Sách Ê-xơ-ra
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Bài 4
Bài 5
Bài 6
Bài 7
Bài 8
Bài 9
Bài 10
Giải Đáp

Sách Nê-hê-mi
Bài 1            Bài 15
Bài 2            Bài 16
Bài 3            Bài 17
Bài 4            Bài 18
Bài 5            Bài 19
Bài 6            Bài 20
Bài 7            Bài 21
Bài 8            Bài 22
Bài 9            Bài 23
Bài 10           Bài 24
Bài 11           Bài 25
Bài 12           Bài 26
Bài 13           Bài 27
Bài 14           Bài 28
Giải Đáp

Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Bài 12
Con Đường Dẫn Đến Ân Sủng
Nê-hê-mi 9:1-38

  1. Bối Cảnh và Lược Giải

  2. Một trong những điểm đặc biệt của chương này là chương 9 của sách Ê-xơ-ra và Đa-ni-ên cũng ghi lại lời cầu nguyện tập thể hay đại diện cho cộng đồng dân Chúa. Cuộc hội họp này xảy ra sau kỳ lễ Lều Tạm nhưng mang tinh thần của ngày lễ Sám Hối, Ân Xá. Khi người ta tận hiến cho Chúa, điều này cũng đồng nghĩa với việc biệt riêng ra cho Chúa và tránh thỏa hiệp, hòa đồng với thế gian.

    Những người tụ họp dự lễ đã kiêng ăn, tức là không ăn, uống gì cả trong ngày đó. Kiêng ăn là hành động biểu hiện tấm lòng đau đớn, ăn năn, hạ mình khiêm cung trước mặt Chúa. Kiêng ăn cũng là cách tìm kiếm sự hướng dẫn và giúp đỡ từ Chúa. Dân chúng tụ họp lại nghe đọc Kinh Thánh và giải nghĩa trong 3 tiếng đồng hồ. Đây là cách học Kinh Thánh bằng cách nghe đọc và nghe giảng giải Lời Chúa. Tài liệu khảo cổ từ cộng đồng Qumran (Thế kỷ thứ 2 TCN) cũng cho thấy một cách học Kinh Thánh khác; người trong cộng đồng chia thành từng toán nhỏ vài người và học Lời Chúa(Kinh Thánh) từ ba đến bốn tiếng đồng hồ mỗi tối.

    Sau khi học Kinh Thánh, người ta thờ phượng Chúa. Đây là một buổi họp đặc biệt nhưng cũng mang đầy đủ những yếu tố thờ phượng: Ca ngợi, xưng tội, cầu nguyện. Những người Lê-vi kêu gọi tất cả dân chúng hãy ca ngợi danh vinh hiển, cao cả và vĩ đại của Chúa. Họ ý thức rằng con dân Chúa phải ca ngợi Chúa luôn luôn và phải dạy dỗ những thế hệ kế tiếp ca ngợi Chúa mãi mãi. Đây là điều họ đã thiếu xót trong qúa khứ.

    Con dân Chúa không thể nào im lặng, không ca ngợi, cảm tạ Chúa khi họ ý thức sâu xa những mỹ tính cao cả, tốt đẹp và tấm lòng yêu thương bao la, ân huệ dồi dào của Chúa ban cho họ mỗi ngày. Ngày nay hội thánh nào có nhiều con dân Chúa khao khát đi thờ phượng Chúa để cùng cộng đồng dân Chúa ca ngợi, cảm tạ Chúa; không phải đi nhà thờ vì thói quen hay nhiệm vụ, hội thánh đó sắp được phục hưng.

    Nhờ học hỏi Lời Chúa dân chúng nhận thấy những thiếu xót, lỗi lầm của mình và dân tộc mình. Khi được thuyết phục về tội lỗi của mình và của dân tộc mình, những người tập họp lúc ấy đã xưng tội của họ. Xưng tội là một bước quan trọng trong tiến trình thánh hóa và phục hưng. Thật ra một người không ăn năn, xưng tội, không thể tin Chúa để được cứu rỗi. Từ thời Cựu Ước tế lễ chuộc tội cho cá nhân cũng như ngày lễ Chuộc Tội cho quốc gia đã được lập ra cho dân Chúa. Ngày nay nguyên tắc này cũng vẫn được áp dụng cho cộng đồng dân Chúa.

    Lời cầu nguyện xưng tội của dân Chúa
    Những người này đã tuyên xưng niềm tin nơi Đức Chúa Trời duy nhất (Phục Truyền 6:4). Người Do Thái sống trong một thế giới đa thần và đầy hình tượng nhưng muốn làm con dân Chúa, người đó phải từ bỏ tất cả mọi thần thánh, hình tượng xung quanh và chỉ thờ một mình Đức Chúa Trời. Thật ra dân Chúa đã bị luu đày một phần cũng vì tội thờ lạy các thần thánh, hình tượng khác.

    Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa sinh ra mọi vật, vô hình lẫn hữu hình. Các thiên binh trên trời đang tôn thờ Chúa. Ngoài ra Ngài cũng là Đấng bảo trì, chăm sóc mọi vật. Niềm tin này khác với Tự Nhiên Thần Giáo (Deism): tôn giáo này cho rằng Đấng Tối Cao sáng tạo nên vạn vật rồi Ngài để cho nó vận hành theo luật tự nhiên. Nhưng Đức Chúa Trời của chúng ta là Đấng hằng sống; Ngài đang hoạt động, bảo trì vạn vật và Ngài có thể can thiệp vào đời sống của mỗi người cũng như mọi biến cố trong lịch sử thế giới.

    Đa số tín hữu ngày nay sống như những người theo Tự Nhiên Thần Giáo, họ chỉ đến với Chúa khi bị nguy khốn, cùng đường và cần Ngài giúp đỡ, cứu giúp. Những người cầu nguyện nhắc lại lịch sử dân Chúa, thế nào Chúa đã chọn Áp-ra-ham và dòng dõi ông để làm một dân đặc biệt cho Chúa. Trong sự chọn lựa này, Chúa bày tỏ tình yêu thương, mỹ tính ân sủng và thành tín của Ngài đối với dân Chúa. Đức Chúa Trời cũng lập giao ước với tuyển dân để làm Đức Chúa Trời của họ. Chúa cứu họ ra khỏi ách nô lệ ở Ai-cập, dẫn họ đi qua sa mạc, nuôi nấng, bảo vệ họ trong suốt 40 năm trong sa mạc. Ngài ban cho họ một quê hương tại vùng Pha-lê-tin. Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài Kinh Luật và Điều Răn.

    Dù với tất cả những ân phúc đó, dân Chúa vẫn cứng lòng, phản nghịch và từ bỏ Chúa để thờ lạy các thần thánh khác. Vì thế Chúa đã phải trừng phạt họ, khiến cho đất nước họ bị xâm chiếm, dân chúng bị lưu đày lần thứ nhất vào năm 722 TCN và lần sau vào năm 586 TCN cho đến lúc bấy giờ. Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết và công bình, Ngài không thể kể tội lỗi là công chính.

    Những người Do Thái hồi hương này hiểu rõ ân huệ lớn lao của Chúa khi Ngài cho phép một số người trở về lập quốc, xây đền thờ và sống trên quê hương của mình như họ đang hưởng. Chúa là Đức Chúa Trời đầy ân huệ, giàu lòng thương xót, khoan dung và nhân từ . Đức Chúa Trời đã không hoàn toàn hủy diệt dân Ngài vì Ngài đầy ân huệ và thành tín đối với giao ước Ngài.

    Ngày nay tất cả tín hữu của Chúa Cứu Thế đều được cứu rỗi, được trở nên con dân Chúa, hưởng nhiều phúc lành là nhờ ân sủng của Chúa, bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế . Ngày xưa Chúa chọn dân Do Thái để tôn thờ Chúa, truyền bá, dạy dỗ thế giới về Đức Chúa Trời duy nhất, chân thần. Nhưng khi dân Chúa từ khước Ngài, thờ lạy những thần thánh, hình tượng khác và không truyền bá Đấng Chân Thần cho thế giới biết thì họ sẽ bị trừng phạt. Ngày nay khi tín hữu của Chúa chạy theo thần tài, danh vọng, quyền thế của thế gian và quyên đi thiên chức cao quý của việc truyền bá Phúc Âm, xây dựng Vương Quốc Đức Chúa Trời, chúng ta cũng sẽ không thoát khỏi số phận thê thảm như dân Chúa ngày xưa.

    Hy vọng tín hữu của Chúa Cứu Thế và hội thánh Chúa ý thức rõ tình trạng tâm linh của mình và cũng sẽ bắt đầu thờ phượng và cầu nguyện như những người Do Thái thời Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi.
    Tiên tri Giê-rê-mi khi tiên báo về tai họa cho dân Chúa, ông cũng nhắc đến sự thành tín, lòng thương xót, ân huệ và tình yêu thương của Đức Chúa Trời: “Khi các ngươi kêu cầu Ta, khi các ngươi đến với Ta và nài khẩn Ta, Ta sẽ nhậm lời các ngươi. Các ngươi sẽ tìm kiếm Ta và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng.” Giê-rê-mi 29:12

  3. Câu Hỏi Thảo Luận

    1. Những người Do Thái hồi hương đã nhóm họp và làm những gì ?
    2. Tại sao những người này kiêng ăn trong ngày đó? Bạn hay hội thánh bạn đã kiêng ăn, cầu nguyện bao giờ chưa? Nếu chưa, tại sao chưa làm? Nếu đã có, trong những trường hợp và mục đích gì?
    3. Tại sao con dân Chúa nên ca ngợi Chúa? Bạn có thường ca ngợi Chúa không? Tại sao? Sự ca ngợi trong lễ thờ phượng của hội thánh bạn như thế nào? Xứng đáng, tôn nghiêm, vui vẻ, sinh động như các Thánh Thi mô tả không? Tại sao? Đề nghị những hành động cãi tiến.
    4. Những người này đã học Lời Chúa trong bao lâu? Bạn có thì giờ tĩnh nguyện (Đọc Kinh Thánh, cầu nguyện ) thường xuyên không ? Bạn có tham gia Trường Chúa Nhật hay buổi học Kinh Thánh tư gia hàng tuần không? Tại sao? Bạn đã bao giờ tham dự trại bồi linh, khóa dưỡng linh chưa? Tại sao?
    5. Cá nhân, hội thánh có thể được phục hưng nhưng không cần ăn năn, xưng tội không? Tại sao?
    6. Những người con dân của Chúa này đã tuyên xưng những niềm tin nào trong khi cầu nguyện cùng Chúa?
    7. Cá nhân bạn, hội thánh bạn có muốn được phục hưng không? Cá nhân, hội thánh bạn cần phải làm những gì để được Chúa phục hưng, ban phước dồi dào?