Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.

Bài 14

Bài Giảng Phúc Họa
Lu-ca 6:20-26


I. Bối Cảnh và Lược Giải.

Bài giảng này của Chúa Giê-su do Lu-ca ghi lại được gọi là Bài Giảng Dưới Đồng Bằng vì câu Lu-ca 6:17. để phân biệt với Bài Giảng Trên Núi của Ma-thi-ơ 5. Tuy nhiên từ ‘đồng bằng’ cũng có nghĩa là nơi bằng phẳng trên núi vì thế không nhất thiết là Chúa Giê-su và các môn đệ xuống vùng đồng bằng nhưng họ chỉ xuống một nơi bằng phẳng trên núi.

Các học giả tranh luận về ba giả thuyết:
1/ Hai đoạn Ma-thi-ơ 5 và Lu-ca 6 là hai bài giảng khác nhau.
2/ Hai đoạn trên nói về một bài giảng; Lu-ca trình bày tóm lược hơn Ma-thi-ơ.
3/ Hai tác giả ghi lại một bài hợp tuyển những lời dạy của Chúa Giê-su.

Quan điểm về vấn đề này vẫn chưa có một sự đồng nhất vì chúng ta không có đủ dữ kiện để xác định. Tuy nhiên theo một số các học giả Tin Lành thuần túy đây có thể là một bài giảng được giảng trong hai trường hợp khác nhau với một số tiểu tiết khác nhau cho hai mục tiêu khác nhau. Về vấn đề ý nghĩa thần học, có nhiều người chủ trương nhiều đường lối khác nhau nhằm giải thích bài giảng của Chúa.

Sau đây là một số chủ trương chính:
1/ Bài giảng nói về nguyên tắc cứu rỗi.
2/ Bài giảng nói về vấn đề xã hội.
3/ Bài giảng nói đến điều kiện lý tưởng để đem người ta đến chỗ ăn năn.
4/ Bài giảng nói đến hai loại nguyên tắc cho người thường và cho giới tư tế hay chức sắc tôn giáo.
5/ Bài giảng nói về những nguyên tắc sống trong Vương Quốc tương lai trong thời lai thế.
6/ Bài giảng nói về nguyên tắc đạo lý cho thời đại hiện tại, giữa Cựu ước và Vương Quốc đời đời.
7/ Bài giảng nói về nguyên tắc sống trong hai phạm trù tâm linh cá nhân và xã hội thế tục.

Ngoài ra cũng có nhiều quan điểm khác nữa nhưng mỗi quan điểm đều có một số yếu tố hợp lý và mỗi quan điểm đều bị ảnh hưởng của quan niệm thần học, xã hội hay triết lý của mình; không có quan điểm nào hoàn toàn giải thích thỏa đáng mọi nan đề. Chúng ta có thể tạm chấp nhận quan điểm của học giả Darrell Bock (Luke 1994: 943)

“ Bài giảng là một nền đạo đức mà sự công bình và trả thù thuộc về Đức Chúa Trời, trong khi người ta dựa trên ân huệ và tình yêu thương để sống.” Bài giảng của Chúa chủ yếu cho các môn đệ, tức là cho tín đồ nhưng không nhất thiết là chỉ cho tín đồ nhưng cho bất cứ ai đáp ứng lại lời kêu gọi của Chúa. Bài giảng này gồm có hai phần phước và họa. Phước 6:20-23; họa 6:24-26 Phước hay là hạnh phúc là một tình trạng phúc lành nội tâm và hoàn cảnh may mắn. Phước này chủ yếu được mô tả trong hiện tại chứ không phải chỉ về tương lai vì động từ ở thể hiện tại nhưng khi chúng ta xét lời giảng như là một lời hứa thì nó cũng chỉ về hy vọng và tương lai cho bất cứ ai đáp ứng lại lời hứa của Đức Chúa Trời. Lu-ca dùng ngôi thứ hai ‘các con’ cho thấy Chúa chỉ về cá nhân chứ không phải ‘cộng đồng xã hội’ nói chung.

Người nghèo khổ được Lu-ca nhắc đến trong 4:18 (trích từ tiên tri I-sa 61:1) là những người được nghe Phúc âm cho nên không phải là người nghèo về phương diện vật chất, kinh tế xã hội mà thôi nhưng là nghèo về phương diện tâm linh nữa. Trong thời Cựu Ước người nghèo khổ sùng kính là người vì nghèo khổ về vật chất cho nên họ nương cậy vào Đức Chúa Trời để chu cấp và bảo vệ họ, vì thế từ ‘nghèo khổ’ luôn luôn gắn liền với ý nghĩa tâm linh. Nếu chúng ta so sánh với bài giảng trên núi Ma-thi-ơ 5:3 ‘nghèo khổ trong tâm linh’ thì ý nghĩa về tâm linh càng trở nên rõ ràng hơn.

Người nghèo và nhận thức được sự nghèo khổ của tâm linh và tin cậy vào Đức Chúa Trời để vượt qua hoàn cảnh nghèo khổ cả vật chất lẫn tâm linh là người đang ở trong Nước Đức Chúa Trời. Người đói khát vì thiếu ăn cũng bao gồm cả vấn đề vật chất, kinh tế xã hội lẫn tâm linh. Nếu chúng ta so sánh với Lu-ca 4:4 khi Chúa Giê-su đang đói khát và bị cám dổ; câu trả lời của Ngài trích từ Cựu Ước cho thấy sự sống vật chất và tâm linh luôn luôn liên hệ mật thiết với nhau.

Vì thế vấn đề đói khát ở đây cũng như vấn đề nghèo khổ ở trên, Chúa muốn nói đến cả hai. Tuy nhiên lời hứa no đủ không phải là một lời hứa có tính cách chính trị hay kinh tế xã hội mà là tâm linh liên kết với kinh tế xã hội. Người đang khóc lóc là người bị đau khổ, buốn thảm. Văn mạch của đoạn này đòi hỏi chúng ta phải hiểu như hai điều trước, tức là đau khổ về tâm linh lẫn tình cảm. Con người không những đau khổ về nội tâm nhưng cũng vì bị bất công, áp bức, lưu đày trong xã hội như các tuyển dân của Chúa và các tiên tri thời xưa. Niềm vui của những người tin cậy nơi Chúa để sống không những là niềm vui nội tâm hiện tại nhưng cũng là niềm vui hoàn toàn trong cõi lai thế, trong Nước Vĩnh Phúc.

Phước trong lời dạy thứ tư của Chúa hoàn toàn có tính cách tâm linh vì nó liên hệ đến đức tin của những người theo Chúa Cứu Thế nên bị ngược đãi, chống đối. Chúa Giê-su cũng cho thấy những người theo Chúa sẽ gặp sự chống đối và đàn áp nhưng đồng thời họ cũng nhận được phước thiên thượng. Người tin theo Chúa Cứu Thế sẽ bị ghen ghét, loại trừ, lăng mạ và xóa tên. Bị ghét là điều các môn đệ của Chúa sẽ bị. Trong một xãhội mà tôn giáo và văn hóa hòa nhập với nhau quá sâu xa, người bỏ tôn giáo cũ, theo một tôn giáo mới thường bị thù ghét. Loại trừ ở đây có thể là khai trừ ra khỏi hội đường của người Do Thái.

Tuy nhiên trong bối cảnh cũa Lu-ca, một người ngoại quốc và viết cho người ngoại quốc thì sự loại trừ có nhiều tính cách xã hội nói chung hơn là chỉ bị loại trừ ra khỏi hội đường Do Thái. Loại trừ có thể bao gồm vấn đề gia tộc hay cộng đồng xã hội từ bỏ. Lăng mạ là hành động nhục mạ bằng lời nói. Xóa bỏ tên như phường gian ác là coi như người ác, ô uế và vì thế không muốn liên hệ với nữa. Tất cả những điều này xảy ra vì một người tin theo Chúa Cứu Thế. Một người khi có mối liên hệ với Chúa Cứu Thế thì có thể bị trần tục bắt bớ, từ khước, cắt đứt liên hệ hay tẩy chay nhưng người đó được phước từ Đức Chúa Trời. ‘Ngày ấy’ chỉ về lúc người tín hữu bị bắt bớ hay từ khước chứ không phải chỉ về cõi tương lai trên thiên đàng. Vì từ ‘ngày ấy’ được đối chiếu với ‘hiện nay’ (câu 21).

Thái độ vui mừng khi bị bắt bớ, ngược đãi là một chủ đề lớn trong Phúc âm Lu-ca và Công Vụ. Các môn đệ của Chúa đã có thái độ này, coi việc bị bắt bớ ngược đãi là một vinh dự vì tin theo Chúa Giê-su, khi họ bị giới chính quyền và giáo quyền Do Thái bắt bớ (Công 5:41).

Hai lý do người tín hữu của Chúa Cứu Thế nên vui mừng là vì:
1. Họ sẽ được phần thưởng trên thiên đàng. Đức Chúa Trời thấy tấm lòng trung thành của con dân Ngài và có chương trình trọng thưởng cho họ. Phần thưởng thường bị coi như động lực thiếu thánh khiết và lý tưởng nhưng ở đây Chúa không chú trọng đến phần thưởng như một giải thưởng để tranh đua nhưng để thưởng cho tấm lòng trung tín và sự phục vụ.
2. Lý do thứ hai để vui mừng là vì hiiểu rõ và ý thức được thực trạng đã , đang và sẽ xảy ra trong xã hội loài người. Lịch sử người Do Thái chứng tỏ điều này và các nước khác cũng sẽ không khác mấy. Tôi tớ thật của Đức Chúa Trời thường sẽ bị ngược đãi. Bốn điều họa bắt đầu bằng lời tán thán: ‘Khốn”; từ này chỉ về sự đau khổ và đáng thương vì điều bất hạnh sẽ xảy đến cho họ.

Người giàu có sẽ bị khốn khổ không hẳn là vì họ có nhiều tiền bạc, của cải nhưng vì thái độ, quan niệm của họ về tiền bạc thì đúng hơn. Lu-ca đề cập đến nhiều người giàu có nhưng là môn đệ của Chúa Cứu Thế như Xa-chê, Giô-xép A-ri-mathê, Ni-cô-đem v.v. tức là họ không thuộc vào những người bị họa. Người giàu ở đây chỉ về những người coi tiền bạc của cải là phương tiện duy nhất đem lại hạnh phúc và nhất là phước lành từ Chúa. Đối với những người này thì họ đã nhận được phúc rồi, tức là tiền bạc của họ nhưng phước từ Đức Chúa Trời thì họ sẽ không có gì.

Những người no nê, vui cười và được loài người ca tụng cũng sẽ gặp họa vì quan niệm và giá trị tạm bợ tại trần thế của họ chứ không phải vì họ có những thứ đó. Nếu đời sống của một người chỉ giới hạn ở thế gian trần tục và do sức người tạo nên thì những người đó sẽ gặp họa khi nước Trời vĩnh cửu đến. Nếu một người cho rằng giàu có, no đủ, vui chơi, tiếng tăm lừng lẫy là điều đem lại hạnh phúc và cố công hết sức tìm kiếm nó trong đời này thì người đó có thể có các thứ đó nhưng đó là điều họ có, còn phúc hạnh thật từ Chúa họ sẽ chẳng có gì nhưng họ chỉ có họa.

II. Câu Hỏi Thảo Luận.

  1. Nghèo khổ ở đây nói về gì?
  2. Tại sao những người nghèo khổ lại được phước của Đức Chúa Trời?
  3. Tại sao người nghèo khổ được ờ trong nước Đức Chúa Trời?
  4. Đói khát ở đây nói về gì?
  5. Khóc lóc ở đây nói về gì?
  6. Theo như những lời dạy dỗ này của Chúa Giê-su, hạnh phúc thật của Đức Chúa Trời đếøn từ đâu?
  7. Làm thế nào để có hạnh phúc thật của Chúa?
  8. Một người vì tin theo Chúa Giê-su có thể bị những gì?
  9. Tại sao một số tín hữu của Chúa Giê-su dù có thể bị ngược đãi, thù ghét, từ bỏ nhưng họ vẫn vui vẻ, trung thành với Chúa của mình?
  10. Phước của Đức Chúa Trời khác với phước của thế gian ở những điểm nào?
  11. Tại sao những người giàu có, no đủ, vui chơi và nổi tiếng sẽ bị họa khi Nước Trời vĩnh cửu đến?
  12. Bạn nghĩ sao về quan niệm cho rằng nếu một người tự nguyện sống nghèo (tu theo phái khắc kỷ) thì sẽ được hạnh phúc của Chúa?


Sách Phúc Âm Lu-ca


Chọn Bài

01   02   03    04   05
06   07   08    09   10

11   12   13    14   15
16   17   18    19   20

21   22   23    24   25
26   27   28    29   30

31   32   33    34   35
36   37   38    39   40

41   42   43    44   45
46   47   48    49   50

51   52   53    54   55
56   57   58    59   60

61   62   63    64   65

Bài Giải Đáp