Sách Ê-xơ-ra
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Bài 4
Bài 5
Bài 6
Bài 7
Bài 8
Bài 9
Bài 10
Giải Đáp

Sách Nê-hê-mi
Bài 1            Bài 15
Bài 2            Bài 16
Bài 3            Bài 17
Bài 4            Bài 18
Bài 5            Bài 19
Bài 6            Bài 20
Bài 7            Bài 21
Bài 8            Bài 22
Bài 9            Bài 23
Bài 10           Bài 24
Bài 11           Bài 25
Bài 12           Bài 26
Bài 13           Bài 27
Bài 14           Bài 28
Giải Đáp

Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Bài 10
Củng Cố Cộng Đồng Dân Chúa
Nê-hê-mi 7:1-73

  1. Bối Cảnh và Lược Giải

  2. Khi tường thành đã xây xong và cổng được tra đầy đủ, Nê-hê-mi tổ chức việc canh gác tường thành và củng cố cộng đồng dân Chúa trong thành Giê-ru-sa-lem. Các vùng Giu-đa, Sa-ma-ri, phía tây và phía đông sông Giô-đanh đang ở dưới quyền kiểm soát của một số người không có thiện cảm với dân Do Thái.

    Nê-hê-mi trở về để xây dựng lại tường thành và củng cố cộng đồng dân Chúa trong phạm vi thành Giê-ru-sa-lem. Thành chỉ hữu dụng và hữu hiệu trong việc phòng thủ và bảo vệ cư dân trong thành khi nó được canh gác cẩn thận và có hệ thống. Nê-hê-mi đã cử người canh gác trên thành, kiểm soát các cổng ra vào và ngay cả dân cư ở dọc theo tường thành cũng tham gia canh gác. Những người canh gác tường thành là do dân chúng đề cử. Nê-hê-mi chọn và ủy nhiệm hai người cai trị Giê-ru-sa-lem và hai người này cắt cử người những người canh gác tường thành và cổng thành. Trong vấn đề quản trị và điều hành, Nê-hê-mi đã tận dụng cả ba hình thức đề cử từ dân chúng, chỉ định từ trên xuống và ủy quyền. Vấn đề quản trị hội thánh Chúa ngày nay nếu muốn hữu hiệu chúng ta cũng cần áp dụng cả ba cách này.

    Nê-hê-mi là người được vua cử về xây dựng tường thành và cai trị thành Giê-ru-sa-lem. Nhưng đây là một công việc lớn lao, Nê-hê-mi biết rằng một mình ông không thể nào hoàn thành công việc được, ông cần nhiều người tham gia, hợp tác. Hai đức tính Nê-hê-mi liệt kê như là hai điều kiện căn bản để ông chiêu mộ và ủy nhiệm vào chức vụ lãnh đạo cai trị thành Giê-ru-sa-lem là chính trực, đáng tin cậy và kính sợ Chúa. Từ chính trực cũng có cùng ngữ căn với chân lý, đúng, thành thật..Kính sợ Chúa không phải chỉ nói đến cảm xúc sợ hãi hay sợ bị Chúa hình phạt nhưng cũng nói đến thái độ tận hiến cho Chúa, cho lý tưởng và công việc nhà Chúa. Công việc nhà Chúa tại hội thánh địa phương và Nước Chúa nói chung thời nào cũng cần những người thành thật, chính trực và hết lòng tận hiến cho Chúa.

    Nê-hê-mi đã động viên được dân chúng để họ tham gia canh gác tường thành và kiểm soát cổng vì lợi ích của chính họ và cộng đồng. Kiểm soát việc ra, vào thành là một hành động quan trọng giúp thanh lọc, phát giác kịp thơì những phần tử bất hảo, phá hoại hay kẻ thù xâm nhập cộng đồng. Tường thành Giê-ru-sa-lem rộng lớn, dân cư thưa thớt vì thế nhiều khúc tường không có người canh gác. Nê-hê-mi đã tận dụng những nhà ở chung quanh tường tham gia canh gác tường, như thế những người này có thể canh gác tại những khúc tường thành vắng vẻ.

    Ngày nay theo những thống kê về hội thánh cho thấy trung bình chỉ có 10 đến 20 % hội viên trong một hội thánh là tích cực hoạt động, 80 đến 90% những người khác chỉ tham gia tối thiểu, tức là mỗi tuần đi “xem lễ” hay đi “nghe giảng” một lần. Đây cũng là một trong những lý do khiến cho hội thánh Chúa ngày một suy thoái.

    Tường thành đã xây xong, thành phố thì rộng lớn nhưng dân chúng sống trong thành tương đối ít vì thế Nê-hê-mi cần phải tái phối trí dân cư để có đủ sức phòng thủ và bảo vệ thành Giê-ru-sa-lem.

    Tác gỉa Nê-hê-mi nói rõ rằng chính Đức Chúa Trời thúc đẩy ông kiểm kê dân số để tái phối trí và xây dựng, phòng thủ cộng đồng dân Chúa chứ không phải do sự kiêu ngạo của ông như trường hợp vua Đa-vít đã làm (1Sử 21:1).

    Danh sách những người Do Thái hồi hương với Xô-rô-ba-bên cũng được Ê-xơ-ra nói đến (Êxơ 2:1-70). Hai danh sách có nhiều tên khác nhau; một danh sách có tên một số người nhưng danh sách kia không có.v.v. Những lầm lỗi này có thể là do sao chép nhiều lần trong thơì gian gần một trăm năm. Những lỗi cũng có thể là do cách đánh vần tên tương tự hay dùng danh hiệu, tên tự, bí danh v.v. Điều khó giải thích nhất là cả hai danh sách đều cho biết con số tổng cộng là 42.360 người, nhưng nếu cọng tất cả số người trong danh sách thì chỉ có 31,089 người.

    Một số học gỉa cho rằng số phụ nữ và trẻ em không được ghi trong danh sách. Một số khác cho rằng đây là danh sách của những người Giu-đa và Bên-gia-min mà thôi; những người thuộc các chi tộc khác không được ghi trong danh sách này. Một giải pháp khác cho rằng con số sai biệt bao gồm cả số người trở về Do Thái sau đợt đầu tiên với Xô-rô-ba-bên.

    Một vài điểm về danh sách số người Do Thái hồi hương. Số người lãnh đạo gồm 12 người, có lẽ đại diện của mười hai chi tộc. Đây là điều hết sức ý nghĩa vì mười chi tộc của Y-sơ-ra-ên đã bị lưu đày từ năm722 TCN. Nê-hê-mi thuộc nước Giu-đa và bị lưu đày vào khoảng 586 TCN nhưng ông đã có thể triệu tập tất cả người Do Thái trong cả hai đợt lưu đày và ly hương trở về.

    Đối với đa số chúng ta thời hiện đại, gia phả không phải là điều quan trọng nhưng đối với những người Do Thái thời đó, chủng tộc và tôn giáo là hai điều liên hệ quan trọng. Người Do Thái được Chúa chọn để thờ phượng và dạy dỗ muôn dân về Đức Chúa Trời duy nhất và chân thật. Những người không phải là Do Thái có thể sẽ đem những thần thánh của họ pha lộn với sự dạy dỗ và thờ phượng Đức Chúa Trời.

    Ngày nay nhiều cơ quan và giáo hội bị suy đồi, hủy hoại từ bên trong vì họ đã thu nhận, dung dưỡng và sử dụng những người chưa được tái sinh, chưa phải là con dân của Chúa hay công dân của Nước Trời. Những người Do Thái hồi hương gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, lãnh đạo chính trị, thầy tế lễ, người phục vụ trong đền thờ và ngay cả những tôi tớ của họ. Trên một phương diện, những người này là những người tiền phong trong công tác phục hồi dân Chúa và tái thiết nước Chúa. Từ những người này Chúa Cứu Thế đã ra đời, thi hành chức vụ và cứu rỗi nhân loại.

    Tất cả con dân Chúa dù thuộc bất cứ thành phần, giai cấp, ngành nghề gì cũng đều có thể tham gia xây dựng nhà Chúa và nước Chúa. Những người lãnh đạo nhà Chúa cần lưu ý, chiêu mộ tất cả mọi thành phần trong cộng đồng dân Chúa để xây dựng, phát triển nước Chúa. Danh sách có tên cả những người tôi tớ, nô lệ của người Do Thái ly hương. Điều này cho thấy dù bị lưu đày nhưng dân Chúa đã có một đời sống khá sung túc. Ngoài ra khi những người tôi tớ, nô lệ của họ cũng bằng lòng theo chủ hồi hương chứng tỏ rằng những người tôi tớ, nô lệ này đã chấp nhận Chúa của Chủ và đã trở thành những người thờ phụng Chúa của chủ họ. Đời sống của những người trung tín và kính sợ Chúa sẽ lôi cuốn người khác đến với Chúa.

    Một số người vì không chứng minh được rằng mình thuộc dòng dõi thầy tế lễ nên bị kể là ô uế và không được thi hành phận sự của thầy tế lễ, không được vào nơi thánh. Tín hữu của Chúa Cứu Thế ngày nay là thầy tế lễ hoàng gia (1Phê-rơ 2:9) cho nên nếu một người chưa được tái sinh bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế(Giăng 1:12) thì người đó không thể vào nước Chúa được.

    Ngày nay một số giáo hội và cơ quan Cơ Đốc (Đại Học) đã trở thành những cơ quan hay giáo hội theo triết lý nhân bản, vật chất thế tục vì những người mệnh danh là thầy tế lễ quản trị và điều hành các cơ chế đó không phải là những thầy tế lễ hoàng gia chân chính vì họ chưa được tái sinh bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế.

    Dâng hiến để xây dựng nhà Chúa là một hành động đáng được khích lệ trong mọi thơì đại. Những người lãnh đạo, thống đốc không những đã trở về, bỏ công sức xây dựng tường thành nhưng họ cũng dâng hiến của cải để xây dựng nhà Chúa. Điều này cũng chứng tỏ rằng những người này ý thức sâu xa rằng nếu Đức Chúa Trời không ban ơn, chúc phước và hỗ trợ cho họ, họ sẽ không có gì cả và không thể xây dựng được gì cả. Dâng hiến rộng rãi là biểu tượng của đức tin lành mạnh.

    Chương 7 là một chương dài nhưng đa số là danh sách những người hồi hương. Đây là những người Do Thái ly hương đã trở về xây dựng đền thờ, tường thành và tái lập các định chế thờ phượng và củng cố cộng đồng dân Chúa. Điều này cho thấy trong mọi công tác xây dựng nước Chúa, Ngài dùng con người, đủ mọi thành phần, giai cấp, ngành nghề trong xã hội, ngay cả những kẻ nô lệ.

    Mục đích và chương trình của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ được thực hiện, không có lực lượng, quyền thế, vũ khí hay con người nào và kể cả quỷ vương Sa-tan và ma quỷ cũng không bao giờ có thể hủy phá hay chận đứng vĩnh viễn được. Vì thế là con dân của Chúa, chúng ta không bao gờ tuyệt vọng nhưng lúc nào cũng hy vọng nơi Chúa. Vấn đề của chúng ta là tìm kiếm ý Chúa, tận hiến đời sống cho Chúa và sẵn sàng vâng lời khi Chúa gọi và sử dụng bạn.

    Đối với Đức Chúa Trời không có gì là qúa khó cho Ngài; không có gì ngăn cản để cho Ngài không thể tái lập, phục hồi nhà Chúa và nước Chúa. Nếu muốn thấy hội thánh Chúa và Nước Chúa giữa vòng người Việt tại quê hương chúng ta phát triển và phục hưng, một số người tín hữu tha hương phải bằng lòng lìa bỏ “Ba-by-lôn” giàu có, thoải mái để trở về bắt tay xây dựng nhà Chúa, tường thành và cộng đồng dân Chúa.

    Đức Chúa Trời đang tìm kiếm những người tín hữu Việt Nam có lòng tận hiến cho Ngài như Nê-hê-mi, Ê-xơ-ra, Xô-rô-ba-bên và tất cả những người Do Thái thuộc đủ mọi thành phần trong danh sách kia để xây dựng, thiết lập và phục hưng nhà Chúa và Nước Chúa tại quê hương chúng ta.

  3. Câu Hỏi Thảo Luận
    1. Nê-hê-mi đã làm gì để sử dụng tường thành Giê-ru-sa-lem một cách hữu hiệu?
    2. Nê-hê-mi đã làm gì để có thể thực hiện được một việc lớn lao như xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem?
    3. Nê-hêmi đã dùng những đức tính nào để làm tiêu chuẩn chiêu mộ những người lãnh đạo, hợp tác với ông cai trị Giê-ru-sa-lem?
    4. Hãy nêu lên một vài bài học bạn học được qua danh sách những người Do Thái hồi hương xây dựng đền thờ, tường thành và cộng đồng dân Chúa?
    5. Đức Chúa Trời có chương trình gì cho Việt Nam không? Kinh Thánh chứng minh.
    6. Điều gì hay những điều gì đã ngăn cản Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi dân tộc Việt Nam?
    7. Chính bạn cần phải làm gì để Chúa có thể hoàn thành chương trình cứu rỗi của Ngài cho dân tộc Việt Nam?