Sách Ê-xơ-ra
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Bài 4
Bài 5
Bài 6
Bài 7
Bài 8
Bài 9
Bài 10
Giải Đáp

Sách Nê-hê-mi
Bài 1            Bài 15
Bài 2            Bài 16
Bài 3            Bài 17
Bài 4            Bài 18
Bài 5            Bài 19
Bài 6            Bài 20
Bài 7            Bài 21
Bài 8            Bài 22
Bài 9            Bài 23
Bài 10           Bài 24
Bài 11           Bài 25
Bài 12           Bài 26
Bài 13           Bài 27
Bài 14           Bài 28
Giải Đáp

Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Bài 13
Đời Sống Mới Vâng Giữ Lời Chúa
Nê-hê-mi 10:1-39

  1. Bối Cảnh và Lược Giải

  2. Sau khi nghe đọc Lời Chúa và giải thích, dân Chúa đã ca ngợi, cảm tạ, xưng tội và khẩn thiết cầu nguyện trong khi thờ phượng Chúa. Xưng tội và cầu nguyện là điều rất tốt nhưng nếu không có hành động vâng lời thì tất cả những lời xưng tội, cầu nguyện kia cũng chỉ là hư không.

    Sau khi nghe đọc và giải nghĩa Lời Chúa dân chúng đã tái lập giao ước vơí Chúa và đại diện dân Chúa đã cùng đóng ấn cá nhân vào giao ước. Vào thời ấy dấu ấn (mộc) cá nhân là chữ ký bảo đảm. Vào thời Cựu Ước có những quy luật về vấn đề thề (Dân Số 30). Tuy nhiên Chúa Giê-su dạy con dân Ngài thuộc giao ước mới không cần thề vì mối quan hệ của tín hữu với Chúa Cứu Thế là mối quan hệ yêu thương. Mat 5:33-37 Con dân Chúa thời đại ân huệ vâng lời vì yêu thương và biết ơn Chúa chứ không phải vì sợ hình phạt. Hành động vì tình yêu bao giờ cũng vui vẻ, phước hạnh hơn là hành động miễn cưởng vì sợ hình phạt. Dân chúng hứa nguyện sống theo Lời Chúa, nhận Kinh Luật làm luật lệ cho đời sống hàng ngày.

    Phân rẽ khỏi dân địa phương là hành động trước tiên người ta thực hành vì dân địa phương là người ngoại quốc được đế quốc A-sy-ri đưa đến đây; những người này thờ nhiều thần khác nhau và một số người Do Thái còn lại đã hòa đồng, thỏa hiệp đạo Chúa với các tà thần. Đức Chúa Trời là Đấng chân thần và kỵ tà (Xuất 20:5) vì thế người tin thờ Chúa chỉ có thể thờ một mình Chúa mà thôi. Kinh Thánh Tân Ước cũng dạy cùng một nguyên tắc:
    “Đừng mang ách chung với người không tin. Vì công chính với gian ác có thể nào chung phần được không? Hay ánh sáng và bóng tối có thể nào liên hợp được không?” 2 Côr 6:14

    Luật ngày Sa-bát ( Xuất 20:8-11) hay ngày nghỉ và những ngày lễ cũng được thi hành. Thật ra luật ngày Sa-bát là để giúp cho người ta gìn giữ sức khoẻ, nghỉ ngơi, dưỡng sức về thể chất. Ngoài ra ngày Sa-bát cũng đươc biệt ra thánh để dân Chúa thờ phượng Chúa và bồi dưỡng phần tâm linh. Chúa Giê-su đã giải thích rõ rằng ngày Sa-bát được lập ra là để giúp ích cho nhân loại. (Mác 2:27) Trong Giao Ước Mới con dân Chúa vẫn giữ nguyên tắc biệt riêng một ngày để nghỉ ngơi và thờ phượng Chúa nhưng dùng ngày Chúa Giê-su phục sinh, tức là ngày Chúa Nhật.

    Ngày Sa-bát. (Thứ Bảy)
    Trước hết Đức Chúa Trời biệt riêng ngày thứ Bảy ra làm ngày thánh và nghỉ (Sabbat) không phải vì Ngài mệt mỏi nên cần nghỉ. Ngài là Đấng vĩnh cửu và siêu việt hơn thời gian. Vậy Ngài biệt riêng ngày này là vì mục đích làm một dấu hiệu, một biểu tượng để dạy cho dân Ngài sự yên nghỉ thuộc linh mà thơ Hê-bơ-rơ nói đến. Hêb 4:1-11 Nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su tín hữu của Chúa đã ở trong sự yên nghỉ vĩnh cửu trong Chúa Cứu Thế. Mat 11:28-30

    Kinh Thánh Cựu Ước không nói đến luật hay điều răn về ngày Sa-bát cho đến Xuất 16:23. Như vậy Áp-ra-ham và các thánh thời Cựu Ước trước khi luật pháp được ban hành được cứu vì đức tin nơi Đức Chúa Trời (Sáng 15:6) chứ không phải vì giữ ngày Sa-bát. Ngoài ra khi ban luật Sa-bát Ngài dùng nó như là một dấu hiệu giao ước giữa Đức Gia-huê (Giê-hô-va) và dân Ngài, Xuất 31:12-17; Nê-hê-mi 9:13-15 Không có bằng chứng, dấu hiệu hay chỗ nào chứng tỏ Chúa cũng đòi hỏi những dân tộc khác phải giữ luật ngày Sabat vì luật này đặc biệt cho tuyển dân Ngài chọn trong thời Cựu Ước.

    Môi-se khi dạy điều răn cho thế hệ Do Thái mới sửa soạn vào đất hứa, cho thấy một ý nghĩa khác được nói đến tức là sự giải cứu họ ra khỏi vòng nô lệ ở Ai-cập để vào đất hứa an nghỉ, bình an thịnh vượng, Phục 5:12-15. Vì luật ngày Sa-bát chủ yếu là biểu tượng nên ngay trong chính thời Cựu Ước thầy tế lễ vẫn dâng tế lễ, làm lễ cắt bì; và ngay cả quân đội Do Thái ra trận diễn hành vào ngày Sabat. Giô-suê 6:3-4

    Vậy luật pháp là giao ước, là dấu hiệu (biểu tượng) của ý nghĩa thật trong Chúa Giê-su. Phao-lô dạy: Côl 2:16-17 “đừng để ai đoán xét anh chị em về... nghi lễ tôn giáo... hay ngày Sa-bát. Những điều ấy chỉ là bóng của những điều sẽ đến, còn hình thật là Chúa Cứu Thế.” Chúa Cứu Thế là Con Đường, là Chân Lý (Lẽ Thật) và Nguồn Sống. Chúng ta đến với Đức Chúa Cha là nhờ ở trong Chúa Cứu Thế bởi đức tin; không phải vì giữ bất cứ một luật lệ , điều răn nào. Thật ra dù một người giữ ngày Sa-bát, người đó cũng không thể giữ toàn vẹn hết 10 điều răn của Chúa.

    Chúa Giê-su là Chúa của ngày Sabát. Vì thế Chúa Giê-su chữa bệnh, làm điều thiện trong ngày Sabát, Mat 12:1-14; Mac 2:23-28; Giăng 5:9-15 Hội thánh của Chúa Giê-su cũng được giải thoát khỏi luật lệ ngaỳ Sa-bát. Gal 5:1 (Côl 2:16-17).

    Thánh Thi 118:24 cho thấy ngày là do Chúa tạo ra.
    Chúa biệt riêng ngày thứ Bảy để làm ngày thánh, là giao ước và biểu tượng để dạy và nhắc nhở dân Chúa về sự sáng tạo và về Chúa là Đấng Chủ tể. Khi Chúa Giê-su, là Chúa của ngày Sabát đến, Ngài giải thoát hội thánh Ngài ra khỏi mọi luật lệ và ngày Sa-bát. Côl 2:16-17; Vì thế tín hữu của Chúa Giê-su có quyền sống trong sự sáng tạo mới ( 2Côr 5:17) và quan niệm mới, Rô-ma 14:5-23 “người này coi ngày này trọng hơn ngày kia, kẻ khác coi ngày nào cũng như nhau, mỗi người hãy tin quyết trong trí mình. Người giữ ngày là giữ vì Chúa..”

    Người giữ ngày Chúa sống lại (Chúa Nhật) để làm ngày an nghỉ mới và thờ phượng Chúa không vi phạm tinh thần điều răn “ngày Sabát”. Đó là lý do các tin hữu thời Tân Ước nhóm họp mỗi ngày (Công Vụ 2:46); họp ngày thứ nhất (Chúa Nhật) để thờ phượng Chúa( Giăng 20:19,26; Công Vụ 20:7; ; 1 Côr 16:2) dù trong giai đoạn đầu đa số họ vẫn họp ngày thứ Bảy (Sabát) như người Do Thái. Ngày thứ nhất tức là ngày Chúa Giê-su sống lại, được gọi là Ngày của Chúa ( Khải 1:10).

    Tóm lại, tín hữu của Chúa Giê-su có sự tự do để biệt riêng một ngày làm ngày yên nghỉ, thờ phượng Chúa. Như thế tôi sẽ theo lời Kinh Thánh dạy: Không đoán xét người giữ ngày Sa-bát hay giữ ngày Chúa sống lại (Chúa Nhật) để thờ phượng Chúa. Những người dân hồi hương cũng hứa nguyện tuân giữ năm Sa-bát (Lê-vi 25:1-7; Phục 15:1-11). Đây là một bước đức tin lớn vì trong suốt năm này người ta sẽ không trồng trọt gì và phải dự trữ lúa, thực phẩm cho hai năm. Chúa muốn đất đai cũng được nghỉ ngơi và Ngài hứa rằng sẽ cung cấp thực phẩm cho con dân Ngài. Ngày nay khoa học nông nghiệp cũng thấy nguyên tắc này là cần thiết cho đất nghỉ ngơi cho nên người ta đã áp dụng phương pháp luân canh để đất khỏi kiệt quệ mầu mỡ.

    Khi dân Chúavui mừng làm theo Lời Chúa thì họ cũng vui vẻ hỗ trợ tài vật trong việc phục vụ nhà Chúa. Đền thờ Chúa là nơi đặc biệt để Chúa ngự và hiện diện giữa dân sự Ngài. Nhà Chúa cũng là nơi để dân Chúa tụ họp thờ phượng Chúa với những nghi lễ trang nghiêm, hoành tráng và đầy ý nghĩa. Dân Chúa hứa nguyện sẽ hỗ trợ mục vụ tại đền thờ bao gồm:



    1. Thuế đền thờ.
      Con dân Chúa từ 20 tuổi trở lên sẽ dâng thuế (1/2 sê-ken hàng năm) cho các công việc tại đền thờ. Đóng thuế cho đền thờ Chúa là một hành động để nhắc nhở con dân Chúa rằng họ đã được Chúa mua chuộc khỏi vòng nô lệ để trở thành công dân trong nước Chúa. Hãy sống xứng đáng với địa vị công dân trong nước Chúa. Con dân Chúa trong thời Tân Ước lại càng nên tận hiến không những chỉ tiền bạc mà cả đời sống mình cho Chúa vì chúng ta đã được Con Một Đức Chúa Trời, Chúa Cứu Thế chuộc lại bằng chính mạng sống mình.

    2. Cuỉ để đốt trong các tế lễ thiêu.
      Lửa trên bàn thờ đồng cần cháy luôn luôn và các tế lễ thiêu cần cuỉ để đốt vì thế dân chúng cần dâng cuỉ để duy trì các mục vụ này. Các chi tộc được phân nhiệm để cung cấp củi và mỗi người dân, ai cũng có thể đóng góp trong mục vụ này.

    3. Hoa qủa và thú vật đầu lòng.
      Khi cứu dân Chúa ra khỏi vòng nô lệ tại Ai-cập, Chúa đã hủy diệt mọi con đầu lòng của người Ai-cập nhưng đã cho phép dân Chúa dâng con cừu thay thế con đầu lòng của mình. Vì thế mọi con đầu lòng của dân Chúa đều thuộc về Chúa. Ngoài ra việc dâng hoa qủa và con vật đầu lòng cho Chúa cũng dạy dân Chúa (đặc biệt là trong thời đại ân huệ này) rằng họ nên dâng điều gì tốt nhất cho Chúa vì Chúa đã ban Chúa Cứu Thế, Con Một yêu dấu nhất của Ngài để hy sinh cứu rỗi chúng ta.

    4. Phần mười hoa lợi.
      Một phần mười hoa lợi của dân Chúa được dâng cho Chúa để hỗ trợ thầy tế lễ và người Lê-vi phục vụ trong đền thờ Chúa. Ngoài ra dân Chúa trong thời Cựu Ước cũng dâng hiến của lễ lạc hiến tự nguyện cho nên họ dâng cho Chúa nhiều hơn là một phần mười hoa lợi của họ.

    Kinh Thánh Tân Ước không truyền cho con dân Chúa thời ân huệ phải dâng phần mười như là một luật lệ nhưng Chúa Giê-su khuyên chúng ta nên sống vượt lên trên luật phần mười: “Vì các ông dâng một phần mười bạc hà, hồi hương và rau cần nhưng bỏ những điều quan trọng hơn trong Kinh Luật là công bằng, lònh thương xót và trung tín. Những điều này các ông phải thực hành nhưng cũng không được bỏ các điều kia.” Mat 23:23

    Nhà Chúa hay đền thờ Chúa trong thời đại ân huệ này là hội thánh của Đức Chúa Trời. Hội thánh Đức Chúa Trời chủ yếu là cộng đồng dân Chúa, không phải tổ chức và cũng không phải ngôi giáo đường. Phao-lô giải thích rõ: “Anh chị em không biết rằng anh chị em chính là đền thờ của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh chị em sao?” 1Côr 3:16

    Người yêu mến Chúa, vâng Lời Chúa sẽ vui vẻ hỗ trợ mọi công việc xây dựng hội thánh Chúa. Con dân Chúa ngày nay không những chỉ dâng tài chánh nhưng thì giờ, tài năng của mình để góp phần xây dựng hội thánh Chúa. Thật ra Kinh Thánh Tân Ước dạy chúng ta hãy dâng hiến cả đời sống mình cho Chúa: “ Thưa anh chị em, vì thế tôi nài xin anh chị em, do lòng thương xót của Đức Chúa Trời, hãy dâng hiến chính mình như nhữnh sinh tế sống, thánh khiết, đẹp lòng Đức Chúa Trời, đó là sự thờ phượng hợp lẽ của anh chị em.” Rô 12:1 Ngay cả những công việc chúng ta làm:
    “ Vậy thì, hoặc ăn, hoặc uống hay làm việc gì hãy vì vinh quang của Chúa mà làm.” 1Côr 10:31

  3. Câu Hỏi Thảo Luận
    1. Tại sao con dân Chúa ngày nay(tín hữu của Chúa Cứu Thế) không cần thề ? (Ma-thi-ơ 5:33-37)
    2. Tại sao con dân Chúa không nên cưới gã (lập gia đình) với người ngoại đạo ? (2Côr 6:14-18)
    3. Không thỏa hiệp với tôn giáo, phong tục, tập quán hay thế tục tức là phải sống cô lập, tách khỏi xã hội, văn hóa không? Tại sao con dân Chúa chúng ta phải sống trong xã hội?
    4. Bạn có giữ ngày Chúa Nhật làm ngày nghỉ ngơi và thờ phượng Chúa không? Tại sao bạn giữ và tại sao không?
    5. Tại sao người yêu mến, tin kính Chúa sẽ hết lòng hỗ trợ mọi công việc xây dựng nhà Chúa hay hội thánh Chúa?
    6. Hãy nêu lên những lý do tại sao bạn dâng Phần Mười hay không dâng Phần Mười cho công việc nhà Chúa?
    7. Theo bạn nghĩ, tại sao có rất ít người Việt Nam dâng mình phục vụ Chúa trọn thì giờ?