để làm phép lạ (như Môi-se, tiên tri Ê-li) vậy những vị đó sẽ phán xét những kẻ cáo rằng Chúa Giê-su dùng quyền của ma quỉ.
- Chúa Giê-sutại đây cũng như nhiều chỗ khác xác định rằng Sa-tan va ma quỉ là có thật.
- Sa-tan và ma quỉ đang hoạt động để áp chế loài người.
- Chúa Giê-su đã đến và làm phép lạ giải cứu con người ra khỏi sự khống chế của ma quỉlà bằng chứng Nước Đức Chúa Trời đã đến trên thế gian.
- Chính Chúa Giê-su là người đã chiến thắng Sa-tan và ma quỉ. Ngài cũng ban cho con dân Chúa những ân tứ để hoạt động phục vụ Ngài và mở mang Bước Đức Chúa Trời.
- Người đã tin nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế và Chủ Tể đời sống mình sẽ không bịqủi ám vì có Chúa trong lòng. Chúa Thánh Linh trong lòng tín hữu là Đấng quyền năng, vĩ đại hơn Sa-tan và ma quỉ; Ngài không để ma quỉ đụng đến con cái Ngài. Trái lại tín hữu có đức tin có thể cầu nguyện đuổi quỉ ra khỏi những người bị quỉ ám. Trên thực tế có nhiều người tín hữu nhưng xa cách Chúa nên bị ảnh hưởng của ma quỉ trong một thời gian, nhưng khi ăn năn, đến với Chúa sẽ mạnh mẽ sống theo Chúa.
- Loài người không thể đứng trung lập, hoặc tin theo Chúa hoặc thuộc về ma quỉ dù người đó có biết và công nhận hay không. Chúa Giê-su đã phán: “Người nào phạm tội là nô lệ của tội lỗi.” Giăng 8:34 và Sa-tan đang cai trị thế gian chống nghịch lại Đức Chúa Trời. “cả thế gian đều nằm trong sự kiểm soát của ma quỉ” 1Giăng 5:19
- Những người đã nhận ân phúc của Chúa nhưng không hoàn toàn tin Ngài sẽ rơi vào tình trạng tệ hại hơn vì không có ai bảo vệ họ chống lại sự xâm chiếm của ma quỉ.
- Tín hữu của Chúa Giê-su cần chia sẻ, giới thiệu Chúa Cứu Thế cho người chưa biết Chúa để họtin và được giải thoát khỏi sự áp bức của ma quỉ, được đưa vào Nước Đức Chúa Trời cũng như được Chúa bảo vệ .
Bài 34.
- Người nào nghe và vâng giữ Lời Chúa còn có phước hơn là người cưu mang vàsinh thành Chúa Cứu Thế.
- Nghe Lời Chúa và vâng giữ lời Chúa quan trọng hơn là ngưỡng mộ Ngài như một bà nọ đã bày tỏ ý ca ngợi công sinh thành của mẹ Ngài.
- Muốn được nhiều ân phúc của Chúa chúng ta phải học hỏi Lời Chúa (nghe) và thực hành những điều Chúa dạy , tức là vâng theo Lời Chúa.
- Số người ngưỡng mộ Chúa Giê-su ngày càng đông nhưng đám đông chỉ đến nghe Ngài vì tò mò, vì muốn tìm kiếm phép lạ nhưng sâu kín trong lòng họ không tin và sau đó ít lâu chính đám đông đó đã nghe theo lời những người lãnh đạo Do Thái giáo của họ hô to: “Đóng đinh nó lên thập tự giá, đóng đinh nó lên thập tự giá.” Lu-ca 23:21
- Vì họ có thể tin Giô-na nhờ lời Chúa (Kinh Thánh) và họ có Lời hằng sống và là Con Đức Chúa trời ngay trước mặt họ nhưng họ không tin. Đức Chúa Trời đã cho họ nhiêu bằng chứng giá trị vì thế họ không cần thêm bằng chứng dấu lạ để có thể tin.
- Vì họ được nhiều bằng chứng quan trọng và giá trị hơn tiên tri Giô-na; chính người Do Thái cũng có nhiều đặc ân hơn những dân tộc ngoại quốc khác (Người Do Thái có sự khải thị của Đức Chúa Trời cho họ, Kinh Thánh Cựu Ước, các tiên tri giảng dạy) nhưng họ vẫn không tin nên sẽ bị hình phạt nặng hơn.
- Chúng ta tin rằng có ngày phán xét và hỏa ngục đời đời vì Kinh Thánh dạy như thế và vì chính Chúa Giê-su cũng xác nhận như thế.
- Chúa Giê-su được so sánh với tiên tri Giô-na và vua Sa-lô-môn; Ngài quan trọng và siêu việt hon hai nhân vật kia nhiều.
- Người Do Thái được đối chiếu với người ngoại quốc (Ni-ni-ve và nữ hoàng Sê-ba, người ở phía nam A-ra-bia) vàthấy thua kém hơn họ về đức tin.
- Người Ni-ni-ve đã nghe sứ điệp của Giô-navà ăn năn nên thoát được hình phạt của Chúa.
- Chúa Giê-su không làm dấu lạ như người Do Thái muốn vì họ đã có chính Ngài và lời Ngài dạy dỗ, đây là những bằng chứng và dấu lạ quan trọng nhất và giá trị nhất. Nếu họ không tin được Con Đức Chúa Trời hiện diện trước mặt họ thì họ cũng không thể tin dấu lạ.
- Aên năn làthay đổi thái độ về tội lỗi và muốn quay trở lại với Đức Chúa Trời.
Một người không thể tin cậy Chúa Giê-su mà không cần ăn năn về tội lỗi của mình và quay lại với Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su chính là Đức Chúa Trời Ngôi Hai, nếu một người chưa chịu công nhận rằng mình có tội và quay trở lại với Ngài thì làm sao tin cậy Ngài được.
Trên thực tế có nhiều người theo đạo vì nhiều lý do khác nhau, những người này có thể cũng như đám đông người Do Thái thời bấy giờ, theo Chúa vì tòmò, ngưỡng mộ Ngài, nhưng không tin cậy Ngài để được đổi mới về tâm linh lẫn đạo đức.
- Đa số người ngoại đạo và một số người tự xưng là có đạo nhưng không có ánh sáng của Chúa vì họ không tìm kiếm ánh sáng chân lý, tức là không học hỏi Lời Chúa. Một số khác không có ánh sáng vì mắt thuộc linh của họ vẫn còn đui mù hay bị những dục vọng ich kỷ, tội lỗi che khuất.
- Tin Chúa và học hỏi Lời Chúa và thực hành Lời Chúa trong đời sống.
- Tình trạng thuộc linh của một người tùy thuộc vào sự học hỏi, thu nhận Chân Lý Chúa.
Bài 35
- Chúa lên án người Pha-ri-si về đời sống đạo đức giả, chỉ chuộng hình thức bên ngoài có vẻ đạo đức, tin sạch theo nghi lễ tôn giáo nhưng trong lòng vẫn gian ác, tội lỗi. Những người Pha-ri-si là những người không đáp ứng lời kêu gọi của Chúa Giê-su để ăn năn, hối cải về những tội lỗi của họ.
- Ngày nay có nhiều người tự xưng là Cơ Đốc nhân, đi xem lễ mỗi tuần, giữ đủ các nghi lễ tôn giáo nhưng thái độ thì kiêu ngạo, lòng vẫn đầy những tội lỗi, gian ác, không vâng phục Lời Chúa dạy.
- Những người Pha-ri-si chỉ dâng phần mười nhưng thiếu tình yêu thương và công lý. Con dân của Chúa phải làm cả hai, không nên như người Pha-ri-si chỉ nhấn mạnh việc thi hành những luật lệ phần mười mà bỏ qua những nguyên tắc sống quan trọng tức là tình yêu thương và công lý.
- Chúa Giê-su dạy rằng “các ông cần phải làm các điều này nhưng đừng bỏ các điều kia”. Như vậy Chúa Giê-su không dạy hãy bỏ việc dâng một phần mười nhưng phải thi hành cả hai, tức là tình yêu thương và công bình chính trực nữa.
- Chúa lên án tính kiêu ngạo và lòng tham danh vọng của người Pha-ri-si.
- Mộ người chết là nơi chứa thịt xương hư nát, nơi đầy ô uế. Người nào đụng đến xác chết sẽ phải ô uế đến bảy ngày. Mộ được xây cất, quét vôi sạch sẽ bên ngoài nhưng bên trong vẫn ô uế; đó là hình ảnh của người Pha-ri-si.
- Các chuyên gia Kinh Luật đặt ra nhiều điều cho dân chúng giữ Kinh Luật của Chúa nhưng không làm gì giúp họ giữ nỗi. Ngoài ra các chuyên gia Kinh Luật cũng có cách giải thích mộtsố điều để tránh thi hành một số điều răn của Chúa mà người thường thiếu hiểu biết Kinh Luật không biết. Vì thế họ cũng phạm tội đạo đức giả.
- Các chuyên gia Kinh Luật và người Pha-ri-si khi từ khước sứ điệp của Chúa Giê-su,vị tiên tri vĩ đại nhất từ Trời, họ đã đồng lõa với tổ tiên họ từ khước và bắt bớ các tiên tri thời xưa.
Ở đây Chúa Giê-su cũng có thể nói tiên tri trước sự bắt bớ và hành quyết Ngài trên cây thập tự sau đó ít lâu của giới lãnh đạo Do Thái.
- Các chuyên gia Kinh Luật tự xưng làhiểu biết Đức Chúa Trời nhưng thật ta họ không biết Ngài, vì nếu biết Đức Chúa Trời thì họ đã nhận biết Con Ngài, tức là Chúa Cứu Thế do Đức Chúa Trời sai đến với họ. Vì hiểu biết sai nên họ không có mối liên hệ thật với Chúa và ngăn cản người ta đến với Đức Chúa Trời.
- Những người chỉ biết Chúa Giê-su như một vĩ nhân, không phải Con Đức Chúa Trời hằng sống và đã sống lại từ cõi chết; hiện đang sống và sẽ trở lại để đoán xét và cai trị thế gian, đó là kiến thức lịch sử chết về ChúaGiê-su. Người có sự sống đời đời có đức tin nơi Chúa Giê-su sống, có mối liên hệ sống và gần gũi với Chúa, vâng phục Ngài và sống cho Ngài.
- Không phải tự xưng là Cơ Đốc nhân và làm theo một số qui luật của giáo hội là tín hữu của Chúa; phải tin cậy và có mối liên hệ cá nhân với Chúa Giê-su cũng như vâng phục và sống cho Ngài, như các môn đệ của Chúa vậy.
- Những người này chỉ có hình thức và qui luật tôn giáo bên ngoài nhưng trong lòng không thật sự tin cậy Đức Chúa Trời và không tin sứ điệp của Chúa Giê-su để ăn năn tội.
- Kiến thức sai lầm về Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế Giê-su đưa đến sự hủy diệt.
Bài 36
- Trong giai đoạn này dù Chúa đang rất phổ thông nhưng Ngài biết Ngài sắp bị giới lãnh đạo Do Thái bách hại nên Chúa chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ trước.
- Những người đạo đức gỉa chỉ chú trọng đến bề ngoài, nhưng trong lòng đầy dẫy gian ác.
Họ giữ nhữngđiều răn của loài người nhưngquên những điều lớn của Chúa là tình yêu thương và công lý. Người đạo đức giả thích được trọng vọng kính nể nơi công cộng. Ngừơi đạo đức giả thích dạy người khác đủ điều và buộc người ta làm nhưng chính mình tìm cách tránh né, không làm theo. Những người đạo đức giả chỉ hùa theo ngoài miệng, chỉ nghe theo đám đông về những tiên tri của Chúa nhưng thực sự thì chống đối những sự dạy dỗ của các tiên tri.
Người đạo đức giả thường cho rằng mình biết hết Lời Chúa và về Chúa nên dạy những người khác làm theo. Nhưng thật ra họ không biết đúng và làm sai vì thế chính họ không thể vào Nước Chúa và họ cũng ngăn cản người khác vào.
- Không có gì bí mật sẽ không bị phơi bày vào ngày phán xét.
- Không có gì tốt làm một cách kín đáo mà Chúa không biết và sẽ bị che giấu mãi. Nên chúng ta phục ụ Chúa thì Chúa thấy và biết tất cả.
- Vì người phàm không thể hại phần linh hồn của con người.
- Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời hiện thân trong thân xác và dạy như thế nên chắc chắn có hỏa ngục và sự hình phạt đời đời.
- Chúa là đấng quan tâm, chăm sóc ngay cả những con chim sẻ bé mọn, rẻ tiền, huống gì Ngài lại không quan tâm, chăm sóc con dân Ngài hơn sao?
- Đức Chúa Trời là Đấng biết hết mọi chi tiết trong đời sống chúng ta và Ngài quan tâm, chăm sóc cho con dân Ngài.
- Người không dám tuyên xưng Chúa Cứu Thế của mình sẽ không được công nhận trước mặt Đức Chúa Trời và các thiên sứ Ngài.
- Người không dám tuyên xưng Chúa Cứu Thế Giê-su là Chúa của mình chứng tỏ người đó chưa có đức tin thật nơi Chúa; người có thể chỉ công nhận rằng những gì Ngài dạy là đúng nhưng không dám sống theo Chúa.
- Phạm tội chống Đức Thánh Linh là tiếp tục từ khước những sứ điệp của Chúa Thánh Linh về Phúc Aâm cứu rỗi trong Chúa Giê-su và về Chúa Giê-su để được tha tội, được cứu rỗi.
Vì Chúa thánh Linh là Ngôi Ba Đức Chúa Trời, là Đấng sau cùng đến thế gian để thuyết phục con người tin Chúa Giê-su, nên khước từ thánh Linh thì không còn Đấng nào khác để giúp con người đến với Chúa và được cứu rỗi.
- Đức Chúa Trời là Đấng quyền năng, Ngài biết hết tất cả mọi sự và Ngài quan tâm, chăm sóc con dân Ngài. Cho nên khi bị loài người bách hại, bắt bớ con dân Chúa biết nương nhờ nơi Chúa gìn giữ, hướng dẫn và bảo vệ. Ngoài ra loài người không thể hại phần linh hồn của con dân của Chúa, nên thể xác dù bị giết, con dân Chúa vẫn có thể về với Chúa đời đời.
- Chính Chúa Cứu Thế Giê-su là biểu tượng và thực chất của tình yêu thương; không có ai trên thế giới này có thể yêu thương nhân loại hơn Chúa Giê-su. Nhưng Ngài cũng dạy rằng sẽ có hỏa ngục cho những kẻ ác và từ khước ơn cứu rỗi của Ngài. Đức Chúa Trời có hỏa ngục để trừng phạt kẻ ác vì Ngài không những chỉ là Chúa yêu thương nhưng Ngài cũng là Đức Chúa Trời thánh khiết và công bình; Ngài thưởng người lành và phạt kẻ ác.
Bài 37
- Người này và có lẽ cả dân chúng coi Chúa Giê-su như là một giáo sư Do Thái giáo (Rabbi) hiểu biết về Kinh Thánh và giải thích Kinh Thánh.
- ChúaGiê-su chọn không làm việc phân xử vụ chia gia tài vì sứ mệnh của Ngài là sứ mệnh thiêng liêng, không phải vấn đề của cải cá nhân. Đây là vấn đề ưu tiên của Chúa chứ không phải Chúa Giê-su và Kinh Thánh chống lại việc chia gia tài. Hội thánh đầu tiên và Phao-lô đều đề cập đến vấn đề xã hội và tranh tụng.
- Từ “tham lam” ở đây có nghĩa là”muốn có thêm mãi, không bao giờ đủ”.
Webster’s: Dục vọng thái quá để lấy hay được giàu có. Dục vọng có nhiều hơn là nhu cầu cần thiết hay đáng có.
Đại từ điển tiếng Việt: Ham muốn quá đáng. Quá mức cần thiết.
- Chúa Giê-su cảnh cáo chúng ta đề phòng “mọi” thứ tham lam. Những thứ tham lam thông thường như: Tham tiền; tham danh; tham quyền hành; tham địa vị; tham của cải v.v.
- Một đời sống thật sự sung mãn gồm cả vật chất, những mục đích, giá trị, ý nghĩa tinh thần, đạo đức và tâm linh.
- Người điền chủ kia chỉ nghĩ về của cải và về chính mình nhiều nhất.
- Chúa Giê-su và Kinh Thánh không hống lại việc suy nghĩ, hoạch định trái lại khuyến khích con người nên làm điều này trong niềm tin cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng chủ tể và yêu thương, chăm sóc chúng ta.
- Người điền chủ này bị coi là ngu dại vì: Tham lam vật chất của cải; không biết rằng Chúa Trời là đấng nắm vận mạng của con người; đời sống không phải đo lường bằng vất chất mà thôi; Chúa là sở hữu chủ vạn vật, không phải con người. Chúa cho con người quản gia sự vật.
Người điền chủ này hết sức ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình mà không quan tâm gì đến người khác.
- Người bị Chúa coi là ngu dại không thể lên thiên đàng được.
- Con người có sự sống đời đời nên cần đầu tư vào sự sống đời đời trên thiên đàng.
Giàu có trong Nước Đức Chúa Trời khi chúng ta để nhiều thì giờ, năng lực, tài năng của mình cho Chúa sử dụng trong Nước của Ngài và làm lợi, phát triển Nước của Chúa; sử dụng đời sống mình để đem được nhiều người vào nước Đức Chúa Trời và làm vinh danh Chúa.
- Bạn biết rõ nhất và Chúa cũng biết bạn đã làm được gì cho Nước Đức Chúa Trời từ khi bạn trở thành con dân của Chúa?
- Người ta có thể đầu tư trong Nước Chúa bằng nhiều phương diện:
- thì giờ: Cầu nguyện
- học Kinh Thánh
- chia sẻ niềm tin- làm việc hội thánh
- nhân danh Chúa làm việc từ thiện, xã hội.
- khả năng, tài năng cho công việc Chúa.
- tiền bạc để truyền giáo, xây dựng công việc Chúa.
Bài 38
- Vì Chúa ban cho chúng ta một đời sống quí giá, vĩnh cửu và Cha chúng ta sẽ chu cấp cho con dân Ngài.
- Lo lắng thái quá là triệu chứng của một người thiếu đức tin nơi Đức Chúa Trời, Đấng chu cấp mọi sự cho thế giới và sinh vật trên thế giới này.
- Người có trách nhiệm lo làm việc để hoàn tất công việc đã được giao cho mình. Người lo lắng thái quá không ngớt lo sợ mình sẽ thiếu ăn, nghèo đói hay không có việc làm và để hết thì giờ lo lắng, bất an vì công việc làm ăn vật chất.
- Con chim quạ và hoa dại là những vật không có giá trị là bao so với đời sống con người nhưng Đức Chúa Trời cũng đã chăm sóc chúng; vì thế đời sống con người do Chúa tao nên, Ngài hãn phải quí hơn con chim quạ và hoa dại.
- Lo lắng không tăng thêm cho đời sống một giây phút nào, trái lại làm suy giảm tinh thần, hại cho sức khỏe tinh thần lẫn thể xác.
- Người chỉ lo về vật chất đời này là bằng chứng cho thấy họ giống như những người ngoại đạo, không có Đức Chúa Trời và không có sự sống vĩnh phúc.
- Một người tín hữu của Chúa Giê-su chắc chắn phải tin rằng Ngài có quyền và đang chu cấp cho đời sống mình. Bằng chứng hùng hồn nhất là người tín hữu thật của Chúa sẽ không bao giờ để 100% đời sống mình lo về vật chất mà thôi, nhưng cũng để thì giờ, năng lực, tài nguyên Chúa ban cho mình để làm công việc tâm linh trong nhà Chúa và cho Nước Đức Chúa Trời nữa.
- Tiền tài vật chất là điều cần cho sự sống vật chất nhưng đời sống vĩnh phúc quí giá hơn và gia tài, phần thưởng trên trời quí giá và vĩnh cửu còn vật chất và đời sống vật chất là ngắn ngủi, tạm bợ.
- Tôi không đặt đời sống vật chất này là ưu tiên duy nhất trong đời sống và không để hết thì giờ, năng lực, tài lực cho đời sống vật chất mà thôi nhưng cũng để thì giờ, năng lực, tài lực cho đời sống tâm linh và cho công việc đời đời của Đức Chúa Trời.
- Hãy tìm kiếm và làm công việc tâm linh vĩnh cửu cho Nước Đức Chúa Trời.
- Không. Một người tìm kiếm và làm việc cho đời sống tâm linh và cho Nước Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ lo chăm sóc và chu cấp những nhu cầu vật chất cho người đó. Vì nếu Đức Chúa Trời ban cho chim chóc, hoa dại và cho người ngoại đạo, vô tín thực phẩm thì Ngài lại để cho con cái yêu dấu của Ngài chết đói sao? Hãy phân biệt nhu cầu đủ sống và sự giàu có; Chúa không hứa ban cho mọi con cái Ngài sự giàu có về của cải, vật chất.
Từ hai ngàn năm nay hàng ngàn, hàng triệu con dân Chúa sẵn sàng làm chứng cho sự thành tín chăm sóc của Đức Chúa Trời của họ.
- Có nhiều lý do để giải thíchtình trạng này:
a. Những người này chỉ là người theo đạo, nhưng chưa có sự sống vĩnh phúc trong lòng.
b. Những người này không coi sự sống vĩnh phúc và phần thưởng tâm linh trên trời là giá trị và quan trọng hơn đời sống vật chất.
c. Những người này thiếu sự tin cậy Đức Chúa Trời, là Đấng có quyền và vui lòng chăm lo, chu cấp những nhu cầu cần thiết cho họ.
Bài 39
- Chúng ta tin rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại thế gian này bằng thân thể phục sinh của Ngài vì các Sứ Đồ được Ngài dạy như thế. Mat 24:30; Mác 13:26; Công Vụ 1:11
Những người cho rằng Chúa chỉ trở lại trong tâm linh hay thần linh của Ngài là những người không tin Lời Kinh Thánh và không tin rằng Chúa Giê-su đã sống lại thực sự, chỉ thần linh của Chúa hiện hữu.
- Không ai biết ngày giờ nào Chúa sẽ tái lâm; Chúa cũng sẽ trở lại một cách bất ngờ cho nhiều người.
- Tín hữu của Chúa tin chắc rằng Chúa mình sẽ trở lại, phải thức canh và sẵn sàng đón tiếp Chúa trở lại.
- Người tín hữu nên làm việc chu toàn trách nhiệm trong nhà hay Vương quốc Chúa mà Ngài giao phó cho mỗi con dân Ngài trong khi chờ đợi Ngài trở lại thế gian này.
- Người tín hữu trung tín sẽ được dự tiệc cưới Chiên Con (Khải 19:9) trong thiên đàng và được chính Chúa Cứu Thế cho ngồi đồng bàn và phục vụ mình.
- Người quản gia trung tín là người biết chủ sẽ trở về bất cứ lúc nào; có trách nhiệm và chu toàn trách nhiệm của mình; đối xử tử tế đối với gia nhân của chủ.
- Một trong những phước hạnh trong nước thiên đàng là có trách nhiệm lớn hơn; quản trị gia tài của Chúa.
- Đầy tớ bất trung là người cho rằng chủ sẽ về trễ; lợi dụng địa vị và trách nhiệm Chúa giao cho để hiếp đáp người khác; sống ích kỷ, đồi trụy vì thế không ngờ được thì giờ chủ sẽ về.
- Vì hình phạt cho đầy tớ bất trung là hình phạt cho kẻ vô tín cho nên họ là những đầy tớ giả hình, những giáo sư giả, hai lòng, vô tín, chỉ theo đạo vì quyền lợi vật chất và hình thức bên ngoài. Đây là hình ảnh của những người Pha-ri-si, những thầy tế lễ Do Thái thời bấy giờ; họ có danh, có hình thức tôn giáo và có địa vị lãnh đạo (quản gia) dân Chúa nhưng không có lòng tin. Ngày nay cũng có nhiều người trong hội thánh của Chúa cũng có thái độ, tư tưởng và hành động và nếp sống giống như người quản gia bất trung kia.
- Chúa sẽ thưởng và phạt một con dân Chúa tùy theo sự hiểu biết Chúa và ý chỉ Ngài nhiều hay ít. Người biết mà không làm sẽ bị phạt nặng hơn là người không làm vì không biết hay vô tình. Ở đây nói đến nhiều tín hữu tin Chúa nhưng không cócơ hội, dịp tiện để học biết về Ngài nhiều hơn nhưng họ vẫn làm công việc Chúa.
- Chúa thưởng và phạt con dân Ngài dựa trên sự hiểu biết Ngài và biết ý chỉ Ngài. Điều này cũng dựa trên sự giả định rằng người tin Chúa thật lòng sẽ tự nhiên khao khát hiểu biết Chúa và ý chỉ chương trình, mục đích của Ngài nhiều hơn và người tín hữu thật sẽ sống phước hạnh hơn khi ngày càng hiểu biết Chúa và sống giống như Chúa hơn; người đó cũng tìm thấy hạnh phúc nhiều hơn khi làm theo ý chỉ của Chúa. Người tín hữu lâu năm, có thì giờ, dịp tiên nhưng không muốn và không học hỏi để biết Chúa và chương trình, mục đích của Ngài cho đời sống mình tự nó là một tội lỗi và là một tai họa( Ô-sê 4:6).
Bài 40
- Chúa Giê-su đem sự cứu rỗi đến cho mọi người nhưng có người nhận, có người từ khước ân huệ cứu rỗi vì thế nên có sự phân rẽ giữa người nhận ân cứu rỗi để trở thành con dân Chúa và những người từ khước ân huệ của Chúa nên sẽ bị phán xét.
- Chúa Cứu Thế đem bình an nội tâm đến cho mọi người nhưng chỉ có những người tiếp nhận thì mới có bình an, còn những người từ khước ân cứu rỗi sẽ phải chịu hình phạt. Sự phân rẽ là hậu quả do sự chọn lựa của mỗi người đối với ân huệ cứu rỗi chung cho mọi người.
- Một người phải yêu Chúa hết lòng thì mới có thể được cứu rỗi. Thường một người yêu Chúa thì cũng sẽ yêu thương gia đình hơn. Nhưng nếu gia đình chống đối Chúa và muốn người tín hữu bỏ Chúa để theo họ thì người tín hữu đó không thể bỏ Chúa, theo gia đình mà vẫn được cứu rỗi vì gia đình không chết thay cho người đó và không thể cứu rỗi người đó. Bạn có thể vẫn yêu thương gia đình nhưng không làm theo điều ác (chống Chúa) của họ.
- Chúa biết rằng đa số người Do Thái sẽ từ khước Ngài và sứ điệp cứu rỗi của Ngài.
- Báp-tem trong bối cảnh này ám chỉ về sự chết của Chúa Cứu Thế sắp xảy ra.
- Dù biết rằng đa số dân Do Thái sẽ từ khước mình và sứ điệp của Đức Chúa Trời, Chúa Giê-su vẫn kiên trì, trung tín thi hành sứ mệnh mà Cha giao phó cho Ngài tại trần thế.
- Sứ mệnh Chúa giao cho bạn: Hãy đọc Mat. 28:18-20
- Chúng ta phải trung tín truyền bá Phúc Aâm cứu rỗi cho đồng bào, đồng loại dù họ chấp nhận hay từ khước vì đó là sứ mệnh Chúa giao cho mỗi con dân Ngài thi hành cho đến khi Ngài trở lại.
- Người Do Thái bị trách là đạo đức giả vì họ có dịp tiện và có khả năng nhận biết những công việc Đức Chúa Trời đang hành động qua Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-su trước mặt ho, nhưng họ đã không muốn chấp nhận Con Đức Chúa Trời và sứ điệp của Ngài.
- Thời đại hiện nay là thời đại ân sủng và cứu rỗi, cũng là thời đại cuối cùng trước ngày tận thế và phán xét tối hậu.
- Hãy đọc Lu-ca 12:35-48
- Một người có khả năng và dịp tiện để biết ân huệ và ý chỉ của Đức Chúa Trời nhưng không làm theo sẽ bị gọi là kẻ đạo đức giả và bị hình phạt nặng nề hơn.
- Ví dụ này cho thấy sự cứu rỗi (tha nợ tội lỗi) là dễ dàng hơn so với nỗ lực đạo đức cá nhân để thi hành đầy đủ luật lệ. Nhận ân huệ cứu rỗi do tình yêu thương của Chúa thì dễ hơn là thi hành toàn vẹn luật lệ thánh khiết của Ngài.(Thật ra không ai làm nỗi)
Giải quyết mọi nan đề bằng ân huệ và tình yêu thương bao giờ cũng dễdàng hơn là theo luật lệ nghiêm khắc.
Bài 41
- Quan niệm thông thường của nhiều người Do Thái thời bấy giờ cho rằng những vụ chết thảm là kết quả của tội lỗi nặng mà các nạn nhân có thể đã phạm trước đây.
- Chúa Giê-su bác bỏ quan niệm này; Ngài dạy rằng tất cả dân Do Thái đều có tội, cần ăn năn. Loài người không nên lên án, đoán xét người khác. Không phải tất cả những vụ thảm sát là hình phạt do Đức Chúa Trời trừng phạt. Những kẻ ác cũng có thể gây ra nhiều vụ thảm sát.
- Không. Nếu cho rằng người bị thảm sát hay tai họa thiên tai là vì họ phạm tội nặng thì chúng ta đã tiếm vị Đức Chúa Trời để lên án và đoán xét người khác. Chúa Giê-su cho thấy những người ở tại thủ đô Giê-ru-sa-lem cũng chẳng tốt đẹp gì hơn những người bị tháp Si-lô-ê đè chết. Nhìn trong lịch sử Hội Thánh, đa số các sứ đồ và nhiều tín đồ Chúa trong hội thánh đầu tiên đều bị chết thảm, Gia-cơ bị chặt đầu, Phê-rơ bị đóng đinh ngược, Phao-lô bị chặt đầu, Thô-ma bị thui trong lò lửa...
- Một số người thánh của Chúa cũng đã chịu chết thê thảm. Chết về thể xác không nhất thiết là hình phạt của Chúa định. Chết về tâm linh đời đời chắc chắn là hình phạt bi thảm dành cho người không ăn năn tội lỗi.
- Chúa Giê-su cảnh cáo người Do Thái về tội lỗi và thái độ không ăn năn của họ.
- Cây nho, cây vả thường tượng trưng cho người Do Thái, tuyển dân của Đức Chúa Trời và sau này cũng tượng trưng cho dân Chúa nói chung.
- Xem phần lược giải.
- Chúa mong đời sống tín hữu phải có kết quả cho Ngài.
- Kết quả đạo đức của một tín hữu là đổi mới giống như Chúa Cứu Thế (Ê-phê-sô 4:1-5:20) và có bông trái của Chúa Thánh Linh.(Ga-la-ti 5:22-24)
- Kết quả thuộc linh là đem nhiều người về cùng Chúa trong công tác làm muôn dân trở thành môn đệ của Chúa Cứu Thế.
- Chúa Giê-su kêu gọi dân Do Thái lúc bấy giờ cũng như mọi người hôm nay, cá nhân cũng như một dân tộc, con đường duy nhất là ăn năn tội lỗi và tin cậy Ngài để được tha thứ tội lỗi và thoát khỏi hình phạt đời đời.
- Có thể Chúa Giê-su đã cảnh cáo và phán tiên tri về sự cứng đầu của dân Do Thái; họ không chịu ăn năn và từ khước Chúa Cứu Thế cho nên họ đã bị hủy diệt và lưu đày biệt xứ vào năm 70 sau Công Nguyên, tức là sau đó chừng 30 năm.
Bài 42.
- Chúa Giê-su đang dạy dỗ Kinh Thánh trong hội đường vào ngày Sa-bát.
Chúng ta nên học hỏi hay dạy dỗ Kinh Thánh cho mình và cho người khác.
Chúng ta nên để ngày nghỉ thờ phượng Chúa tại nhà Chúa.
- Quỉ Sa-tan là một nhân vật (vô hình) có thật vì Kinh Thánh xác nhận như thế; vì Chúa Giê-su đã đối diện, chống trả và hủy diệt mọi công tác và ảnh hưởng của nó. Ngoài ra ngày nay cũng còn bằng chứng của sự hiện diện và hoạt động củama quỉ và Sa-tan.
- Một người ngoại đạo, không có Chúa có thể bị quỉ ám tức là bị ma quỉ khống chế, kiểm soát lý trí lẫn hành động. Kinh Thánh đã ghi chép lại nhiều trường hợp bị quỉ ám và ngày nay cũng có nhiều trường hợp như thế xảy ra.
- Một tín hữu của Chúa Giê-su không bao giờ có thể bị quỉ ám vì người đó đã có Chúa thánh Linh ngự vào lòng và Chúa Thánh Linh là Đấng vĩ đại hơn ma quỉ, Ngài bảo vệ con cái Ngài.
1Giăng 4:4
- Ma quỉ đã làm cho bà kia bị bệnh cong xương sống hay bại liệt bắp thịt ở lưng. Không phải tất cả mọi bệnh tật đều do ma quỉ gây ra vì đa số bệnh tật là do vi trùng hay hư hại các bộ phận trong thân thể.
- Chúa Giê-su đã đặt tay trên người bệnh và phán với bà để chữa lành cho bà kia.
- Chúa Giê-su có quyền năng để chữa bệnh tật và cũng có quyền năng để giải thoát con người ra khỏi quyền năng áp bức, buộc trói của Sa-tan.
- Trong hội đường có ba nhóm người có phản ứng khác nhau về phép lạ chúa Giê-su đã thực hiện :
1/ Ngưiời đàn bà được lành bệnh nên vui mừng ca ngợi Đức Chúa Trời.
2/ Ngừơi quản lý hội đường và những người cùng quan điểm với ông là những người bực tức vì họ coi trọng luật lệ truyền thống của Do Thái giáo hơn là con người. Những người này không những không tin vào phép lạ của Chúa Giê-su làm mà còn chống đối Ngài.
3/ Đa số dân chúng vui mừng vì thấy việc quyền năng và vinh quang của Chúa Giê-su.
- Luật Pháp của Chúa về ngày sa-bát là để giúp con người nghỉ ngơi về phần thể xác và thờ phượng Chúa nhưng những luật lệ người Do Thái đặt thêm ra làm gánh nặng và ngăn cản sự giúp đỡ con người nên không thể đúng được. Ngừơi Do Thái nào câu nệ các luật lệ truyền thống của họ hơn là giúp đỡ một người bệnh tật thoát khỏi đau khổ bệnh tật là kẻ đạo đức giả, vô nhân; vì trong truyền thống của họ có cho phép dẫn lừa đi uống nước trong ngày Sa-bát.
- Chúa Giê-su đã giải thoát một người ra khỏi xiềng xích của quỉ Sa-tan và chữa lành bệnh cho một người đàn bà đã bị bệnh 18 năm. Đây là công việc vinh quang của Ngài.
- Tín hữu của Chúa Giê-su ngày nay nên làm việc từ thiện để cứu người ra khỏi đau khổ về bệnh tật, thể xác; truyền bá Phúc Aâm của Chúa Giê-su để giải cứu con người ra khỏi tội lỗi và sự chết đời đời, đó là những việc được coi là công việc vinh quang trước mặt Chúa.
Bài 43
- Nước Đức Chúa Trời bắt đầu nhỏ bé nhưng chắc chắn sẽ lớn mạnh như hạt cải trở thành cây cải.
- Tất cả mọi người từ mọi dân tộc đều có thể trú ẩn hay làm tổ, nhờ sự che chở, bảo vệ và cứu rỗi của Đức Chúa Trời; không phải chỉ có người Do Thái mà thôi.
- Qua ngụ ngôn này Chúa Giê-su cho thấy người ta được cứu rỗi không phải vì huyết thống nhưng vì sự đáp ứng lời kêu gọi của Chúa Cứu Thế và tin cậy Ngài.
- Ngụ ngôn này cho thấy sinh trưởng trong gia đình tín hữu là một đặc ân, một dịp tiện tốt để tin Chúa và theo Ngài chứ không ai có thể tự động được cứu rỗi nhờ thuộc dòng dõi người tín hữu.
- Ngụ ngôn men cho thấy:
a. Phúc Aâm Nước Đức Chúa Trời là điều bé nhỏ như men nhưng khi đã vàotrong xã hội thì sẽ gây ảnh hưởng lớn và chắc chắn.
b. Tác động của men cũng như của Phúc Aâm có thể không thấy nhưng chắc chắn có xảy ra và làm thay đổi cả đống bột hay cả xãhội.
c. Men thay đổi từ bên trong. Phúc Aâm thay đổi lòng người trở nên mới và thánh khiết.
- Theo ngụ ngôn này Chúa muốn thay đổi lòng người từ bên trong cá nhân, không phải thay đổi đám đông, xãhội từ bên ngoài, hay bằng luật lệ, kinh tế hay vũ lực.
- Trên đường đi lên Giê-ru-sa-lem trong những ngày cuối của cuộc đời mình Chúa Cứu Thế Giê-su vẫn kiên trì, trung tín dạy dỗ dân chúng.
- Ngụ ngôn cửa hẹp cho thấy:
a. Không phải tất cả người Do Thái lúc ấy đều sẽ được cứu, chỉ có một số ít đáp ứng lại lời kêu gọi của Chúa Cứu Thế Giê-su.
b. Đối với người Do Thái lúc ấy thời gian chỉ còn ít và cửa cơ hội sẽ đóng lại. Đối với chúng ta trong thời đại ân huệ cũng sẽ đến lúc tận thế.
c. Người duy nhất được cứu là người có liên hệ đức tin với Chúa Cứu Thế Giê-su, không phải liên hệ huyết thống, chủng tộc, quốc gia, ở cùng địa điểm; làm những việc của Hội thánh Ngài làm, hay hội viên của hội thánh.
d. nhiều người ngoại quốc sẽ tin Chúa Giê-su và được vào Nước Trời cũng như được vinh dự ngồi cùng bàn với các tổ phụ đức tin.
- Nếu bạn đã tin cậy và sống theo điều Chúa dạy bạn sẽ biết chắc rằng mình đã được cứu.
Xem 1Giăng 5: 11-13 Vì tin và làm theo lời hứa của Chúa, không phải vì cảm xúc mơ hồ.
- Vì họ chỉ ở trong nước Do Thái, là người Do Thái nhưng không tin nhận Chúa Giê-su làm Chúa Cứu Thế của họ.
- Chúa nói tiên tri về sự chết của Ngài tại Giê-ru-sa-lem và dân Do Thái sẽ bị lưu đày, nhà cửa họ sẽ bị hoang phế. Cà hai điều này đều đã xảy ra:
-Chúa Giê-su bị vu cáo và đóng đinh chết trên cây thập tự.
- Nước Do Thái bị quân La Mã tàn phá và thành Giê-ru-sa-lem cũng như đền thờ bị san bằng năm 70 S.C.N. toàn dân Do Thái bị tản lạc, lưu đày biệt xứ cho đến năm 1947 mới lập quốc lại.
- Chúng ta còn cơ hội hãy tin cậy Chúa và truyền bá Phúc Aâm cho đến khi Chúa đến.
Bài 44
- Truyền thống của Do Thái giáo traí với mục đích của ngày Sa-bát. Chúa đặt nên ngaỳ nghỉ làđể giúp íchcho con người; bảo vệ cho con người, không phải hại con người. Truyền thống Do Thái thiếu tình thương.
- Chữa bệnh là điều cứu giúp, giữ gìn sức khoẻ cho con người, hành động thể hiện tình thương. Nên cấm việc giúp đỡ, bảo vệ sức khoẻ của con người là trái với mục đích củaluật ngày Sa-bát (nghỉ ngơi).
- Vì họ biết rằng truyền thống của họ sai lầm, thiếu tình thương.
- Hành động của Chúa bày tỏ tinh túy của Đạo Đức Chúa Trời, đó là tình yêu thương cứu giúp con người.
- Mười điều răn của Chúa lập ra là để giúp ích, bảo vệ con người, không phải để cấm đoán, hại con người.
- Con dân của Chúa nêncó thái độ khiêm nhường và khôn ngoan để khỏi bị mất mặt và hổ thẹn trước đám đông hay công cộng.
- Con dân của Chúa nên sống rộng rải, mở rộng sự giao tiếp với mọi người, kể cả người thấp kém hơn mình. Không nên chỉ thù tạc với những người có thể trả ơn .
- Hành động từ thiện vìtình yêu thương không mong người nhận trả ơn thì mới được Chúa trả ơn.
- Những người nhận lời mời tin cậy Con Đức Chúa Trời.
- Vì họ đã khước từ ChúaCứu Thế, Con Đức Chúa Trời.
- Chúa Giê-su đang mới tất cả mọi người trên thế giới vào Nước Thiên Đàng.
- Chúa dùng lối nói thậm xưng để nhấn mạnh đến sự quan trọng và ưu tiên trong mối quan hệ với Ngài.
- Người thật sự tin cậy Chúa là người môn đệ Chúa. Người theo Chúa thật cố gắng vâng phục Ngài trong đời sống mình.
- Phải được tái sinh, tức là tin cậy Chúa làm Chúa Cứu Thếđời sống mình. Muốn giữ muối trong đời sống phải học hỏi Lời Chúa, tăng trưởng trongđời sống thánh hoá, thờ phượng và phục vụ Chúa.
Bài 45
- Thái độ của những người lãnh đạo Do Thái giaó đối với người tội lỗi là khinh khi, không giao tiếp và xa lánh.
- Người chăn chiên nếu để mất chiên sẽ phải đền cho chủ nếu không phải do thú dữ tấn công và người chăn không thể bảo vệ tất cả đàn.
- Người chăn chiên sốt sắng đi tìm và hân hoan vui mừng khi tìm được chiên đi lạc.
- Đức Chúa Trời và thiên đàng hân hoa vui mừng khi một người ăn năn trở về cùng Chúa.
- Chúa Giê-su đã đi ra tìm kiếm tội nhân để đem về cùng Chúa.
- Chúa Giê-su yêu thương tội nhân, không khinh bỉ họ nhưng đi đến với họ, giao tiếp với họ và vui mừng đón tiếp họ khi họ ăn năn quay về cùng Chúa. Giới lãnh đạo Do Thái giáo khinh bỉ, không tiếp xúc, tránh xa và không vui mừng khi người tội lỗi ăn năn.
- Ngườ cha là người yêu thương con, tha thứ và vui mừng khi con ăn năn trở về cùng gia đình.
- Người con biết mình hư hỏng, phạm tội với Chúa và cha, xưng nhận sự sai lầm, chấp nhận trách nhiệm về hậu quả của sự hư hỏng; người con chỉ xin ân huệ của cha,xin làm người làm công thấp nhất, không dám đòi hỏi quyền lợi gì cả.
- Người con cả là con nhưng sống như nô lệ, không có tình thương em, không hiểu nổi ân huệ, câu nệ hình thức đạo đức, giận dữ không chính đáng, không hiểu tấm lòng của cha mình và không thể chung vui với gia đình.
- Chúng ta phải có tình yêu thương, sốt sắng đi ra tìm kiếm tội nhân; không kỳ thị, khinh khi và không tránh giao tiếp với họ dù chúng ta cần thận trọng không để bị ảnh hưởng điều xấu.
- Ngày nay một số tín hữu khinh bỉ những người sống tội lỗi, tránh xa không giao tiếp với họ (không quen biết, có bạn người ngoại đao); không có lòng thương xót, đi ra tìm kiếm những người hư mất để đem họ về cùng Chúa.
Một số tín hữu không lấy gì làm vui, không quan tâm, để ý đến những người ăn năn trở về cùng Chúa.
- Chúng ta cầnbày tỏ tình yêu thương nhưng cương quyết giữ những điều mình tin và tiêu chuẩn đạo đức của Chúa với tâm tình hoà nhã, khiêm nhu. Chúng ta cần là người khởi xướng, đưatay ra trước để có những hoạt động văn hoá, từ thiện giúp đỡ mọi ngưòi thiết thực; như thế chúng ta không phải thoả hiệp trong một số điều như thờ cúng, vấn đề đạo đức của ngưòi hay cơ quan chủ xướng.
Bài 46
- Tất cả những gì chúng ta có là điều Chúa ban cho chúng ta; Ngài là sở hữu chủ của tất cả thế giới này. Loài người là những người quản gia được Chúa ban cho một số tài sản để quản trị,sử dụng cho Chúa. Sáng 1:1-31;
I-sa 66:2
- Người quản gia được chủ khen vì đã hành động tinh khôn, dùng quyền và tiền của chủ giúp đỡ những khách hàng mắc nợ chủ và chuẩn bị mở đường để người khác giúp mình trong tương lai.
- Hai bài học chúng ta cần học là: sử dụng tiền của một cách rộng rãi để giúp đỡ, phục vụ người khác. Con người cần phải sống thế nào cho đẹp lòng Đấng quyết định tương lai chúng ta và chuẩn bị cho tương lai vĩnh cửu.
- Thế gian thường dùng đủ mọi cách, mọi thủ đoạn để tạo của cải và dùng của cải để làm những việc bất chính, trái với ý Chúa. Ngoài ra tiền tài cũng là chủ của đa số người trên trần thế nên Lu-ca gọi của cải trần gian là của cải bất chính.
- Trung tín với Chúa nghĩa là tin cậy Ngài trong cuộc sống, để Ngài làm Chủ đời sống và chu toàn trách nhiệm của Chúa giao cho mình trong đời này. Nếu một người không trung tín trong đời sống ngắn ngủi, tạm bợ này thì sẽ không trung tín trong công việc lớn lao, lâu dài hơn trong nước vĩnh cửu.
- Nếu Chúa thật sự là chủ của bạn thì bản sẽ:
- để ngày Chúa Nhật nghỉ ngơi và thờ phượng Chúa.
- vui vẻ dâng một phần mười lợi tức của mình cho Chúa vì bạn tin rằng tất cả tài sản là của Chúa ban cho bạn quản trị, không phải của ri6ng bạn.
- Trong các quyết định bạn luôn luôn để sự vinh hiển của Chúa, việc phục vụ Chúa và làm theo mạng lệnh tối cao của Ngài là quan trọng nhất trong đời sống.
- Người Pha-ri-si là người sùng đạo,chuộng nghi lễ, đạo đức bên ngoài nhưng trong lòng là kẻ tham tiền, kiêu ngạo và vi phạm tinh thần luật Chúa trên nhiều phương diện.
Đức Chúa Trời xét trong lòng và chuộng tấm lòng yêu thương, trong sạch, khiêm tốn không phải hình thức, nghi lễ, luật lệ.
- Chúa Giê-su cho thấy Ngài chủ trương mục đích nguyên thủy của hôn nhân khi Đức Chúa Trời sáng tạo con người và thiết lập hôn nhân đầu tiên. Hôn nhân là cho suốt đời và là một giao ước ba chiều , Chúa và vợ chồng. Nguồn gốc sâu xa của ly dị là bội tín, không trung thành, chung thủy với nhau và với Chúa.
Bài 47
- Kinh Thánh cho thấy có rất nhiều người giàu có nhưng là những anh hùng đức tin và dĩ nhiên là được lên thiên đàng. Áp-ra-ham cũng là một người giàu có trong thời cổ; Người ta bị đi địa ngục vì tội lỗi của mình chứ không phải vì giàu có.
- Tội của người nhà giàu này là sống xa hoa, ích kỷ; không quan tâm, để ý đến những người cùng khổ, đói khát đến tận cửa nhà ông để xin như La-xa-rơ; người này không có lòng bác aí giúp đỡ kẻ đói khi có dư dịp tiện và cơ hội. Điều này Kinh Thánh Cựu Ước cũng dạy rõ.
- Của cải giàu có trên thế gian không giúp ích gì được cho người nhà giàu kia trong Âm Phủ.
- Câu chuyện này cùng với nhiều chỗ khác trong Kinh Thánh Tân Cựu Ước cho thấy chết không phải là hết nhưng con người còn phải ứng hầu trước toà của Đấng Phán Xét tối cao để quyết định số phận đời đời của mình.
- Theo Kinh Thánh, sau cái chết con người sẽ phải đi đến một trong hai chỗ, thiên đàng hay hoả ngục đời đời.
- Sau khi chết người nhà giàu này được chôn cất trong mộ nhưng vẫn còn ý thức và trò chuyện với Áp-ra-ham; như thế con người có cả phần linh hồn phi vật chất và có đầy đủ ý thức.
- Nhiếu người Do Thái cho rằng vì họ thuộc dòng dõi Áp-ra-ham, người được Chúa chọn, nên họ sẽ tự động được chọn và cứu rỗi. Ngày nay nhiều người cũng tin như vậy trong tôn giáo của họ. Nhưng câu chuyện này cho thấy người nhà giàu kia không những thuộc dòng dõi Áp-ra-ham (đạo dòng), và chính người cũng kêu cầu Áp-ra-ham để giúp đỡ mình thoát ra khỏi Âm phủ đau khổ nhưng không được. Vì số phận của mỗi người đã được quyết định trong đời sống và tùy theo sự đáp ứng của họ đối với mặc khải của Đức Chúa Trời.
- Nếu Áp-ra-ham, một tổ phụ công chính, một anh hùng đức tin, là người cha của giao ước và lời hứa của Đức Chúa Trời đang ở trên Trời bên cạnh Đức Chúa Trời, nhưng không thể can thiệp hay cầu khẩn thay cho người nhà giàu kia thì không ai có thể cầu thay cho người đã chết để giúp họ bớt tội và mau được thoát khỏi Âm Phủ đau khổ. Kinh Thánh nói rõ: con người phải chết rồi chịu phán xét (Hê 9:27; Khải 20:11-15).
- Đời sống trên thế gian này cùng sự đáp ứng của một người đối với mặc khải của Đức Chúa Trời, tức là Kinh Thánh Cựu Ước hay Đức Chúa Giê-su sẽ quyết định số phận của người đó trong cõi đời đời. Chết là chấm dứt mọi cơ hội cho một người để đáp ứng lại với Chúa Giê-su. Không còn cơ hội nào cho ai để ăn năn hay tin nhận Chúa Cứu Thế sau khi chết dù linh hồn những người chết vẫn còn ý thức.
- Theo như lời của Áp-ra-ham cho hay nếu một người không tin Lời Đức Chúa Trời khải thị qua Môi-se và các tiên tri thì người đó cũng sẽ không ăn năn và tin Chúa dù có người chết hiện về hay sống lại để cảnh cáo họ. Bằng chứng là La-xa-rơ, anh của Ma-ri và Ma-thê đã được Chúa Giê-su cứu sống lại nhưng các giới lãnh đạo Do Thái và đa số dân chúng vẫn không tin Chúa Giê-su.(Giăng 11:43-57).
Như thế nếu tấm lòng của một người mềm mại, cởi mở, Lời Chúa sẽ có đủ năng lực thuyết phục họ ăn năn và tin cậy Chúa để được sống đời đời. Phép lạ chỉ là những dấu hiệu, không có năng lực bằng Lời Chúa, mặc khải của Đức Chúa Trời.
Bài 48.
- Vấn đề gây vấp phạm là một điều sẽ có vì tất cả mọi người đều phạm tội và chúng ta đang sống trong thế giới tội lỗi.
- Số phận của người cố ý gây vấp phạm, tức là những người biết rõ hành động gây vấp phạm hay gây bội đạo là khủng khiếp hơn cả sự chết thảm khốc về thể xác. Vì tự mình phạm tội là một điều ác nhưng gây cho hay lôi cuốn người khác phạm tội thì sẽ chịu trách nhiệm nặng hơn vì thế sẽ chịu hình phạt nặng hơn.
- Kẻ bé mọn ở đây nói đến người mới tin Chúa hay còn non nớt về đức tin vì Ma-thi-ơ nói rõ “những kẻ bémọn tin Ta” Math 18:6
- Con dân Chúa phải cảnh giác về vấn đề quở trách người phạm tội vì người ta có thể lạm dụng, hặc làm không đúng cách và gây thương tổn cho người khác. Vấn đề tha thứ cho người ăn năn cũng không phải là việc dễ làm đối với đa số chúng ta néu không được ân huệ và tình yêu thương của ChúaGiê-su đổ đầy trong lòng.
- Tín hữu của Chúa Giê-su luôn luôn sống với người khác và sống trong cộng đồng con dân Chúa. Cộng đồng con dân Chúa có chung một mục đích là sống công chính và thánh thiện như Chúa Giê-su. Vì thế mỗi tín hữu đều có trách nhiệm giúp đỡ người khác tiến bộ hay ít ra cũng sống theo một tiêu chuẩn chung của Chúa. Khuyến cáo người phạm tội là một hành động xây dựng nếu làm vì động lực yêu thương và làm đúng cách.
- Nếu mục đích của người khuyến cáo hay quở trách là xây dựng, không phải ha ïnhục hay làm thương tổn thì người ta sẽ làm theo ba nguyên tắc trong Ma-thi-ơ 18. Gặp riêng, mời một hai người chứng đối chất với người phạm tội để thuyết phục người đó ăn năn và sẵn sàng tha thứ họ.
- Chúa muốn chúng ta thật lòng yêu thương và tha thứ dù người kia có ăn năn bảy lần, nghĩa là có vẻ giả bộ. Chúng ta nên có thái độ chấp nhận lời tuyên xưng của một người và không nên đoán xét lòng người, điều mà chúng ta không thể biết chắc.
- Chúng ta phải sống và đối xử với người đã ăn năn tội như là một người đã được ân xá, được thanh tẩy mọi điều tội lội. Chúng ta nên bỏ qua quá khứ tội lỗi của một người và sống với tình trạng mới của người đó, đặc biệt là những người trong Chúa. 1Giăng 1:9
- Các môn đệ Chúa xin thêm đức tin mà họ đã có chứ không phải xin Chúa ban cho họ đức tin. Họ đã tin và theo Chúa nhưng đức tin của họ còn qua nhỏ bé và yếu đuối nên họ không làm được nhiều việc khó và lớn lao.
- Người tín hữu phải học hỏi, phải thực hành đức tin và vâng lời Chúa để đức tin tăng trưởng, lớn mạnh.
- Đức tin thật và sống trong Chúa Giê-su có thể làm được những việc mà người ta nghĩ rằng không thể làm; đức tin cũng có thể làm những việc lớn lao hơn là khả năng của một người có thể làm.
- Phục vụ Chúa là một bổn phận của mọi người tín hữu vì mọi người đều đã được Chúa mua chuộc bằng chính mạng sống của Con Ngài, Chúa Giê-su, nên tín hữu không thể nào có đủ công quả để trả lại cho Chúa cái giá đó . Mọi tín hữu dù có phục vụ Chúa suốt đời cũng chưa đủ đểđền đáp ơn cứu chuộc của Ngài.
- Tất cả mười người phung đều có đức tin nơi Chúa Giê-su để được chữa lành bện phung của họ. Nhưng không phải tất cả đều có đức tin nơi Chúa Giê-su để được cứu rỗi.
- Người Sa-ma-ri phung kia không những được lành bệnh phung nhưng đã trở lại tôn vinh Đức Chúa Trời và cảm ơn Chúa Giê-su nênngười này cũng được cứu rỗi nữa vì Chúa Giê-su đã phán như thế, “đức tin con đã cứu con”.
Bài 51
- Có lẽ sâu kín trong thâm tâm ông quan này biết là mình chưa làm trọn mọi điều răn để được cứu rỗi. Thật ra Phao-lô cho biết không ai có thể làm trọn mọi điều răn của Chúa để được cứu rỗi. (Rô 3:23)
- Người Do Thái không bao giờ xưng hô như thế; người ta dùng từ “nhân lành” để chỉ Lời Chúa và chính Đức Chúa Trời; vì thế Chúa Giê-su thấy ngay giả tâm, không thành thật củavị quan này. Lúc bấy giờ ngay cả các môn đệ của Chúa cũng cho rằng Chúa là một người, một vị tiên tri mà thôi. Sau này khi Chúa phục sinh họ mới biết rõ chính Ngài có thần tính.
- Chúa chỉ nêu lên những điều răn liên quan đến người với người; nhưng điều răn về tham lam và những điều răn liên quan đến Đức Chúa Trời Ngài không nêu lên. Có thể những điều răn liên quan đến Đức Chúa Trời tương đối khó kiểm chứng hơn.
- Điều này chỉ áp dụng cho vị quan kia mà thôi chứ không phải điều kiện cho mọi người. Sở dĩ Chúa bảo ông quan này phải bán hết gia tài phân phát cho người nghèo vì ông này khoe rằng ông đã giữ hết mọi điềøu răn Chúa nêu lên, nên Chúa thử ông điều răn thứ mười: Tham lam. Đối với người khác cũng giàu có như Xa-chê, Chúa không đòi hỏi Xa-chê phải bán tất cả gia tài.
- Phản ứng của vị quan: rất buồn. Các Phúc Âm khác ghi lại:ông này bỏ đi. Người này không thể được cứu rỗi vì ông không muốn tin cậy vào Chúa theo như Chúa dạy và ông bị tiền bạc, của cải nắm giữ. Người muốn được cứu rỗi phải để Chúa trên hết trong đời sống mình.
- Một người có thể có tôn giáo, đạo đức, giữ đúng nghi thức tôn giáo nhưng nếu không ăn năn, hạ mình tin cậy nơi ân huệ của Chúa bằng đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-su sẽ không thể được cứu rỗi.
“Một người được cứu rỗi là nhờ ân huệ, bởi đức tin nơi Chúa Giê-su mà thôi; không có điều kiện nào khác hay thêm điều gì vào niềm tin này.” Êph 2:8-9
- Vì người giàu có hay tham giàu khó có thể khiêm nhường và hết lòng tin cậy vào ân huệ của Chúa bằng đức tin để được cứu. Người giàu thường ỷ lại vào sự giàu có của mình. Người tham giàu có thường để tiền bạc, của cải trên Chúa; tức là tiền của là thần, là chúa của họ.
- Giàu có không phải là điều tội lỗi; trong Kinh Thánh những anh hùng đức tin, tức là những người được cứu rỗi như Áp-ra-ham, Gióp, Đa-vít, Sa-lô-môn đều là những người rất giàu .
- Chúa Giê-su đòi hỏi vị quan này hai điều: Bán hết tài sản, phân phát cho người nghèo và đi theo làm môn đệ Ngài.
- Nếu một người coi tiền bạc, giàu có quan trọng và ưu tiên hơn Đức Chúa Trời trong đời sống mình người đó không thể được cứu rỗi. Vì Kinh Thánh dạy một người tham lam hay yêu tiền bạc tức là thờ thần tượng (Côl 3:5; Êph 5:3).
- Một số người có thể đã cầu nguyện tin nhận Chúa nhưng không có thì giờ thờ phượng Chúa, không dâng hiến tiền bạc, công sức, thì giờ phục vụ Chúa và truyền bá Phúc Âm cho đồng bào nhân loại vì quá bận rộn làm ăn.
- Phước của người tin theo Chúa ngay trong đời này là sự bình an, vui mừng, hy vọng cùng mối tương giao trực tiếp, thân thiết với Chúa, với anh chị em trong đại gia đình của Chúa. Phước trong nước đời đời là phần thưởng và trách nhiệm quản trị trong Nước Thiên Đàng.
Bài 52
- Chúa Giê-su báo trước về sự thống khổ, chết và sống lại của mình cho các môn đệ nghe chứng tỏ thần tính của Chúa Giê-su và cũng chứng tỏ Ngài chính là Đấng Cứu Thế (Mê-si-a) đã được tiên tri trong Kinh Thánh Cựu Ước. Ngoài ra đây cũng là bằng chứng cho thấy biến cố này là một sự thực lịch sử chứ không phải là những huyền thoại do hội thánh sau này bày vẽ thêm ra.
- Vì những điều này ngoài sức tưởng tượng của họ. Ngoài ra các môn đệ cũng chịu ảnh hưởng của giới lãnh đạo Do Thái giáo thời bấy giờ (cho đến ngày nay) vì họ dạy rằng Đấng Mê-si-a của họ sẽ đến trong vinh quang để cai trị thế giới.
- Ngày nay có rất nhiều người là hội viên của nhiều hội thánh nhưng chưa được tái sinh, không có mối liên hệ cá nhân với Chúa Giê-su nên không có Chúa Thánh Linh trong lòng vì thế vẫn ở trong tối tăm và không biết Chúa Giê-su. (Họ chỉ biết sơ sài về Ngài).
Một số tín hữu thật nhưng không học hỏi Lời Ngài và không cầu nguyện, tương giao với Ngài nên cũng không biết rõ và đúng về Chúa Giê-su.
- Chúng ta phải khiêm nhường, tin tưởng, tìm kiếm và học hỏi Lời Chúa để biết Chúa Giê-su và chương trình của Ngài cho chúng ta cũng như nhân loại.
- Những người gọi Chúa Giê-su là người Na-xa-rét thường ám chỉ Ngài chỉ là một người và không mấy tin tưởng rằng Ngài là một tiên tri lớn được Kinh Thánh nói đến. Vì Kinh Thánh không có chỗ nào nói đến những vị tiên tri lớn đến từ Na-xa-rét. (Chúa Giê-su lớn lên và sinh sống ở Na-xa-xét nhưng Ngài được sinh ra tại Bết-lê-hem, Lu-ca 2:4-7
- Sự hiểu biết thiếu sót và sai lầm về Chúa Giê-su sẽ đưa đến thái độ và hành động sai lầm; đôi khi có hại cho việc Chúa nữa như trường hợp của đám dân đông kia và các sứ đồ xua đuổi người mù không cho anh ta đến với Chúa.
- Vị quan là người: giàu có, địa vị, đạo đức, muốn cậy vào công đức để được cứu rỗi, không tin cậy Chúa Giê-su nên không được cứu rỗi.
Người mù là người: nghèo nàn, thấp kém, bị xã hội từ bỏ, không dám cậy vào công đức , chỉ cậy vào lòng thương xót của Chúa, tin Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế và cầu xin Ngài cứu giúp nên được cứu rỗi cả phần thể xác (sáng mắt) lẫn tâm linh.
- Người mù gọi Chúa Giê-su là Con vua Đa-vít, một danh hiệu của Chúa Cứu Thế vì thế người này tin rằng chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế (Mê-si-a) của họ.
- Người mù biết mình không có gì xứng đáng, chỉ xin sự thương xót của Chúa, tin cậy Ngài là Chúa Cứu Thế có quyền năng cứu giúp mình khỏi mù.
- Người mù ca ngợi Đức Chúa Trời và đi theo Chúa Giê-su.
- Ngày nay nếu một tín hữu biết rõ và đúng đắn về Chúa Giê-su người đó sẽ cảm tạ Đức Chúa Trời, biết ơn Chúa Giê-su và sẵn sàng theo Chúa và thi hành những mạng lệnh Chúa giao cho mình.
Bài 53
- Xa-chê là người tội lỗi và bị khinh bỉ vào thời ấy.
- Xa-chê tò mò và có lẽ sâu kín trong lương tâm ông cũng muốn nghe Chúa Giê-su dạy đạo.
- Chúa Giê-su muốn cứu rỗi tất cả mọi người, kể cả những người bị xã hội ruồng bỏ, khinh khi như người ăn mày mù lòa và người thâu thuế tội lỗi này.
- Chúng ta không nên chỉ giao tiếp và giảng đạo cho những người tốt, đứng đắn mà thôi nhưng phải tìm cách truyền bá Phúc âm cho tất cả mọi người.
- Hành động phân phát nữa gia tài, đền bù cho những người bị hại chứng tỏ tấm lòng thành thật ăn năn của Xa-chê.
- Người chỉ nói bằng miệng rằng mình “tin Chúa” nhưng không có sự thay đổi tốt đẹp hơn trong đời sống có thể là người chưa tin thật hay chưa được tái sinh.
- Chúng ta biết chắc chắn rằng Xa-chê đã được cứu rỗi vì Chúa Giê-su xác nhận như thế. Xem câu 9.
- Vị quan là người rất giàu có (18:23); Xa-chê cũng giàu có. Vị quan kia là người đạo đức; Xa-chê là người tội lỗi. Vị quan là người được kính trọng trong xã hội, Xa-chê bị khinh bỉ.
Vị quan kia không đáp ứng lại lời kêu gọi của Chúa Giê-su; Xa-chê vui mừng đáp ứng lại lời kêu gọi của Chúa Giê-su và tự động phân phát tài sản cho người nghèo, đền bù lại những thiệt hại ông đã gây ra. Xa-chê chứng tỏ ông đã ăn năn, thay đổi thái độ về tiền bạc (không tham tiền của) và thương người nghèo khổ vì thế Chúa Giê-su không cần phải đòi hỏi ông bán hết tài sản.
- Phúc Âm dành cho tất cả mọi người không phân biệt giàu nghèo, địa vị, uy tín....Phúc Âm liên hệ đến tấm lòng của con người.
- Chúa Giê-su tuyên bố mục đích của Ngài ở thế gian là để tìm và cứu kẻ hư mất.
- Mục đích của tín hữu của Chúa Giê-su cũng như thế vì Ngài đã truyền mạng lệnh vĩ đại cho tín hữu trước khi về trời. Mat 28:18-20
- Chúa sẽ quở trách người đó khi Ngài tái lâm vì họ đã không biết và không vâng theo mạng lệnh của Ngài.
- Tín hữu và hội thánh thật của Chúa Giê-su luôn luôn tìm cách truyền bá Phúc Âm cho mọi người và thể hiện đức tin của mình qua nhiều việc từ thiện
Bài 54
- Người Do Thái và cả các môn đệ của Chúa tưởng rằng Chúa Giê-su sẽ vào Giê-ru-sa-lem và lên làm vua thành lập Nước Đức Chúa Trời ngay lúc ấyï.
- Ngày nay con dân của Chúa Giê-su đang ở trong thời đại ở giữa sự phục sinh thăng thiên và sự tái lâm (trở lại thế gian) của Chúa Giê-su.
- Một con dân của Chúa đã nhận được đời sống vĩnh phúc, những tài năng bẩm sinh lẫn những ân tứ thiêng liêng và ân phúc vật chất hàng ngày. (Nếu bạn là một người trung lưu ở Hoa Kỳ, bạn thuộc vào số mưới phần trăm những người giàu có nhất trên thế giới).
- Chúa Giê-su mong mỏi con dân của Ngài biết sử dụng, đầu tư, sinh lợi các tài sản, ân tứ tinh thần lẫn vật chất mà Chúa đã ban cho chúng ta.
- Chúa khen người đầy tớ thứ nhất: Được lắm, giỏi và trung tín. Người này được trao cho thêm quyền cai trị trong Nước Đức Chúa Trời.
- Người con dân trung tín của Chúa là người hiểu biết đúng Chúa, vâng lời Ngài và sử dụng, đầu tư những tài năng, ân tứ Chúa ban cho để sinh kết quả cho nhà Chúa.
- Người đầy tớ thứ ba không hiểu biết Chủ của mình, cho rằng chủ khắc nghiệt, bóc lột, tham lam. Người này không làm theo ý định của Chúa, không sử dụng, đầu tư tài sản Chúa ban cho anh ta.
- Người đầy tớ thứ ba mất nén bạc của mình vì không trung tín, không sử dụng , đầu tư nén bạc mình có.
- Theo sự dạy dỗ của ngụ ngôn này một người chỉ đi nhà thờ (không bỏ Chúa) mà thôi và không làm gì khác cho Chúa thì chưa phải là người đầy tớ trung tín theo như mạng lệnh của Chúa. Vì người này đã không sử dụng rất nhiều cơ hội, dịp tiện, thì giờ để đầu tư những tài năng, ân tứ, thì giờ, tài sản Chúa đã ban cho họ trong đời này hầu đem lại lợi ích cho nhà Chúa.
- Người đầy tớ gian ác kia có lẽ không được cứu vì theo Ma-thi-ơ anh ta bị ném vào nơi tối tăm, khóc lóc rên xiết dành cho kẻ vô tín. Ngoài ra lời quở trách “gian ác” thường dành cho người không tin Chúa.
- Ngụ ngôn này dạy nguyên tắc: Không trung tín sử dụng ân tứ Chúa cho sẽ mất luôn những gì mình tưởng mình có. Một người có khả năng nhưng không trau dồi, tập luyện sẽ mất tài năng đó mà những khả năng khác cũng suy đồi theo.
Một tín hữu không học hỏi Lời Chúa để thay đổi những tính xấu, thói quen tội lỗi; không những không bớt tính xấu mà còn phát triển thêm những tính xấu khác nữa.
- Chúa sẽ phán xét nhân loại khi Ngài tái lâm.
- Những người từ khước Chúa Cứu Thế Giê-su sẽ bị đoán xét và hình phạt đời đời.
Bài 55
- Tiên tri Xa-cha-ri đã tiên tri rằng Chúa Cứu Thế sẽ xuất hiện trên núi Ô-liu. Như thế Chúa Giê-su vào Giê-ru-sa-lem từ núi Ô-liu là một hành động ứng nghiệm lời tiên tri. Xa 14:4-5
- Chúa Giê-su biết trước tất cả chi tiết của cuộc diễn hành vào Giê-ru-sa-lem chứng tỏ Ngài biết trước tương lai; tức là nói đến thần tính của Chúa.
Chúa Giê-su biết rằng Ngài sẽ bị khổ hình và chết nhưng Chúa vẫn điềm nhiên tiến lên và hoàn thành sứ mệnh hy sinh đền tội cho nhân loại. Chúa Giê-su ý thức và biết rõ sứ mệnh hy sinh đền tội của mình chứ không phải chết vì tai nạn, tình cờ.
- Chúa Giê-su cỡi lừa vào Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho vua bình an vào thành trong hòa bình chứ không phải cuộc diễn hành quân sự.
- Các môn đệ và dân chúng có thể nghĩ rằng Ngài là Đấng Mê-si-a của người Do Thái đến để giải phóng họ ra khỏi ách đô hộ La Mã.
- Những người Pha-ri-si không chấp nhận Ngài là Đấng Mê-si-a và có thể họ sợ dân chúng tung hô Chúa quá đông khiến người La Mã đến để bắt hay tấn công thành Giê-ru-sa-lem.
- Câu trả lời của Chúa chứng tỏ Ngài chấp nhận sự tung hô của dân chúng và Ngài ý thức rõ sứ mệnh của mình và xác nhận sự ứng nghiệm KInh Thánh về Ngài.
- Chúa khóc cho thành Giê-ru-sa-lem vì sự khước từ Ngài của họ và họ sắp nhận hậu quả hủy diệt tàn khốc.
- Mắt người Do Thái bị che khuất không thấy Chúa Cứu Thế đã đến với họ, thăm viếng họ để đem sự cứu rỗi đến cho họ.
- Họ không những bị hư mất nhưng cũng bị quân La Mã đến tấn công, tàn phá đất nước họ.
- Chúa muốn nói chính Ngài, Đấng Mê-si-a đã đến để cứu rỗi họ.
- Những người từ khước không tin nhận Chúa Cứu thế sẽ bị hư mất; vì từ khhước Chúa Cứu thế mà cả nước của họ sẽ bị tàn phá sau đó.
- Ngày nay những người đã nghe Phúc Âm của Chúa Giê-su nhưng từ khước không tin nhận Ngài sẽ bị hư mất đời đời.
- Các thầy tế lễ đã tham lợi, cho phép những người buôn bán sinh vật tế lễ và đổi tiền lấy lời ngay trong khuôn viên đền thờ Chúa để thâu lệ phí.
Đền thờ Chúa là nơi thánh, để dân chúng thờ phượng và cầu nguyện, chứ không phải nơi buôn bán dù buôn bán và đổi tiền tự nó không có gì sai. Nhưng việc buôn bán súc vật và đổi tiền nên làm ở chợ, thay vì làm ngay trong khuôn viên đền thờ.
Bài 56.
- Vì Chúa Giê-su không phải là một giáo sư ra từ các trường phái của họ (Pha-ri-si, Sa-đu-sê, thầy tế lễ) nhưng Ngài dạy dỗ dân chúng trong đền thờ. Ngài cũng đánh đuổi những người buôn bán sinh vật tế lễ và những người đổi tiền ra khỏi khuôn viên đền thờ mặc dù những người này đã được giới tế lễ quản trị đền thờ cho phép.
- Chúa Giê-su cho thấy Ngài có thẩm quyền từ Đức Chúa Trời cũng như Giăng Báp-tít vậy.
- Ngụ ngôn này chỉ về thái độ của người Do Thái đối với Đức Chúa Trời và Con của Ngài.
- Đức Chúa Trời mong mỏi gặt hái hoa màu từ vườn nho của Ngài.
- Theo ngụ ngôn người chủ là người nhân từ, kiên nhẫn và mong mỏi điều phải lẽ từ các tá điền của mình. Những tá điền là nhng người gian ác, tham lam và sát nhân.
- Chủ tức là Đức Chúa Trời sẽ diệt bọn tá điền, nói đến biến cố năm 70 SCN người Do Thái bị quân La Mã tấn công, hủy phá đền thờ và sau đó lưu dày tất cả dân Do Thái khỏi xứ sở của họ. Nước Do Thái bị các dân khác đến trú ngụ.
Đức Chúa Trời giao việc chăm sóc vườn nho của Ngài cho dân khác, nói về việc Đức Chúa Trời kêu gọi người ngoại quốc và lập hội thánh của Ngài để rao truyền Phúc Âm và xây dựng Nước Trời.
- Vì từ khước Chúa Cứu Thế nên dân Do Thái bị hủy diệt và lưu đày.
- Chúng ta được Chúa chọn và kêu gọi vào cánh đồng của Chúa thì chúng ta phải tuân phục Chúa Cứu Thế và đạt kết quả về cho Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta không vâng phục Chúa và không đem kết quả về cho Chúa thì chúng ta sẽ không thoát khỏi số phận hủy diệt như người Do Thái, vì chúng ta không có gì tốt đẹp hay thiện lành hơn người Do Thái.
- Chúa Giê-su trích Thánh Thi 118 để chứng tỏ rằng mọi sự đều ứng nghiệm Lời Đức Chúa Trời đã chép từ trước.
- Đền thờ và nước Do Thái bị hủy diệt vào năm 70SCN và đồng thời sự thành lập và phát triển của hội thánh Đức Chúa Trời là những bằng chứng ứng nghiệm của ngụ ngôn này.
- Đồng tiền La Mã có hình và hiệu của hoàng đế La Mã chứng tỏ giới lãnh đạo Do Thái dang sống trong nền kinh tế, tài chánh của đế quốc La mã. Điều này cho thấy giới lãnh đạo Do Thái là những người gian ác, đạo đức giả; họ định tố cáo người khác về những điều mà chính họ đang làm và vi phạm.
- Chúa Giê-su cho thấy Ngài dạy chúng ta nên chu toàn trách nhiệm đối với quốc gia và đồng thời cũng phải tôn trọng và phục vụ Đức Chúa Trời.
Trong ngụ ngôn này Chúa không giải thích rộng thêm về quan điểm này nhưng qua hành động của các Sứ Đồ (Công Vụ 4:19-20; Rô 13:1-7; 1Phê-rơ 2:12-17) chúng ta thấy con dân của Chúa phải thuận phục chính quyền và đóng thuế ngïoại trừ khi chính quyền và tín hữu có sự xung đột về đạo đức và niềm tin thì chúng ta phải tuân theo Đức Chúa Trời.
Bài 57
- Lu-ca đã ghi lại những người Pha-ri-si và lãnh đạo Do Thái khác thách thức và chống đối Chúa Giê-su. Trong đoạn này Lu-ca cho thấy một nhóm người lãnh đạo khác, người Sa-đu-sê cũng chống đối Chúa Giê-su. Lu-ca cho thấy toàn thể giới lãnh đạo tôn giáo lẫn chính trị đều sợ và chống lại Chúa Cứu Thế.
- Xem phần lược giải. Người Sa-đu-sê giống như những người theo quan niệm duy lý (rationalist) ngày nay.
- Người Sa-đu-sê là những người giàu có, trí thức và quyền thế thời bấy giờ; họ tin tưởng vào niềm tin của mình là đúng và hỏi Chúa với dụng ý bắt bí và làm Chúa Giê-su bị hổ thẹn trước đám đông dân chúng.
- Sự trả lời của Chúa Giê-su cho thấy, chúng ta, những môn đệ của Ngài, cần phải hiểu rõ những điều mình tin và sẵn sàng để trả lời những người nghi ngờ hay thách thức đức tin của chúng ta. Phê-rơ cũng khuyên chúng ta phải sẵn sàng để trả lời cho bất cứ ai hỏi về hy vọng sống của chúng ta (1Phê-rơ 3:15).
- Qua các câu trảlời Chúa dạy chúng ta về các giáo lý:
a. Loài người sẽ sống lại
b.Thiên sứ (ma quỉ) là một sự thật
c. Thiên đàng, địa ngục là có thật.
d. Không phải tất cả nhân loại đều sẽ hưởng Nước Thiên Đàng nhưng chỉ có một số người xứng đáng mà thôi. (Những đoạn Kinh Thánh khác xác nhận rằng chỉ có những người tin Chúa Cứu Thế Giê-su mới được hưởng Nước Thiên Đàng, (Gi 5:24)
- Chúa Giê-su đã trích dẫn Kinh Thánh để chứng minh những điều Ngài tin và dạy.
- Theo lời Chúa dạy thiên đàng là một sự thật, không phải chuyện thần tiên, huyền thoại.
- Chúa Giê-xu xác nhận rằng thiên sứ là có thật và rằng thiên sứ có một bản chất và thân thể khác hơn là loài người. Thiên sứ sẽ không chết và không có giống tính nam nữ cũng như không sinh sản.
- Không, Chúa dạy chỉ có một số người được hưởng nước thiên đàng. Theo những câu Kinh Thánh khác xác nhận, “Ai tin Con (Chúa Cứu Thế Giê-su) thì có sự sống vĩnh phúc (Giang 3:16; 5:24).
- Theo lời Chúa Giê-su dạy và theo Kinh Thánh cho biết loài người chết sẽ sống lại vào ngày phán xét, để được vào thiên đàng vĩnh cửu hay địa ngục khổ hình đời đời.
Cho nên sẽ không có đầu thai kiếp khác.
- Căn cứ vào lời dạy của Chúa Giê-su và vào Kinh Thánh, chúng ta tin rằng chết không phải là hết, nhưng mọi người đều sẽ sống lại để chịu phán xét.
- Những điều người Sa-đu-sê tin như:
*Không có sự sống lại
*Không có thiên sứ
*Không có thiên đàng, địa ngục
đều là những điều sai lầm vì chính Chúa Giê-su chỉ rõ cũng như Kinh Thánh dạy.
Bài 58
- Danh hiệu Con vua Đa-vít chỉ về một đấng cứu tinh củadân tộc Do Thái thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Người Do Thái nghĩ về một vị cứu tinh chính trị và kinh tế để giải cứu họ ra khỏi sự đô hộ của đế quốc La Mã.
- Chúa Giê-su trích Thi 110:1 để nói về một Đấng Cứu Thế thiêng liêng, vĩnh cửu và siêu việt hơn vua Đa-vít vì vua Đa-vít phải gọi Ngài bằng Chúa.
- Hiểu biết đúng về Chúa Cứu Thế rất quan trọng.
Hiểu biết đúng về Chúa Cứu Thế sẽ đưa đến việc tin cậy Ngài để được cứu rỗi và thờ phượng Đức Chúa Trời đúng theo ý thánh Ngài.
Hiểu biết sai về Chúa Cứu Thế sẽ đưa đến việc từ khước Ngài như đa số giới lãnh đạo Do Thái hoặc đi đến chỗ tà giáo và thờ phượng Đức Chúa Trời một cách sai lầm.
- Chúa Giê-su lên án thái độ đạo đức giả, thích được người ta trọng vọng và nổi tiếng.
- Những hành vi sau đây bày tỏ dục vọng thích được người ta trọng vọng:
Mặc áo dài lộng lẫy mắc tiền đặc biệt; dùng danh hiệu tôn kính nơi công cộng; ngồi chỗ danh dự; ngồi chỗ danh dự nơi bàn tiệc; làm bộ sùng kính đạo đức nên cầu nguyện dài dòng.
- Chúa không muốn con dân Ngài sống đạo đức giả vì Ngài thấy trong lòng mọi sự, không ai có thể qua mặt Chúa. Ngài là Đấng xét đoán tối hậu.Con dân Chúa không nên tìm kiếm danh vọng hảo.
- Làm bộ sùng kính, thiêng liêng là tội đạo đức giả. Chúa sẽ trừng phạt những kẻ đạo đức giả làm bộ thiêng liêng.
- Chúa Giê-su không chống đối người giàu vì Ngài đã tiếp nhận nhiều người giàu có (Xa-chê) ; Chúa nói lên tấm lòng hy sinh của người đàn bà goá nghèo nàn.
- Người đàn bà góa nghèo dâng nhiều nhất vì:
-Người này dâng từ những điều mình cần (nhu cầu chính đáng). Không phải dâng từ những điều dư thừa.
- Người này đã hy sinh trong việc dâng hiến cho Chúa.
- Tính theo tỷ lệ lợi tức một người có, người đàn bà này dâng 100% số tiền mình có. Những người giàu có khác có thể dâng chưa tới 1% số tiền họ có.
- Chúa Giê-xu xác nhận rằng mỗi con dân Chúa nên dâng hiến cho Chúa. Đức Chúa Trời ghi nhận sự dâng hiến nhiều hay ít tùy theo số lượng mình có, không phải số lượng mình dâng. Sự hy sinh dâng hiến cho Chúa và công việc Chúa từ nhu cầu chính đáng của mình là một hành động cao quí đáng khen trước mặt Chúa. Chúa không khen sự dâng hiến, dù số lượng rất nhiều nhưng từ sự dư thừa của mình.
- Người sốngđẹp lòng Chúa là người:
-Tìm kiếm Chúa, không tìm sự trọng vọng, danh tiếng từ loài người, thế gian.
-Sống thành thật, không đạo đức giả về mặt đạo đức lẫn thiêng liêng.
-Hy sinh phục vụ Chúa.
Bài 59
- Lời tiên tri về đền thờ đã ứng nghiệm khoảng 40 năm sau, tức là vào năm 70 SCN. Quân La mã đã tàn phá đến thờ và bắt lưu đày dân Do Thái còn sống sót. Một sử gia Do Thái cho hay có khoảng 1.1 triệu người Do Thái bị giết trong các trận chiến tranh Do Thái với quân La Mã.
- Ngay từ khi mới lập quốc Đức Chúa Trời đã căn dặn dân Ngài (Phục 30:17-18) rằng nếu họ bất trung với Chúa, thờ lạy các thần khác, họ sẽ bị tiêu diệt và đền thờ cũng sẽ bị hủy phá. 1Các Vua 9:6-8
Vì vậy sự lưu đày toàn thể dân chúng và hủy phá hoàn toàn đền thờ chứng tỏ rằng dân Do Thái đã xa lìa Chúa và đạo Chúa.
- Những sự bách hại đạo Chúa được ghi trong sách Công Vụ và sự bao vây Giê-ru-sa-lem là những dấu hiệu báo trước ngày thành phố này bị phá hủy. Sử gia Eusebius cho hay tín hữu của Chúa Giê-su đã bỏ Giê-ru-sa-lem chạy ra Pella trong thời chiến tranh Do Thái trước khi Giê-ru-sa-lem bị phá hủy.
- Môn đệ của Chúa nên lợi dụng dịp này để làm chứng về Chúa cho nhữngngười bắt bớ họ.
- Chúa hứa Ngài sẽ ban cho con dân Ngài sự không ngoan để đối đáp và Ngài cũng sẽ bảo vệ gìn giữ con dân Ngài dù một số người sẽ phải tử đạo.
- Kiên trì trong đức tin là cái neo của sự cứu rỗi.
- Đọc Phục 30:17-18 và 1Các Vua 9:6-8 Dân Do Thái bội tín, bất trung với Chúa và họ thờ phượng tà vậy nên cả thủ đô của họ lẫn đền thờ của Chúa bị hủy diệt.
- Quân Do Thái chiếm lại thành Giê-ru-sa-lem và kiểm soát thành này từ trân chiến sáu ngày năm 1967.
Điều này cho thấy chúng ta đang ở trong thời đại cuối cùng chuẩn bị cho sự tái lâm của Chúa Cứu Thế.
- Nhiều dấu hiệu thay đổi, thiên tai trong vũ trụ; con người thì lo sợ, phập phồng sợ hải.
- Chúa Giê-su sẽ từ trời trở lại thế gian trong quyền năng và vinh quang. Ngài trở lại để đoán xét thế gian vô tín nhưng tưởng thưởng cho các con dân trung tín của Ngài.
- Sự lo lắng mưu sinh thái quá, sự ăn chơi, say sưa trụy lạc có thể làm ngay cả con dân Chúa bị mắc bẫy mà cho rằng Chúa chưa đến.
- Quan sát những biến cố trên thế giới và tại Trung Đông (Do Thái) chúng ta thấy hầu hết những biến cố Chúa phán tiên tri đã diễn ra vì thế ngày Chúa đến có thể rất gần.
- Người tín hữu thật của Chúa sẽ vui mừng đón tiếp Chúa, vì Ngài đến là để tưởng thưởng cho con dân trung tín của Ngài như vị vua trở về tưởng thưởng các đầy tớ trung tín của mình. (Lu-ca 19:11-27)
Chúa Giê-su trở lại thế gian để phán xét thế gian vô tín, vì thế chỉ có những kẻ vô tín hay tín đồ giả mới lo sợ bị xét xử, trừng phạt.
Chúng ta phải cảnh giác và cầu nguyện để Chúa Thánh Linh ban thêm sức giữ vững đức tin, kiên trì, trung tín phục vụ Ngài cho đến khi gặp mặt Chúa và được tưởng thưởng.
Bài 60.
- Giới lãnh đạo Do Thái không tin những điều Chúa Giê-su dạy và muốn bắt và giết Chúa Giê-su vì họ sợ dân chúng tin theo Chúa Giê-su và nổi lên chống chính quyền La Mã. Họ sợ Chúa Giê-su sẽ tuyên xưng mình là Đấng Mê-si-a và nắm quyền chính trị tái lập Vương quốc Do Thái.
Dân chúng ngưỡng mộ Chúa Giê-su vì Ngài dạy dỗ, chữa bệnh, đuổi quỉ giúp họ. Có thể họ cũng muốn Chúa Giê-su lên làm vua (Giăng 6:15).
- Giu-đa đã để cho Sa-tan nhập vào và kiểm soát tâm trí ông, cho nên ông vẫn là người có trách nhiệm về hành động của mình. Ngoài ra Những đoạn khác cũng cho thấy Giu-đa hoàn toàn hành động vì tham tiền hoặc thất vọng vì thấy Chúa Giê-su không có tham vọng chính trị và sắp bị sụp đổ vì giới lãnh đạo Do Thái chống đối và muốn tiêu diệt Ngài. Chúa Giê-su biết âm mưu phản bội và xác nhận rằng “khốn nạn cho kẻ phản Ngài”.
- Sự kiện Sa-tan nhập vào Giu-đa cho thấy có một quyền lực ác phía sau những con người gian ác. Chúa Giê-su và chúng ta không phải chỉ tranh đấu chống lại điều ác nhưng là chống lại quỉ vương và đám ma quỉ bộ hạ của nó đang cai trị và cầm quyền trong thế gian vô tín độc ác này.
- Lu-ca và Ma-thi-ơ cho thấy động lực tham tiền bạc là một trong những động lực thúc đẩy Giu-đa phản Chúa Giê-su.
- Chúa Giê-su là người duy nhất giữ trọn Lời (luật pháp) của Đức Chúa Trời tại thế. Vì Chúa Giê-su giữ gìn Lời Chúa nên chúng ta tin rằng đó là chân lý và cũng nên học hỏi và vâng giữ Lời Chúa.
- Những lời tiên báo của Chúa Giê-su về bữa ăn, về Ngài sau này đều xảy ra đúng như lời Ngài phán. Điều này chứng tỏ Chúa Giê-su có thần tính trong Ngài.
- Chúng ta tin rằng tín hữu dự tiệc thánh là để kỷ niệm sự hy sinh của Chúa cho chúng ta vì khi Chúa Giê-su nói điều này Ngài chưa bị đóng đinh chết và chính Ngài nói rằng các môn đệ làm điều này để “nhớ” hay kỷ niệm . Phao-lô sau này lập lại lễ tiệc thánh cũng nói rõ “để kỷ niệm” 1Cô-rinh-tô 11: 24.
- Các môn đệ tưởng rằng Chúa Giê-su sắp lập lại vương quốc Y-sơ-ra-ên và dĩ nhiên họ sẽ là những người nắm giữ những chức vụ quan trọng nhất trong Nước Chúa. Những môn đệ của Chúa còn suy nghĩ theo quan điểm chính trị lúc bấy giờ và vẫn chưa hiểu được ý nghĩa thiêng liêng của Nước Đức Chúa Trời cho đến khi Chúa Giê-su sống lại.
- Chúa Giê-su đưa ra một nguyên tắc sống và hành động mới trong Nước Đức Chúa Trời hay trong Hội Thánh của Ngài : Tinh thần khiêm nhường và phục vụ, không phải quyền thế và cai trị.
- Chúa Giê-su lập các Sứ Đồ để lãnh đạo Hội Thánh Chúa và cai trị trong Nước Đức Chúa Trời trong tương lai là vì họ đã tin Chúa, theo phục vụ Chúa trong suốt thời gian Ngài còn tại thế và kiên trì phục vụ Chúa, thi hành sứ mệnh của Ngài sau đó cho đến suốt đời họ.
- Chúa Giê-su cho các môn đệ Ngài biết rằng quỉ Sa-tan sẽ tấn công họ nhưng Chúa Giê-su cầu nguyện cho họ. Chúa Giê-su cho thấy Ngài và những người theo Ngài đang chiến đấu với một lực lượng ác trên thế giới nhưng Chúa đã chiến thắng chúng và Ngài cũng giúp sức cho con dân Ngài chiến thắng chúng.
- Chúng ta là những con người, tự sức chúng ta không thể chống cự lại quyền năng và sự cám dỗ quỉ quyệt của Sa-tan (Sa-tan vốn là thiên sứ trưởng của Chúa) và ma quỉ nhưng chúng ta có Chúa Giê-su là Đấng đã chiến thắng nó trên mọi mặt và Ngài hứa giúp chúng ta chiến thắng chúng. Hê 7:25
Bài 61
- Lu-ca có thể muốn cho thấy Chúa Giê-su xuất hiện tại đây là sự ứng nghiệm một phần nào lời tiên tri về Đấng Mê-si-a sẽ xuất hiện tại núi Ô-liu vào thời tận thế.
- Chúa Giê-su và các môn đệ sắp đối diện với sự bắt bớ và xử tử Chúa Giê-su. Âm mưu bắt và giết Chúa ngay giữa vòng giới lãnh đạo Do Thái ngày càng gia tăng mạnh mẻ. Chúa và các môn đệ có thể cũng cảm thấy áp lực này cùng với những lời đồn đại trong dân chúng.
- Chúa Giê-su cho thấy cách tốt nhất để đối diện và chiến thắng sự từ khước, đối nghịch, nguy hiểm và ngay cả sự chết nữa chính là cầu nguyện.
- Ma quỉ và thế gian muốn kéo chúng ta về với chúng và phản bội, thất tín, bất trung với Chúa và chương trình của Ngài. (Giu-đa Ích-ca-ri-ốt phản Chúa Giê-su; các môn đệ khác thì bất trung, bỏ Chúa chạy lấy thân.)
- Qua câu chuyện này Chúa Giê-su cho thấy những điều sau đây làm cho các môn đệ không cầu nguyện:
a/ Mệt mỏi về thể xác
b/ Buồn lo sẽ gặp bắt bớ, đối nghịch.
c/ Tự tin vào sức mình có thể vượt qua khó khăn, trở ngại nên không nhờ Đức Chúa Trời.
d/ Không hiểu biết rõ chương trình và mục đích của Chúa Giê-su. Đặc biệt là môn đệ vẫn không thể hiểu được tại sao Chúa Cứu Thế phải chịu chết.
- Khi một người đến cầu nguyện cùng Chúa, người đó bày tỏ tấm lòng cần sự giúp đỡ của Chúa và tin vào sự chăm sóc, bảo vệ của Chúa cho con dân Ngài.
- Người cầu nguyện với Chúa sẽ được Chúa thêm sức, giúp đỡ để đối diện với thế gian, ma quỉ là kẻ mạnh và khôn ngoan hơn chúng ta gấp bội.
- Cầu nguyện là tìm kiếm Chúa, sức lực và sự khôn ngoan thiêng liêng của Ngài để làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời cho đời sống mình.
Cầu nguyện không phải chỉ là xin cho mình, yêu cầu Chúa làm theo ý muốn của mình.
- Chúa xin Cha nếu được, cho phép Ngài không phải mang đau khổ,sự chết và tội tỗi của nhân loại. (chén đau khổ, sỉ nhục và sự chết)
- Chúa Giê-su là một người hoàn toàn vì thế Ngài không muốn chết; Ngài không muốn bị trở nên tội lỗi vì Ngài là người toàn hảo, vô tội. Chúa Giê-su là ngôi Hai của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, Ngài có sự tương thông, hiệp nhất với Đức Chúa Cha từ vĩnh cửu vì thế sự chết, sự cắt đứt tương thông với Đức Chúa Cha là một điều vô cùng đau khổ, rùng rợn. Điều này cho thấy Chúa Giê-su là một con người hoàn toàn như chúng ta, biết thế nào là đau khổ.
- Đức Chúa Trời đã cứu Chúa Giê-su ra khỏi sự chết khi Ngài hoàn tất sứ mệnh cứu rỗi loài người. Đức Chúa Trời đã cứu Chúa Giê-su khỏi sự chết theo như ý chỉ, như chương trình của Ngài, không phải theo ý muốn của Chúa Giê-su.
- Chúa Giê-su đã cầu nguyện khẩn thiết đến nỗi mồ hôi chảy ra như máu và thiên sứ đã đến giúp sức cho Chúa Giê-su.
Đức Chúa Trời luôn luôn chăm sóc, giúp đỡ những con dân muốn làm theo ý chỉ Ngài. Sự giúp đỡ này có thể ở trong nhiều hình thức và cách khác nhau. Đức Chúa Trời có thể dùng những nguyên tắc tự nhiên, siêu nhiên; Ngài có thể dùng hoàn cảnh, dùng người, vật hay cả thiên sứđể giúp đỡ con dân Ngài.
- Các môn đệ không đủ đức tin, can đảm để trung thành với Chúa khi Ngài bị bắt. Họ cũng đã không cầu nguyện để được thêm sức như Chúa Giê-su đã khuyên.
- Chúa Giê-su nêu lên tấm gương cầu nguyện để được Đức Chúa Trời nhậm:
a. Chúng ta phải cầu nguyện với Chúa.
b. Cầu nguyện khẩn thiết, không phải qua loa cho có lệ.
c. Sẵn lòng làm theo ý chỉ của Chúa, không phải ý riêng của mình.
d. Tìm kiếm Chúa, cầu xin Chúa bày tỏ ý chỉ của Ngài cho mình; tìm kiếm ý chỉ của Chúa để làm theo..
Bài 62
- Giu-đa dùng biểu hiêụ của tình thương để phản thầy là một hành động gian trá và đạo đức giả.
- Giu-đa đã tính toán và tìm cách phản bội thầy từ lâu. Ông đã bàn mưu với những nhà lãnh đạo Do Thái giáo như thế đây không phải là một hành động nông nổi nhất thời mà là một âm mưu có tính toán kỷ.
- Chúa Cứu Thế sẽ bị giết chết là điều sẽ xảy ra trong chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhưng Ngài không có tiền định ai sẽ giết. Giu-đa hành động hoàn toàn do ý chí tự do của ông. Ông bị tiền bạc cám dỗ và để cho ma quỉ ảnh hưởng dục vọng của mình nên hành động phản bội Chúa. Vì thế Giu-đa phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho hành động của mình.
Ngoài ra ngay sau khi đã phản bội Chúa nếu Giu-đa ăn năn tội (Giu-đa chỉ buồn thảm đau khổ vì hành động sai lầm chứ không ăn năn, quay lại với Chúa) và tin cậy Chúa Giê-su ông cũng vẫn được tha thứ và sử dụng như Phê-rơ chẳng hạn.
- Vì họ sợ nếu bắt Chúa vào ban ngày sẽ bị dân chúng phản đối và náo loạn.
- Các môn đệ chưa phân biệt được Nước Đức Chúa Trời thiêng liêng với Vương quốc Do Thái mà họ đang mong đợi. Các môn đệ vẫn suy nghĩ và phản ứng theo thế gian phàm tục; họ bị vũ lực đàn áp; họ cũng dùng vũ lực để chống lại. (Mat 26:52-56).
- Chúa Giê-su cho đến giờ phút chót của cuộc đời vẫn dùng tình yêu thương và ân huệ chữa lành người đầy tớ bị chém đứt tai.
Chính sách của Chúa Giê-su là vâng phục ý chỉ và sự tể trị của Đức Chúa Cha và hoà bình; đường lối của Chúa Giê-su là tình thương và ân huệ.
- Vì Phê-rơ đã ỷ lại vào sức lực và ý chí của riêng mình, nhưng sức phàm khó có thể đối đầu với lý tưởng tâm linh. Nếu Phê-rơ nghe lời khuyên của Chúa Giê-su để tỉnh thức và cầu nguyện để được sức thiêng liêng của Chúa, có thể ông đủ sức trung thành và không chối Chúa.
- Vì Phê-rơ đã ăn năn, hối cải và đến với Chúa Giê-su nên được tha thứ và phục hồi. Giu-đa cũng buồn thảm cho hành động phản bội của mình nhưng không ăn năn và quay về cùng Chúa để xin tha thứ, trái lại ông tự mình kết thúc mạng sống mình.(Loài người không có quyền kết thúc sinh mạng người, chỉ có Chúa mới có quyền).
- Phê-rơ đã thất bại, phạm tội nhưng ông ăn năn và được Chúa phục hồi để phục vụ Chúa là hy vọng cho tất cả chúng ta. Nếu chúng ta khiêm nhường đủ để hạ mình, ăn năn và đến với Chúa, Ngài sẽ tha thứ tội lỗi chúng ta (1 Giăng 1:9) và phục hồi chúng ta trong Nước Ngài.
- Chúa Giê-su không trả lời trong phiên xử án vì những nhà lãnh đạo Do Thái đã âm mưu và định trước rằng họ sẽ giết Ngài, họ bắt Chúa vào đêm khuya là trái phép; Phiên xử được họp vào ban đêm là trái phép; họ không có lý do chính đáng để bắt Ngài; vì thế những lời khai và biện hộ của Ngài chỉ là vô ích mà thôi.
- Chúa Giê-su bị kết án vì xưng mình là Con Đức Chúa Trời và ngồi bên phải Đức Chúa Trời; tức là tội phạm thượng. Còn đối với chính quyền La Mã, Đấng Mê-si-a là vua của người Do Thái, tức là phản loạn chống đế quốcLa Mã.
- Chúa Giê-su nói rõ rằng những nhà lãnh đạo Do Thái giaó (dù họ xưng nhận rằng họ thờ Đức Chúa Trời)là những người đang ở trong tối tăm và bị quyền lực tối tăm cai trị. (Xem thêm Êph 6:12). Theo hình thức và tổ chức tôn giáo chưa hẳn là thật sự tin thờ Đức Chúa Trời.
- Chúng ta phải tin Chúa Giê-su là Cứu Chúa và Chủ tể đời sống. Quyết tâm vâng phục ý chỉ của Chúa trong Kinh Thánh. Cảnh tỉnh và cầu nguyện với Chúa để được soi sáng, hướng dẫn và thêm năng lực trung tín trong mọi việc cho đến cuối cùng hay đến khi Chúa tái lâm.
Bài 63
- Những người Do Thái tố cáo Chúa Giê-su về ba tội:
a. Xuí dân chúng rối loạn
b. Cổ động chống đóng thuế cho chính quyền
c. Xưng là vua phản loạn chống đế quốcLa Mã.
Vì những tội này vi phạm đến quyền lợi của đế quốc La Mã và của thống đốc Phi-lát.
- Chúa Giê-su bị hội đồng Do Thái kết án về tội phạm thượng, xưng mình là Con Đức Chúa Trời. Nhưng họ không tố cáo Ngài về tội này trước toà án Phi-lát vì họ biết rằng đây là vấn đề tôn giaó, sẽ bị bác ngay.
- Phi-lát không kết án Chúa Giê-su vì những điều họ tố cáo Ngài không đúng sự thật vàNgài chỉ là một người truyền giảng tôn giáo.
- Phi-lát không muốn làm phật lòng giới lãnh đạo Do Thái giaó nên chuyển qua cho vua Hê-rốt để trút trách nhiệm của mình.
- Chúa Giê-su biết rõ vua Hê-rốt là một người ác không có ý gì để xét xử công minh và cũng không có quyền trên thống đốc Phi-lát. Vua chỉ tò mò muốn xem phép lạ Chúa làm vì có thể vua đã nghe đồn nhiều về những công việc của Ngài. Chúa Giê-su im lặng trước kẻ xét xử mình là điều đã được chép tiên tri trong I-sa 53:7-8
- Vua Hê-rốt và quân lính khinh bỉ, chế giễu Chúa Giê-su, người đượcdân chúng hy vọng như vua cứu tinh của họ.
Nếu Chúa của chúng ta đã nhẫn nhục chịu đựng tất cả khổ nhục vì tội lỗi chúng ta thì chúng ta không có lý do gì để hổ thẹn vì mang Danh Ngài và phục vụ Ngài dù bị thế gian khinh chê.
Ai hổ thẹn vì Chúa và danh Chúa Giê-su sẽ bị Ngài hổ thẹn và từ bỏ khi Ngài quang lâm Mác 8:38.
- Phi-lát biết Chúa Giê-su vô tội và bị vu cáo nên cố gắng kèo nài, tìm cách thả Ngài mà không bị giới lãnh đạo Do Thái bất mãn.
- Dân Do Thái xin Phi-lát tha cho một người phạm tội giết người. Điều này nói lên mức độ đen tối của tội lỗi trong lòng giới lãnh đạo Do Thái giaó, họ sẵn sàng giết Chúa của sự sống và một người hoàn toàn công chính để đánh đổi lấy một kẻ tội lỗi giết người vì quyền lợi riêng của họ.
- Trong việc xử tử Chúa Giê-su, giới lãnh đạo Do Thái giaó là người chính chịu trách nhiệm; dân chúng cũng không phải là vô tội trong vụ này và nhất là thống đốc La Mã đại diện cho công bình nhưng cũng bẻ cong cán cân công bình vì quyền lợi chính trị của mình.
- Dân chúng trước đó ngưỡng mộ Chúa Giê-su vì hy vọng rằng Ngài là vị vua Cứu Tinh sẽ giải phóng họ ra khỏi ách đô hộ của La Mã; nay thấy Ngài nhẫn nhục bị xử án trước toà án Phi-lát và vua Hê-rốt; Ngài không làm phép lạ gì đểcứu mình và cứu dân chúng nên họ tin theo luận điệu của giới lãnh đạo Do Thái giáo và huà theo tố cáo Ngài.
- Giới lãnh đạo Do Thái giáo sợ dân chúng tin theo Chúa Giê-su và Ngài sẽ dẫn họ phản loạn chống lại chính quyền La Mã mà họ đang hợp tác.
Thống đốc Phi-lát chìu theo ý định của giới lãnh đạo Do Thái vì không muốn bị họ phản đối, khiếu nại lên hoàng đế La Mã.
Dân chúng Do Thái thất vọng trước thái độ và hành động của Chúa Giê-su; Ngài nhẫn nhục chịu xử án và chịu chết trên cây thập tự như một tội nhân bất lực. Ngài không chứng tỏ là một vị vua cứu tinh như họ tưởng và mong đợi.
Bài 64
- Vì Chúa Giê-su đã bị đánh đòn rất năng trước đó theo thông lệ xử tội nhân thời ấy nên Ngài yếu sức và không vác nổi cây thập tự.
- Tiên tri I-sa 53 cho thấy sự thống khổ của Chúa chịu là vì tội lỗi của chúng ta. Lằn roi của Ngài cũng chữa lành bệnh tật cho chúng ta.
- Người Do Thái nên than khóc cho đa số dân tộc họ vì tai họa sắp đổ xuống trên dân tộc và quốc gia này. Tai họa này xảy ra là vì tuyển dân của Chúa đã khước từ và giết chết Đấng Giải Cứu mà Đức Chúa Trời sai đến cho họ.
- Thảm họa hủy diệt và mất nước của người Do Thái xác minh lời tiên tri của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước và của Chúa Giê-su trước đó; điều này cũng chứng tỏ Chúa Giê-su chính là Con Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Thế của nhân loại.
- Chúa Giê-su đã yêu thương và cầu nguyện tha thứ cho kẻ giết Ngài. Đây là trung tâm của Phúc Âm và của Chúa Cứu Thế đối với nhân loại.
- Sự bắt thăm chia áo của Chúa đã xácchứng một lần nửa Lời tiên tri của Đức Chúa Trời đã ứng nghiệm nơi Chúa Giê-su và Ngài chính là Chúa Cứu Thế của Đức Chúa Trời đã hứa trong Kinh Thánh Cựu Ước.
- Chúa Giê-su có thể tự cứu mình (Mat 26:53-54; Giăng 18:36) nhưng Ngài tự nguyện chịu chết thay cho tội lỗi nhân loại.
- Chúa Giê-su là vua cai trị tấm lòng của những người tin Ngài; Ngài là vua của vương quốc thiêng liêng của Đức Chúa Trời.
- Giới lãnh đạo và dân Do Thái đã lầm tưởng rằng Đấng Cứu Thế mà Đức Chúa Trời hứa là một nhân vật chính trị hay quân vương, người sẽ giải phóng họ ra khỏi ách nô lệ của đế quốc La Mã. Nhưng Đấng Mê-si-a mà Đức Chúa Trời hứa là một đấng Cứu Thế thiêng liêng, giải cứu con người ra khỏi tội lỗi chứ không phải chính trị.
- Đức Chúa Trời giải cứu Chúa Giê-su bằng cách cứu Ngài sống lại sau khi chết ba ngày. Như thế Chúa Giê-su đã hoàn thành sứ mệnh chịu chết thay cho nhân loại và sống lại như lời Ngài đã hứa.
- Người tin Chúa nên chịu phép báp-tem như Chúa dạy nhưng dạy rằng phải chịu lễ báp-tem mới được cứu rỗi là không đúng, vì Chúa Giê-su hứa với người ăn cướp này rằng anh chỉ tin Chúa và được vào thiên đàng ngay sau khi chết.
- Theo lời hứa của Chúa Giê-su “hôm nay” có nghĩa là ngay lúc người đó chết, người đó sẽ vào thiên đàng với Chúa ngay. Tên cướp này được cứu rỗi là nhờ đức tin mà thôi, người này không có làm công đức hay từ thiện gì cả (Êph 2:8-9); và người ăn cướp này cũng không phải vào ngục luyên tội nhưng vào thẳng thiên đàng với Chúa. Điều này cũng hợp với sự dạy dỗ trong Kinh Thánh.
- Bức màn trong đền thờ để ngăn cách nơi thánh và nơi chí thánh; mỗi năm thầy trưởng tế chỉ đượcvào nơi chí thánh một lần vào ngày lễ Xá Tội để dâng hương và rảy huyết chuộc tội cho toàn dân. Nay Chúa Giê-su đã dâng chính mạng sống của Ngài làm sinh tế chuợc tội cho nhân loại và mở đường cho nhân loại đến với Đức Chúa Trời chí thánh qua sự chết của Ngài. (Đọc thêm Hê-bơ-rơ 9)
- Chúa giê-su đã được liệm theo phong tục Do Thái, tức là ướp hương và cuộn trong một tấm vải. Ngài cũng được chôn trong mộ đục trong đá; đây là ngôi mộ của một người đãcó sẵn. Các bà tín hữu theo Chúa Giê-su thấy rõ ngôi mộ và cũng chuẩn bị hương liệu và dầu thơm dành cho người quá cố. Tất cảnhững người này đều biết là Chúa đã chết, không phải chỉ ngất xỉu.
Chúa Giê-su đã thật sự chết thì mới có thể chết thế cho chúng ta; nếu Ngài chỉ bất tỉnh hay ngất xỉu,hay chết giả thì Ngài không thể trả thay cho tội lỗi và cái chết của nhân loại. Nếu Chúa Giê-su không chết thật thì Ngài không thể đền tội cho chúng ta và chúng ta vẫn phải trả giá cho tội lỗi của mình bằng sự chết đời đời nơi hoả ngục.
Bài 65
- Ngày Chúa Nhật là ngày thứ nhất trong tuần lễ và là ngày Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết nên các tín hữu của hội thánh thời tiên khởi dùng ngày này để tụ họp, thờ phượng Chúa. Người Do Thái tu họp, thờ phượng vào ngày thứ Bảy, tức ngày Sa-bát trong Cựu Ước.
- Sự nghi ngờ và không tin rằng Chúa Giê-su đã sống lại của các môn đệ chứng tỏ Lu-ca ghi chép thành thật thái độ của các môn đệ dù sau này họ thấy và tin. Sự nghi ngờ và không tin lúc đầu chứng tỏ biến cố này là sự thật vì đây là điều hi hữu đầu tiên những người này chứng kiến và nó vượt ra ngoài sức tưởng tượng của họ.
- Lu-ca ghi chép rõ chi tiết ngày giờ, tên người và cả những phản ứng tiêu cực, không tin của những nhân vật lãnh đạo sau này.
Nếu là một chuyện huyền thoại do Lu-ca tạo nên, thường tác giả hay ca tụng, thêu dệt những điều hay, tiếng tốt, những công trình vĩ đại của những nhân vật lãnh đạo thay vì nói lên những khuyết điểm của họ. Vì khi Phúc Âm do Lu-ca ghi chép được truyền bá một số những nhân vật trong chuyện vẫn còn sống và hành đạo.
- Phao-lô cho biết những người Do Thái dù đọc Kinh Thánh Cựu Ước nhưng tâm trí của họ bị che khuất không hiều và thấy Chúa đúng đắn vì “vô tín” và không mở lòng khao khát tìm hiểu Chân Lý. Thần đời này cũng làm tối tăm tâm trí nhiều người. 1Cô 3:14-16; 4:4
- Chúa Giê-su đã đưa tay, hông cho môn đệ xem và sờ ; Ngài đã ăn uống với họ vì thế Chúa Giê-su không phải là một “linh” hay hồn ma hiện về mà là con người với thân thể phục sinh.
- Biến cố Chúa phục sinh không thể là ảo tưởng vì ảo tưởng chỉ xảy ra cho từng cá nhân chứ không thể một nhóm người cùng thấy một ảo tưởng giống nhau .
- Câu chuyện phục sinh được Lu-ca và các Phúc Âm khác ghi chép không thể là một huyền thoại hay chuyện hoang đường vì các tác giả ghi lại nhiều chi tiết cá nhân, những hành động xấu, tiêu cực của những nhân vật lãnh đạo hội thánh lúc ấy. Chuyện huyền thoại cần thời gian lâu dài để xây dựng và thường thêm nhiều chi tiết huyền hoặc để nâng cao những nhân vật trong chuyện.
- Nhiều người có thể tin Chúa và gia nhập hội thánh nhưng không nỗ lực học hỏi Lời Chúa và khao khát học biết về Chúa và đường lối của Ngài nên có thể không hiểu biết Lời Chúa, sư ïdạy dỗ của Ngài. Một số người khác chỉ tin sơ sài vì một động lực nào đó, nhưng không có sự “tin quyết” (conviction) về Chúa Giê-su và những điều Chúa dạy. Giăng 2:23-25; Công Vụ 8:13-23
- Các môn đệ Chúa sẵn lòng ăn năn, hạ mình, mở lòng tin tưởng nên Chúa mở mắt họ hiểu biết Chúa và Lời Ngài.
- Chúng ta phải tin, mở lòng khao khát tìm hiểu Chân Lý thì Thần Chân Lý, tức là Chúa Thánh Linh sẽ dẫn dắt chúng ta vào mọi lẽ thật. Giăng 16:13
- Lu-ca 24:47 là mục đích của Chúa cho nhân loại. Ngài dùng hội thánh Chúa để thi hành chương trình này trên thế gian.
- Chúng ta phải nhân danh Ngài truyền giảng Phúc Âm cho mọi người để được cứu rỗi.
- Người tín hữu của Chúa muốn thi hành mạng lệnh của Ngài một cách hữu hiệu phải có đức tin và nhận được quyền năng của Chúa Thánh Linh. Lu-ca 24:49; Công Vụ 1:8
Thư Mục Chọn Lọc Sau đây là một số ít sách giải nghĩa Kinh Thánh theo ba loại cho những người muốn nghiên cứu thêm:
Chuyên môn, cần phải biết nguyên ngữ (Techinical),
Bán chuyên môn (Semi-Technical), Diễn giải (Expositional) và Dưỡng Linh (Devotional).
Kèm theo mỗi sách chúng tôi cũng ghi chú khuynh hướng thần học của tác giả:
Tự do cấp tiến (Liberal); Tự do ôn hòa (Moderate liberal),
Phúc Âm thuần túy (Evangelical-conservative).
Luke Darrell Bock (Chuyên môn, Phúc Âm thuần túy), Baker (Nhà xuất bản) 1994
Gospel According to Luke Joseph Fitzmyer (Công giáo, Tự do ôn hòa), Anchor 1981
Luke I.H. Marshall (Chuyên môn, Phúc Âm thuần túy), Eerdmans 1978
Gospel of Luke Joel B.
Green (Bán chuyên môn, Phúc Âm thuần túy), Eerdmans 1997 Luke William Barclay (Diễn giải-Dưỡng linh, Tự do ôn hòa), Westminster 2001
The Expositors Bible Commentary Walter L. Liefeld (Bán chuyên môn, Phúc Âm thuần túy), Vo. 8 Regency1984 The Bible Exposition Commentary Waren W. Wiersbe (Diễn g.-Dưỡng l., Phúc Âm thuần túy), Victor Book 1989
|