![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Ngụ Ngôn Về Con Chiên Đi Lạc Lu-ca 15:1-32 I.Bối Cảnh và Lược Giải Hai ngụ ngôn về con chiên đi lạc và người đàn bà mất quan tiền có mục đích và động lực tương tự như nhau nên chúng ta sẽ tìm hiểu chung với nhau. Trong hai ngụ ngôn này, Chúa là người giàu tình thương hết sức nỗ lực để tìm kiếm và phục hồi tội nhân về với Ngài. Chúa cũng nhấn mạnh đến tấm lòng vui mừng của ngài và thiên đàng khi có người ăn năn quay lại với Đức Chúa Trời. Người thu thuế và tội lỗi là những người bị loại ra khỏi cộng đồng tôn giáo Do Thái. Những người lãnh đạo tôn giáo và những người sùng đạo đều tránh giao tiếp với những người này. Chúa Giê-su không những thu hút những người tội lỗi nhưng Ngài còn giao tiếp với họ trong các bữa ăn. Chúa Giê-su thể hiện sự công chính, thánh khiết và cứu rỗi nhưng Ngài đi đến với tội nhân hư mất; Chúa tìm kiếm họ để cứu. Và hai câu chuyện ngụ ngôn này cũng nói lên tấm lòng hân hoan vui mừng khi Chúa tìm được người hư mất trở về với Ngài. Một bầy chiên vào thời đó trung bình khoảng 100 con. Chiên hay cừu là loài vật ngây thơ, dại dột và có thể ham ăn đi lạc bầy. Nếu không tìm thấy kịp, con chiên đi lạc có thể bị thú dữ tấn công và ăn thịt;hoặc té xuống hầm hố, vách nuí và chết mất. Người chăn cừu thường kiểm điểm bầy chiên vàkhi thấy thiếu một con nào thì có thể dừng lại, giao bầy chiên còn lại cho một người chăn khác gần đó trông hộ, còn mình đi tìm con chiên đi lạc. Người chăn chiên vui mừng tìm thấy con chiên đi lạc và vác nó về. Vì người chăn chiên thường phải đền nếu để mất chiên; ngoài ra người chăn chiên bị mất chiên cũng bị mang tiếng là thiếu cẩn trọng, chu đáo. Những người bạn chăn chiên và láng giềng đều hân hoan chia vui với người chăn chiên kia. Chúa Giê-su qua ngụ ngôn này cho thấy người chăn chiên từ Đức Chúa Trời mà Ngài là hình ảnh tiêu biểu có nhiều điểm trái ngược với những người lãnh đạo Do Thái giáo (những người chăn dân Chúa). So sánh Người Pha-ri-si và chuyên gia Kinh Luật Chúa Giê-su - Tin vào sự công chính, thánh thiện theo Kinh Thánh - Tin như thế - Người ta phải ăn năn để đến với Chúa - Phải ăn năn để đến với Chúa * Không đi tìm kiếm người lầm lạc, tội lỗi * Nỗ lực tìm kiếm người lầm lạc, tội lỗi * Không giao tiếp với người phạm tội * Giao tiếp, nhưng không thoả hiệp * Không quan tâm đến người lạc mất * Vui mừng đón nhận kẻ hư mất trở về * Khinh bỉvà xa lánh người lầm lạc * Thương yêu người lầm lạc. Câu chuyện mất quan tiền cũng nói lên cùng một động lực vui mừng khi tìm được quan tiền bị lạc mất. Một quan tiền này tương đương với một đồng tiền Đơ-ni-ê (trị giá khoảng một ngày công) vì thế không phải là lớn lắm. Có học giả cho rằng đồng tiền này là mười đồng tiền bằng bạc đính trên khăn như là một phần của hồi môn nên rất quí. Nhưng dù quan tiền có giá trị lớn hay là một kỷ vật thì người đàn bà này quyết tâm tìm kiếm nó. Và khi tìm thấy quan tiền, người này vui mừng và cũng muốn bạn hữu mình chung vui vì timlại vật đã mất. Trong cả hai ngụ ngôn, thiên đàng, thiên sứ đều hân hoan vui mừng vì tội nhân ăn năn trở lại với Chúa. Những người Pha-ri-si và lãnh đạo tôn giáo Do Thái không có tình thương yêu tội nhân, không tìm kiếm họ và vì thế cũng không vui mừng vì tội nhân ăn năn. Ngụ ngôn này hàm ý họ không phải là bạn hữu của người chăn chiên và của người đàn bà và cũng không phải là những người ở thiên đàng. Ngụ ngôn thứ ba nói về tấm lòng yêu thương tha thứ của người cha đối với đứa con hư hỏng lầm lạc. Theo truyền thống Do Thái chuyện này rất hiếm vì yêu cầu chia gia tài tức là cầu mong cha mình chết, tuy nhiên cũng có tài tiệu cổ cho thấy người cha được khuyên không nên chia gia tài sớm quá, tức là việc này có thể xảy ra. Nếu việc này xảy ra, người anh có thể được phần gia tài gấp đôi (Phục 21:17) người em. Người thanh niên trẻ tuổi độc thân bỏ nhà ra đi đến một xứ lạ. Anh sống trụy lạc và tiêu phí tài sản nhanh chóng vàkhông may xứ bị đói kém nên phải tìm việc làm thấp kém nhất thời bấy giờ. Đối với người Do Thái việc chăn heo còn bị coi là ô uế vì heo là vật ô uế. Tình trạng bi đát vànhục nhả đến độ cậu này đói quá muốn ăn thức ăn của heo mà cũng không có mà ăn. Người thanh niên này tỉnh ngộ, anh nhận thấy tôi tớ trong gia đình cha anh còn đầy đủ hơn anh ta hiện tại. Người con này nay mới thấy cha mình là người chủ nhân lành. Người con hoang đàng nay mới nhận thức được sự sai lầm, tội lỗi của mình trước mặt Chúa và cha mình. Người con bằng lòng trở lại với cha nhưng chỉ xin làm việc như một tôi tớ vì biết mình đã đánh mất quyền thừa kế cũng như quyền làm con. Đây là bức tranh của khiêm nhường và ăn năn thật. Ăn năn thật khôn dám đòi hỏi gì, chỉ xin lòng thương xót và chu cấp tối thiểu như một người làm công thấp kém nhất. Người cha khi thấy con về từ đàng xa đã chạy ra ôm cổ mà hôn. Một người bề thế, lớn tuổi thường đi đứng chậm rải, không chạy nhảy vì như thế là mất trang nghiêm, đứng đắn. Nhưng người cha đã quá cảm xúc, mừng rỡ nên đã chạy ra ôm con. Hành động này cũng cho thấy người cha vẫn mong chờ con mỗi ngày. Người con chỉ dám xin về làm đầy tớ hạng thấp nhất nhưng người cha nhận con mình như conruột của một gia đình vọng tộc. Đầy tớ chỉ mặc đồ ngắn, đi chân không và mang dép cho chủ. Ở đây người cha cho con mình aó dài của một công tử, nhẫn của con trai ruột, đi dép của người giàu có, không phải lao động chân tay. Người cha còn bảo giết bò tơ mập ăn mừng. Một con bò có thể đãi tiệc cả làng. Người cha và gia đình vui mừng vì đứa con đã chết, nay sống lại, đã mất nay tìm lại được. Người con cả thấy thế nổi giận, không chịu vào chung vui với gia đình. Người cha phải ra năn nỉ con cả chung vui với gia đình. Người con cả bày tỏ thái độ của mình: - Anh cho rằng người cha thiên vị. Cha không thưởng cho hành động vâng lời, làm việc của anh. - Người con cả chỉ nghĩ tới bản thân mình - Người con cả ở trong gia đình nhưng hành động và suy nghĩ như một người làm công hay nô lệ. - Người con cả suy nghĩ đến sự ban thưởng cho công đức, việc thiện nhưng người cha vui mừng vì lòng thương xót, ân huệ, không phải thưởng cho tội lỗi của đứa con. Ngườicha vui mừng vì lòng ăn năn và trở lại của con, không pha i thưởng. - Người con cả có thái độ tự cho mình công chính như các người lãnh đạo Do Thái giáo và không chấp nhận sự ăn năn. Người cha nhắc nhở đứa con cả rằng anh ta vẫn có cha bên cạnh, có tất cả tài sản, địa vị con cả. Nhưng người cha cũng không bỏ quyết định vui mừng nhận lại đứa con hư mất của mình. Trái lại ngưòi cha nhấn mạnh đến điều “phải ăn mừng hoan hỉ vì em con đã chết, mà nay được sống, đã mất mà nay tì m lại được.” II. Câu Hỏi Thảo Luận
|