![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Chúa Kêu Gọi Lê-vi Lu-ca 5:27-39 I. Bối Cảnh và Lược Giải. Lê-vi, cũng có tên là Ma-thi-ơ (Math 9:9-17) là một người thu thuế. Có thể Lê-vi là nhân viên thuế vụ của Hê-rốt Antipas có văn phòng ở Ca-pha-na-um. Những người buôn bán đem đồ từ chỗ khác đến vùng này đều bị đánh thuế. Một số tiền thuế được gởi về Rô-ma, một số khác do chính quyền địa phương giữ. Dù là nhân viên thu thuế địa phương, Lê-vi cũng bị coi là người theo chính quyền ngoại quốc bóc lột dân nghèo. Về phương diện tôn giáo, người thu thuế bị coi là ô uế, tội lỗi, không thành thật, gian lận, bóc lột và tham lam. Sách Bài Giải Đáp Do Thái giáo cho rằng người thu thuế như trộm cướp. Người thu thuế cũng có thể là người thầu thu thuế (như Xa-chê ) cho đế quốc La Mã. Những người này thầu trả cho đế quốc La mã một số tiền nhất định mỗi năm và thu lại từ dân chúng trong vùng. Dĩ nhiên là những người này lợi dụng quyền hành bóc lột dân chúng để thu lại gấp bội nên thường là những người rất giàu có và quyền thế. Những người thu thuế cho đế quốc La Mã thường bị người ta, nhất là giới lãnh đạo tôn giáo khinh bỉ và coi là tội lỗi, bóc lột dân nghèo nhưng cũng là những người thông đồng với đế quốc, phản quốc. Lu-ca cho thấy Chúa Giê-su chọn và tiếp xúc với những người bị xã hội khinh bỉ, ruồng bỏ. Lu-ca cũng cho thấy quan niệm và gương của Chúa Cứu Thế trong việc sống và truyền giáo trong xã hội. Qua những biến cố này Lu-ca cho thấy một phần nào quan niệm, cách sống của những người lãnh đạo và sùng kính Do Thái giáo thời bấy giờ. Người Pha-ri-si và giáo sư Kinh Luật chủ trương không giao thiệp và tiếp xúc với những người bị coi là xấu xa, tội lỗi, vô đạo đức và phản quốc. Những người Pha-ri-si phàn nàn với các môn đệ của Chúa Giê-su vì Ngài tiếp xúc, tham dự tiệc ở giữa họ (người thu thuế và tội lỗi). Hãy chú ý đến sứ mệnh của Chúa Giê-su, hay là mục đích của Ngài khi Ngài hành động như đã thấy (c. 32) và Chúa Giê-su không đồng ý cũng như hoan nghênh, ủng hộ hành động và cách sống của những người thu thuế. Chúa Giê-su tiếp xúc, liên lạc để đem họ về với chân lý cứu rỗi chứ không phải hợp tác, hỗ trợ và khuyến khích họ sống và tiếp tục hành động tội lỗi. Chúa Giê-su nhấn mạnh đến giải pháp cứu rỗi và ân huệ của Đức Chúa Trời để được cứu rỗi vẫn còn mở rộng cho người tội lỗi, chứ không phải cách biệt. Lu-ca cũng cho chúng ta thấy những sự khác biệt căn bản giữa Chúa Cứu Thế và những nhà lãnh đạo Do Thái giáo cùng sự chống đối Chúa Cứu Thế ngày càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Aên năn: Sự thay đổi thái độ và tư tưởng về tội lỗi và về Đức Chúa Trời; từ bỏ tội lỗi cũng như con đường tội lỗi để quay trở về với Đức Chúa Trời và đường lối của Ngài. Lu-ca 24:46-47 Chúa Giê-su dùng hình ảnh bệnh tật và thầy thuốc để chỉ tội lỗi là bệnh tật thuộc linh và cần phải được chữa trị. Người bệnh cũng cần ý thức rằng mình bị bệnh để được cứu chữa. Lu-ca cũng cho thấy đào tạo môn đệ là một mục đích trong sứ mệnh của Ngài tại thế gian; ông đã ghi lại cách Chúa Giê-su chọn và đào tạo môn đệ của mình. Kiêng ăn và cầu nguyện: Kinh Thánh Cựu Ước dạy người Do Thái phải kiêng ăn vào ngày lễ Xá Tội (Lê-vi 16:29-31; 23:27-29; Dân 29:7) . Ngoài ra người ta cũng kiêng ăn trong những trường hợp đặc biệt để cầu nguyện, để chuẩn bị tấm lòng thờ phụng Chúa, vì đang ở trong hoàn cảnh buồn, để cầu nguyện xin giải cứu v.v. Người Do Thái giữa thời Cựu Ước và Tân Ước kiêng ăn vào ba dịp: Lễ Xá Tội, Năm Mới và để tránh những tai họa sắp đến. Người Do Thái vào thời Tân Ước, những phái Pha-ri-si, người sống trong các cộng đồng Qumran đặt thêm những luật lệ kiêng ăn; người Pha-ri-si kiêng ăn một tuần hai lần. Việc kiêng ăn thông thường nhất là kiêng, không ăn uống gì từ khi mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn. Sau đó người ta ăn uống như thường. Kiêng ăn và cầu nguyện thường đi với nhau. Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài có vẻ như không theo những qui luật về kiêng ăn của người Pha-ri-si thời ấy nên họ phàn nàn. Chúa Giê-su cho rằng đang khi Ngài còn ở với các môn đệ thì họ không cần kiêng ăn, vì đó là lúc vui mừng. Chúa Giê-su không bãi bỏ lệ kiêng ăn nhưng chỉ thực hành đúng lúc. Chúa Giê-su cũng như các môn đệ sau đó tin và thực hành vấn đề kiêng ăn nhưng không qui định các luật lệ về kiêng ăn. Lu-ca cũng nói về sự tận hiến của Lê-vi khi theo Chúa Giê-su. Lê-vi lập tức từ bỏ tất cả, tức là bỏ một nghề nghiệp tương đối an toàn và ổn định về tài chính và đi theo Chúa Giê-su. Lê-vi mở tiệc lớn đãi Chúa và giới thiệu bàn bè mình với Ngài. Ngụ ngôn xé vải áo mới vá vào áo cũ mang một chút hài hước, mỉa mai. Chúa Giê-su cũng cho thấy Ngài quan niệm đường lối của Ngài là mới mẻ và tốt đẹp hơn là những truyền thống cũ của người Pha-ri-si và giáo sư Kinh Luật. Người ta không thể kết hợp đường lối của Chúa Cứu Thế và đường lối theo truyền thống Pha-ri-si và những giáo sư Kinh Luật mà không hư hại dù hai đường lối đó đều bắt nguồn và đặt nền tảng trên Cựu Ước. Người ta không đổ rượu mới vào bầu da cũ. Bầu da là bình làm bằng da cừu hay da dê. Bình da cũ lâu ngày trở nên giòn, dễ nứt và bể. Rượu mới còn lên men, nở thể tích làm bình da cũ nứt. Phúc Aâm của Chúa Giê-su không thể ở trong Do Thái giáo mà không làm hư hại cả hai. Cách mới mà Đức Chúa Trời đối xử với nhân loại qua Chúa Cứu Thế Giê-su không thể trộn lẫn với cách cũ. Phúc âm của Chúa Cứu Thế không phải là cách vá lại con đường cũ của Do Thái giáo theo truyền thống Pha-ri-si. Vấn đề Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo là vấn đề những người tín hữu gốc Do Thái phải đối diện và được giải quyết trong sách Công Vụ và Ga-la-ti. Chúa Cứu Thế Giê-su là hình thật, là Chân Lý, những nghi lễ tôn giáo, luật lệ Cựu Ước chỉ là hình bóng. Cô-lô-se 2:16-17 Câu 39 là một châm ngôn của thời đó. Theo kinh nghiệm thực tế rượu để lâu là rượu ngon. Một người đã uống rượu cũ và hài lòng với rượu đó thì sẽ không muốn uống rượu mới. Một số người cho rằng những người Pha-ri-si sẽ không thay đổi nhưng những người khác sẽ hưởng ứng nhanh chóng. Qua những lần đối diện và thái độ chống đối của giới lãnh đạo Do Thái giáo, có lẽ Chúa Giê-su muốn ám chỉ sự từ khước của họ đối với Phúc Aâm của Ngài. II. Câu Hỏi Thảo Luận.
|