![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Chúa Cứu Thế và Ngày Sa-bát Lu-ca 6:1-11 I. Bối Cảnh và Lược Giải. Ngày Sa-bát (Thứ Bảy) là ngày thánh để nghỉ ngơi, thờ phượng theo như mười Điều Răn dạy (Xuất 20:8-11). Các giáo sư Do Thái giáo đã đặt thêm 39 điều lệ để qui định những hoạt động nào là hợp lệ và những hoạt động nào là vi phạm điều răn ngày Sa-bát. Theo như những qui luật này thì các môn đệ của Chúa đã bứt bông lúa, lấy tay vò đi và ăn tức là đã gặt, đập lúa, sàng sảy và chuẩn bị thức ăn, nghĩa là vi phạm bốn điều trong ngày Sa-bát. Thật ra Kinh Thánh (Phục 23:25) cho phép người ta bứt bông lúa. Những người Pha-ri-si than phiền các môn đệ của Chúa vì cho rằng họ đã vi phạm ngày Sa-bát chứ không phải vì bứt bông lúa mì. Chúa Giê-su dùng câu chuyện của Đa-vít trong 1Sam 21:1-7 và 22:9-10 để trả lời người Pha-ri-si. Những người này rất quen thuộc với biến cố này trong cuộc đời vua Đa-vít. Bánh thánh trong Đền Tạm chỉ dành cho thầy tế lễ ăn; người khác không được phép ăn. Truyền thống Do Thái cho rằng biến cố này xảy ra vào ngày Sa-bát. Kinh Thánh không nói rõ; nếu quả thật đây là ngày Sa-bát thì lý luận của Chúa Giê-su càng mạnh mẽ hơn nữa. Rõ ràng ở đây Đa-vít đã vi phạm luật về bánh thánh nhưng Kinh Thánh không có chỗ nào lên án Đa-vít cả. Nếu người Pha-ri-si lên án Chúa Giê-su và môn đệ của Ngài thì họ cũng lên án Đa-vít và những người theo ông. Dĩ nhiên những người Pha-ri-si không dám lên án vua Đa-vít cho nên họ cũng không thể lên án Chúa Giê-su và môn đệ của Ngài. Chúa Giê-su nêu lên trường hợp của vua Đa-vít để cho thấy cách giải thích và áp dụng Kinh Luật của người Pha-ri-si là sai lầm. Người Pha-ri-si có đọc và biết câu chuyện Kinh Thánh về Đa-vít nhưng họ không hiểu đúng ý nghĩa của nó vì họ không đọc với một tâm trí cởi mở và tấm lòng sẵn sàng vâng phục nhưng có định kiến. Chúa Giê-su là người giữ theo Kinh Luật và hoan thành nó chứ không phải vi phạm. Trong trường hợp này Chúa Giê-su cho thấy nhu cầu sự sống của con người là quan trọng hơn luật lệ về nghi lễ. Luật về ngày Sa-bát đặt ra là để giúp ích cho con người sống phong phú, sung mãn hơn; Ma-thi-ơ và Mác giải thích rõ hơn về điểm này (Math 12:1-8; Mác 2:23-28). Chúa Giê-su cho thấy Ngài áp dụng tinh thần và ý định của luật chứ không phải áp dụng luật theo từng chữ. Danh hiệu Con Người ở đây có thể hiểu như là đại diện cho loài người. Nếu hiểu theo nghĩa này Chúa Giê-su là đại diện cho loài người và có quyền trên ngày Sa-bát và cách Bài Giải Đáp của Ngài có thẩm quyền hơn cách Bài Giải Đáp của người Pha-ri-si. Nhưng học giả Leon Morris cho thấy Chúa Giê-su không bao giờ dạy rằng loài người có quyền hơn những nguyên tắc thiêng liêng do Chúa lập nên. Ngoài ra danh hiệu Con Người cũng có thể chỉ về Đấng Mê-si-a và nếu như thế thì Chúa Cứu Thế chính là Chúa đã sáng tạo ra ngày Sa-bát và Ngài hoàn toàn có thẩm quyền giải thích luật để thi hành trong ngày Sa-bát. Theo các qui luật của người Do Thái, người ta không được chữa bệnh vào ngày Sa-bát ngoại trừ trường hợp nguy hiểm đến tính mạng, sinh con hay làm phép cắt bì cho trẻ con. Ở đây người bị liệt tay không phải là trường hợp khẩn cấp, nguy hiểm đến tính mạng. Chúa Giê-su biết như thế nhưng Ngài vẫn chữa lành cho người bệnh; điều này cho thấy rõ hơn quan niệm và cách giải thích Điều Răn của Chúa Cứu Thế khác hơn truyền thống Do Thái. Giới chuyên gia Kinh Luật và người Pha-ri-si theo dõi với ý do thám để lấy bằng chứng tố cáo Chúa Cứu Thế. Câu hỏi của Chúa có hai hàm ý: 1/ Làm điều thiện hay điều tốt đẹp, đem lại lợi ích cho đời sống con người. Luật và Điều Răn được lập ra để bảo vệ gìn giữ đời sống con người; để con người không làm việc quá sức suốt bảy ngày trong tuần; để con người có thì giờ nghỉ ngơi về phần thể xác và có thì giờ thờ phượng Đức Chúa Trời, bồi dưỡng phần tâm linh. 2/ Cứu chữa con người, ở đây chỉ về vấn đề phục hồi, chữa lành người bị đau yếu, bệnh tật là một điều nên làm. Yêu mến và đáp ứng nhu cầu sống căn bản có ưu tiên hơn là câu nệ, cố chấp về luật lệ. Câu hỏi và hành động chữa lành người bị liệt tay cho thấy Chúa Giê-su hiểu và thi hành theo tinh thần và ý định tốt lành của Kinh Luật. Ngoài ra Chúa Giê-su cũng hàm ý sự cố chấp và câu nệ luật lệ của người Do Thái là điều sai, điều ác vì dẫn đến tai hại và hủy diệt. Chúa Giê-su sống và hành động đúng theo Luật Chúa chứ không phải vi phạm và hủy bỏ Kinh Luật (Mat 5:17-18). Trong đoạn trước (5:36-39) Chúa Giê-su đã kể các ngụ ngôn để giới thiệu về thời đại mới, đường lối mới cùng một vương quốc và công dân thiên Quốc mới. Vì thế Cơ Đốc nhân là những người tin theo Chúa Giê-su cũng có những nguyên tắc mới để theo. Đức Chúa Trời ban cho người Do Thái luật về ngày Sa-bát như là một ngày thánh, một giao ước và dấu hiệu giữa Ngài và họ. Xuất 20:8-11; 31:12-17. Ngày Sa-bát được liên kết với sự sáng tạo trời đất và biểu hiệu cho sự yên nghỉ. Đối với Cơ Đốc nhân ngày Chúa Nhật là ngày hoàn tất sự sáng tạo mới (2Cô 5:21; Eâph 4:23-24). Ngày Chúa Nhật là ngày Chúa Cứu Thế Giê-su sống lại từ cõi chết, mở đầu một kỷ nguyên mới. Hội thánh đầu tiên mới đầu cũng họp lại vào ngày Sa-bát tức thứ Bảy nhưng khi có sự chống đối của người Do Thái cũng như khi số người ngoại quốc tin Chúa nhiều lên, hội thánh bắt đầu họp thờ phượng Chúa vào ngày Chúa Nhật (Công Vụ 20:7; 1 Cô 16;1-2). Tín hữu của Chúa Giê-su không phải là người Do Thái; hội thánh của Chúa không phải là nước Do Thái vì thế chúng ta không bị ràng buộc vào giao ước với người Do Thái và chúng ta được cứu rỗi là do ân huệ, nhờ đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-su, không phải nhờ giữ luật lệ. Vì thế người tín hữu ngày nay dùng ngày Chúa Nhật làm ngày nghỉ ngơi và thờ phượng Chúa không vi phạm luật ngày Sa-bát của Chúa dành cho người Do Thái. Ngoài ra theo tinh thần của Chúa Giê-su trong đoạn này Cơ Đốc nhân giữ ngày Chúa Nhật làm ngày nghỉ và thờ phượng Chúa là làm đúng theo tinh thần của luật về ngày Sa-bát, chứ không vi phạm luật. II. Câu Hỏi Thảo Luận.
|