![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Bài Học cho Dân Do Thái Lu-ca 13:1-9 I. Bối Cảnh và Lược Giải Vụ thống đốc Phi-lát giết mấy người Ga-li-lê dù không được Josephus, một nhà sử học Do Thái ghi chép trong tác phẩm Chiến Tranh Do Thái (Jewish War) nhưng không có gì chứng tỏ rằng đây không phải là một sự kiện đã thật sự xảy ra. Ngoài ra ông Josephus cũng chỉ ghi chép một số sự kiện chứ không phải ghi chép tất cả mọi sự kiện đã xảy ra tại Do Thái. Những vụ các nhà cầm quyền La Mã tàn sát dân không có gì là lạ tại vùng này vào thời bấy giờ. Vụ giết chóc này có thể đã xảy ra vào dịp lễ Vượt Qua vì vào lúc đó các người hành hương thường sẽ giết con chiên dâng tế của mình mang đến. Thống đốc Phi-lát cai trị Giu-đê nhưng bị dân Do Thái thù ghét. Phi-lát, thống đốc La Mã cai trị Giu-đê từ năm 26/27 đến 37 SCN. Phi-lát đặt trung tâm hành chánh tại Sê-sa-rê và có khoảng 5000 quân dưới quyền mình. Biến cố những người Ga-li-lê bị giết có thể là vụ quân của Phi-lát đã giết một số người Do Thái trong một cuộc nổi dậy chống đối thống đốc vì lấy tiền trong đền thờ để xây ống dẫn nước vào Giê-ru-sa-lem. Quan niệm thông thường thời bấy giờ cho rằng những người bị chết thê thảm có thể vì họ đã phạm tội gì đó rất nặng. Các bạn của Gióp cũng có quan niệm sai lầm này Gióp 4:7; 8:4. Khi bác bỏ quan niệm này, Đức Chúa Giê-su cho thấy không phải tất cả những vụ chết chóc thê thảm đều là do Trời phạt nhưng là hành động của những người gian ác. Chúng ta là những con người đồng loại, chúng ta không nên đóng vai Đức Chúa Trời lên án hay đoán xét người khác. Chúa Giê-su cho thấy tất cả mọi người đều phạm tội; ăn năn là con đường duy nhất để thoát khỏi hình phạt của tội lỗi và sự chết tâm linh đời đời cũng thê thảm như vụ thảm sát kia. Lời phê bình của Chúa Giê-su có thể sẽ gây ảnh hưởng chính trị không thuận lợi cho Ngài. Nếu Chúa bênh vực dân Do Thái chỉ trích hành động tàn sát của Phi-lát, Ngài có thể bị tố cáo là chống chính quyền La Mã. Nếu Chúa Giê-su trả lời thân thống đốc thì dân chúng sẽ cho rằng Ngài phản dân tộc, không xứng đáng là một tiên tri. Chúa Giê-su dẫn họ đến một thực trạng cao hơn, Ngài dùng việc này để cảnh cáo họ về tội lỗi và khuyên họ ăn năn để khỏi bị hủy diệt. Trường hợp tai nạn tháp Si-lô-ê cũng thế, Chúa Giê-su bác bỏ quan niệm cho rằng những người kia phạm tội nặng hơn những người dân Giê-ru-sa-lem nên bị tai nạn thê thảm đó. Chúa cũng cảnh cáo họ nên ăn năn vì mọi người đều có tội. Trong cả hai trường hợp Chúa Giê-su cho thấy con người cá nhân cũng như tập thể sống và tồn tại là một ân huệ của Đức Chúa Trời; người ta hay dân tộc có thể bị diệt bất cứ lúc nào. Chúa Giê-su cũng có thể dùng hai trường hợp trên để cảnh cáo người Do Thái, nếu họ không ăn năn dân tộc họ có thể bị tai họa hủy diệt như thế. Cây vả thường tượng trưng cho tuyển dân Do Thái. Cây vả này đáng lẽ phải có trái hàng năm nhưng đã ba năm nó không sinh trái. Vậy cây này có thể đã hiện diện bảy năm trong vườn. Như thế nó hút hết hoa màu của đất và phí phạm. Ngụ ngôn này có thể có một số bài học áp dụng cho cá nhân lẫn tuyển dân Do Thái. 1/ Được trồng trong vườn là một đặc ân; đời sống thể chất lẫn tâm linh là một ân sủng. 2/ Kết hoa quả, sinh bông trái trong đời sống con dân Chúa là một việc tự nhiên. Mục đích của một đời sống của con dân Chúa là sinh bông trái, làm vinh hiển Chúa. Một tín hữu của Chúa phải có bông trái đạo đức, tức là đổi mới giống như Chúa Giê-su về thái độ, tư tưởng, hành vi đạo đức và kết quả tâm linh là đem được nhiều người trở về cùng Chúa. 3/ Đời sống của một con dân Chúa mà không có kết quả là một tội trọng. 4/ Một đời sống bất hữu dụng cho Chúa là một đời sống phí phạm, vô ích và bị mối nguy cơ hủy diệt. Một số học giả cho rằng Chúa Giê-su đã cảnh cáo và nói tiên tri về sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem và nước Do Thái vào năm 70 SCN. II. Câu Hỏi Thảo Luận
|