![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Những Lời Dạy của Chúa Cứu Thế Lu-ca 6:27-49 I. Bối Cảnh và Lược Giải. Trong đoạn này Lu-ca ghi lại những lời khuyên của Chúa Giê-su. Điều đặc biệt về những lời khuyên này là một nền tảng mới cho thái độ và hành động của con dân Nước Đức Chúa Trời:Tình yêu thương. Tình yêu thương trong đoạn này được trình bày qua ba khía cạnh và bốn hành động: 1. Tình yêu thương cho cả kẻ thù. 2. Tình yêu thương trên phương diện đối với bản thân. 3. Tình yêu thương mô phỏng theo tiêu chuẩn thiên thượng. Bốn hành động cụ thể gồm có: 1. Yêu kẻ thù 2. Đối xử tử tế với những người ghét mình. 3. Chúc phước cho những kẻ rủa mình. 4. Cầu nguyện cho những kẻ lăng mạ mình. Sau mỗi lời khuyên yêu thương Chúa Giê-su dùng một số minh họa để giải thích rộng thêm hay áp dụng lời khuyên. Trong khi tình yêu thương là CHỦ YẾU, một số những ý niệm khác liên hệ cũng được dạy như thương xót, nhân từ, rộng lượng. Lu-ca 6:37-49 chuyển qua một hình thức dạy dỗ khác, hình thức ngụ ngôn. Các ngụ ngôn này cũng được những tác giả Phúc Aâm khác ghi chép nhưng Lu-ca cô đọng và gom lại vào một chỗ. “Hãy yêu thương kẻ thù nghịch mình”. Đây là loại yêu thương cao quí nhất, một tình yêu thương thiên thượng và siêu việt mà chỉ những người đã kinh nghiệm được tình yêu thương siêu việt của Chúa mới có thể có. Kinh Thánh Cựu Ước dạy “Hãy yêu người lân cận như mình” Lê 19:18. Nhưng Do Thái giáo giải thích “người lân cận” là những người có đồng tín ngưỡng và chủng tộc. Một số nhóm và phong trào trong Do Thái giáo như nhóm Qumran vấn đề ghét kẻ thù khác tôn giáo là điều có quyển làm. Điều dạy dỗ của Chúa Giê-su rất khó nhưng không phải là không làm được vì các môn đồ và tín hữu của hội thánh đầu tiên đã thực hành điều này. (Công Vụ 7:58-60; Rô 12:16-21; 1Tê-sa 5:15; 1Phê 3:9). “ Đối xử tử tế với những người ghét mình” Đây là hành động cụ thể của tình yêu thương thiên thượng. Điều này cũng cho thấy đối với Chúa Giê-su, tình yêu thương không phải chỉ là một ý tưởng trừu tượng và tiêu cực, thụ động nhưng là một hành động cụ thể trong cuộc sống. ‘Chúc phước lành cho những kẻ chửi rủa mình’. Người có tình yêu thương thật không những hành động nhưng cũng kêu cầu Chúa ban phước cho kẻ rủa mình. Tình yêu từ trong lòng được thể hiện qua lời nói và với Chúa cho người ghét mình. Người tín hữu có thể rủa không? Phao-lô 1 Cô 16:22 viết “Ai không yêu mến Chúa, người ấy đáng bị nguyền rủa. Lạy Chúa, xin hãy đến.” và Phao-lô cũng nói với thầy phù thủy Ba-giê-su tại Ba Phô (Công 13:10-11). Như thế trong một vài trường hợp tín hữu không hoàn toàn bị cấm nói lời rủa nhưng dù là lời rủa người nói chủ yếu là muốn đem người ta đến cùng Đức Chúa Trời. “Cầu nguyện cho những người lăng mạ mình”. Đây là hình thức cao cả của tình yêu thương vì người ta có thể cố gắng lịch sự, tỏ bày những hành động nhân từ bề ngoai nhưng chưa chắc đã có tấm lòng yêu thương. Nhưng một người đến với Đức Chúa Trời và biết rằng họ không thể giấu điều gì trong lòng trước mặt Chúa và vì thế người ta có thể cầu thay cho kẻ ghét, lăng mạ mình khi tấm lòng thật sự yêu thương họ. Chỉ có tình yêu thương thiên thượng của Chúa mới có thể giúp con dân Ngài làm điều đó. “Ai tát má bên này, hãy đưa luôn má bên kia cho họ.” Đây là hành động minh họa, không hẳnlà một luật lệ phải theo. Điểm Chúa muốn nói ở đây là thái độ chấp nhận bị nhục mạ, sẵn sàng tha thứ và vẫn tiếp tục giúp đỡ kẻ nhục mạ mình dù có thể bị nhục mạ nữa. Đây là thái độ phát xuất từ tình yêu thuơng đến nỗi từ bỏ quyền của mình. Điều Chúa dạy ở đây là vấn đề quyền cá nhân, không phải nói về chính quyền hay một quốc gia. Quốc gia hiện hữu và Phao-lô cho thấy tín hữu phải tôn trọng và vâng phục chín quyền (Rô 13:1-4), vì thế ở đây Chúa không nói đến quyền tự vệ và phòng thủ của một quốc gia. Minh họa thứ hai cũng tương tự và có thể nói về cướp bóc trong bối cảnh tôn giáo. Thời bấy giờ giáo sĩ hay người đi truyền giáo có thể bị cướp hay bóc lột nhưng không nên sợ bị thiệt hại hơn nữa, hãy tiếp tục phục vụ và không trả thù. Điều này cũng có thể nói về hoàn cảnh bị bắt bớ, ngược đãi gây thiệt hại nhưng những điều này không làm chúng ta ngừng phục vụ hay giúp đỡ người khác. Minh họa thứ ba chỉ về hành động xin nhưng động từ này cũng có thể hiểu là mượn. Có thể ở đây chỉ về việc xin ăn vì trong đoạn này nói về hành động từ thiện tôn giáo. Minh họa thứ tư nói về việc không đòi lại vật bị lấy đi. Có thể đây cũng chỉ về việc vay mượn. Nhiều người cho rằng đây là những điều kiện lý tưởng, không thể thực hành được trong xã hội; hoặc những điều này chỉ dành cho Nước Đức Chúa Trời trong thời lai thế. Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn những điều dạy dỗ này trong bối cảnh có Đức Chúa Trời thưởng phạt công minh thì những con dân Chúa vì biết chắc Chúa sẽ thưởng cho mình trong trần thế hay trong Nước thiên đàng nên có sức mạnh và tình yêu thương của Chúa để sống theo những nguyên tắc này. Luật vàng: “Các con muốn người làm cho mình thể nào, hãy làm cho người ta thể ấy.” 6:31 Vào thời cổ có nhiều nhà đạo đức và triết gia Do Thái, Hy Lạp, La Mã và Trung Hoa cũng đã tuyên bố những câu tương tự tuy nhiên Chúa Giê-su tuyên bố tích cực và nhấn mạnh nhất. Một người nên đối xử vơí người khác với sự kính trọng và nhạy cảm như mình muốn người khác đối xử với mình vậy. Tình yêu thương đựơc minh họa bằng ba lời giải thích: 1. “Yêu kẻ yêu mình” là việc bình thường. Câu này nói lên tình yêu thương vô điều kiện chứ không phải “hãy yêu thương người để được yêu thương lại. Hãy làm lành cho người để được làm lành lại.” Aân huệ ở đây có thể hiểu như phần thưởng ỡ Ma-thi-ơ 5:46 2. “Làm ơn cho người làm ơn cho mình”. Ma-thi-ơ không có câu này nên có học giả cho rằng Lu-ca có thể theo câu 5:47 nói về sự chào hỏi anh em mà thôi. Tuy nhiên nếu Lu-ca có một nguồn tài liệu chung và tóm lược tổng quát ý Chúa Giê-su dạy thì rất hợp lý. Làm ơn tức là làm điều lành hay thiện cho người khác bất kể người đó có làm điều tốt cho mình hay không là điều Chúa muốn và Chúa sẽ ban ơn cho người làm như thế. Điều dạy dỗ này trái với điều một số người Do Thái giáo dạy vào thời giữa Tân và Cựu Ước: “ hãy giúp một người thiện, không nên giúp một tội nhân.” Sir.12:7 (Bock 1994: 600). 3. “Cho mượn” Câu này có thể chỉ về hành động cho vay lấy lời hay chỉ cho mượn và mong trả lại đầy đủ. Trong Cựu Ước Kinh Luật (Xuất 22:25; Lê 25:35-37) dạy người Do Thái chỉ nên cho mượn và không được cho người Do Thái anh em vay lấy lời, nhưng họ có thể cho vay lấy lời đối với người ngoại quốc. Tuy nhiên trong văn mạch ở đây câu này có nghĩa là cho mượn và mong lấy lại đầy đủ. Điều Chúa muốn nói đến ở đây là động lực cho mượn không những sẽ lấy lại đầy đủ mà còn mong rằng trong tương lai nếu mình có cần mình sẽ được cho mượn lại; nghĩa là có qua có lại, tương trợ lẫn nhau. Đây là một điều tốt nhưng động lực vẫn là ích kỷ vì người cần sự giúp đỡ nhưng không có khả năng trả ơn lại thì sao? Điều Chúa dạy là tình yêu thương thật sẽ cho mượn vì người ta cần mà không có điều kiện ràng bục dù là điều kiện hiểu ngầm và trong tương lai. Để tóm lược Lu-ca cho thấy người tín hữu có thể thực hành những điều trên vì con dân Chúa có sự liên hệ với Đức Chúa Trời và phần thưởng thiêng liêng từ Trời là nền tảng cho hành động phản ảnh bản chất của Đức Chúa Trời, Đấng đầy ân huệ, ban ơn cho người vô ơn và gian ác. Lu-ca cũng trình bày sơ lược những mỹ tính của Đức Chúa Trời và đó là lý do Chúa khuyên con dân Ngài hành động. Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương, ân huệ, nhân từ và thương xót. Thương xót là đức tính giúp người ta không vội vàng và nghiêm khắc lên án người khác. Bốn lời khuyên về đoán xét 1. Đừng đoán xét thì sẽ không bị đoán xét. Đoán xét không có nghĩa là không có sự nhận xét và phân biệt về đạo đức như Kinh Thánh nhiều lần chứng tỏ Rô 1:32; 1Cô 5:5... Thái độ đoán xét là thái độ nhanh nhẹn lên án, cho rằng người ta đã phạm tội, đáng bị hình phạt và không có thái độ khuyến khích người phạm tội ăn năn, quay về với Đức Chúa Trời. Thái độ đoán xét bao gồm ý tưởng cho rằng mình tốt, thiện hơn; mù lòa trước những lỗi lầm của chính mình. Vì thế đoán xét là hành động chiếm quyền của Đức Chúa Trời. 2. Đừng lên án để khỏi bị kết án. Chúa là Đấng thương xót và ban ân huệ cho những người có lòng thương xót khi đối xử với những người khác. 3. Tha thứ để đươợc tha thứ. Chúng ta hãy tha thứ vì Chúa đã tha thứ chúng ta. Eâph 4:32 Điều này không có nghĩa là chúng ta cho rằng người phạm tội không làm điều sai quấy nhưng chúng ta không coi việc sai quấy ấy là tội lỗi vĩnh viễn để kết án tội nhân. Chúng ta nên có thái độ ân xá như Chúa đã ân xá chúng ta những tội lỗi chúng ta phạm. Điều này là một nguyên tắc cá nhân, không phải nguyên tắc của chính quyền hay xã hội. Tòa án có quyền và kết án sau khi xét xử công bằng. Chúa Giê-su không bài bác và phủ nhận quyền của Sê-sa, của quân đội và nhân viên thâu thuế trong xã hội. 4. Hãy ban cho thì sẽ được ban cho. Rộng lượng là một đặc tính của tình yêu thương. Người rộng lượng sẽ được Chúa đối xử rộng lượng. Hình ảnh đong lúa, lắc, nhận xuống, đổ đầy đến không còn chỗ chứa cho thấy sự rộng rãi của Chúa đối với người rộng lượng. Chúa ban cho người rộng lượng đầy những ân huệ nhưng không nhất thiết là sự giàu có vật chất mà là ân huệ thuộc linh, tinh thần nữa. Ba Ngụ Ngôn 1. Người mù dẫn người mù, cả hai sẽ té xuống hố sâu. Người mù chỉ về những người Pha-ri-si hay lãnh đạo Do Thái giáo. Nếu nhìn tổng quát toàn thể Kinh Thánh Tân Ước chúng ta có thể thấy rõ Chúa chỉ tỏ nhiều sai lầm của người Pha-ri-si. Nhưng đây là một ngụ ngôn nên không có chỗ nào nói rõ là áp dụng hay chỉ về người Pha-ri-si. Một số người cho rằng người mù ở đây chỉ về người tự cho mình là người thấy đường và hướng dẫn người khác và những người này có thể là các môn đệ của Chúa vì trong đoạn này, Chúa đang nói với các môn đệ. Thật ra những lời khuyên này được trình bày như những ngụ ngôn vì thế nó có thể áp dụng cho mọi người và mọi thời đại. Chúa Giê-su là con đường và là ánh sáng vì thế ở ngoài Ngài là ở trong bóng tối; thiếu Ngài là thiếu ánh sáng và bị mù lòa. Ngoài ra từ hố sâu ở đây không phải là hố thường mà là vực thẳm của thời lai thế; tức là nói về ý tưởng thuộc linh. 2. Học trò như thầy. Học trò không thể lớn hơn thầy. Trong mối liên hệ thầy trò thời cổ, trò không thể hơn thầy. Thời bấy giờ học qua nghe thầy giảng dạy, không có nhiều sách vở vì thế kiến thức của thầy là thẩm quyền của thầy giáo. Ý nghĩa ở đây có thể nói về việc chọn đúng người để học và tự cho mình thẩm quyền quá cao, hơn cả thầy. Đừng đi quá những gì Chúa Giê-su dạy bảo. 3. Hãy lấy cái đà trong mắt mình trước khi lấy cái dầm trong mắt người khác. Người tự mãn về công chính của mình và chỉ trích người khác nhưng không thấy rằng mình cũng có nan đề lớn trong đời sống mình. Lời khuyên không có ý nói chúng ta không nên giúp đỡ hay quan tâm đến người khác nhưng chỉ có ý rằng một người nên giải quyết nan đề của mình trước đã rồi chúng ta sẽ có thể giúp giải quyết nan đề nhỏ của người khác. Xem qủa biết cây 6:43-45 Kết quả của một người thầy sản xuất phản ánh bản chất của người thầy. Quả không thể khác bản chất với cây. Quả nói đến sản phẩm của một đời sống. Bạn sẽ sản xuất ra cái gì từ bản chất của bạn, không thể sản xuất cái gì khác hơn bản chất của mình. Người có hành vi tốt vì tấm lòng tốt. Tấm lòng chất chứa điều thiện hay điều ác cho nên lời nói và sự dạy dỗ phát xuất từ tấm lòng. Hai nền tảng 6:46-49 Chúa Giê-su nói đến sự đáp ứng bằng cách vâng lời những gì Ngài dạy dỗ. Người vâng lời và thực hành điều Chúa dạy là người khôn ngoan thật. Đời sống chỉ có xưng nhận bằng môi miệng Đức Giê-su làm Chúa Tể nhưng không thực hành điều Ngài dạy là đời sống thiếu thực chất và là đạo đức giả. Chúa Giê-su nói đến những người: Đến với Ngài; nghe Ngài dạy dỗ và làm theo điều Ngài dạy. Lu-ca cho thấy người xây nhà đào sâu, đặt nền nhà trên đá. Nước lụt và bảo tố chỉ về những thử thách trong cuộc đời. Một số người cho rằng bảo tố chỉ về sự đoán xét vào ngày đoán xét thời tận thế. Ý nghĩa này có thể là ý nghĩa trong Ma-thi-ơ nhưng Lu-ca qua đoạn này chỉ về đời sống hàng ngày. Trái với những người vâng lời thực hành điều Chúa dạy, những người chỉ nghe lời dạy của Chúa giống như người xây nhà trên đất nên khi bão tố đến liền bị sụp. Hình ảnh chỉ về người không có rễ thuộc linh ăn sâu trong lòng vì bỏ qua Lời Chúa dạy. Đây là một lời cảnh cáo, chớ xem thường lời Chúa dạy vì sẽ lãnh hậu quả thảm khốc. Lời cảnh cáo này là một Ngụ ngôn vì thế có thể áp dụng cho đời sống hàng ngày lẫn ý nghĩa về sự đoán xét trong thời tận thế. II. Câu Hỏi Thảo Luận
|