![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Chúa Cứu Thế Tại Quê Hương Mình Lu-ca 4:14-30 (Đọc thêm Mat 13:53-58; Mác 6:1-6) I. Bối Cảnh và Lược Giải. Lu-ca từ 4:14 đến 9:50 trình bày chức vụ của Chúa Cứu Thế tại Ga-li-lê. Nói về thời gian, Lu-ca không theo thứ tự thời gian khi trình bày chức vụ của Chúa Giê-su, vì thế đây không phải là thời gian bắt đầu chức vụ của Ngài. Nếu chúng ta so sánh với các Phúc Âm khác chúng ta sẽ thấy rằng thời gian này có thể là sau khi Ngài thi hành chức vụ tại Giu-đê. Câu “tiếng đồn về Ngài lan khắp các vùng lân cận” cho thấy Chúa đã thi hành chức vụ tại nhiều nơi khác. Ga-li-lê là quê hương nơi Ngài lớn lên, là quê của bà Ma-ri và ông Giô-sép (Lu 1:26-27). Ga-li-lê là miền bắc của nước Do Thái, chiều dài chừng 70 km và rộng chừng 50 km; miền bắc giáp giới và bị bao quanh bằng các nước ngoại quốc vì thế Ga-li-lê là miền phóng khoáng và ít bảo thủ nhất cũng như bị ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp nhiều nhất trong ba miền Do Thái. Ga-li-lê là vùng rất phì nhiêu và đông dân cư; theo một sử gia Do Thái có thể có đến ba triệu dân sinh sống trong miền này. Người vùng Ga-li-lê là những người can đảm, thích theo mới và tham gia những phong trào cách mạng như cuộc nổi loạn năm 37 TCN, sau đó ít lâu do Giu-đa dẫn đầu và vào năm 66 đến 70 SCN. Lu-ca mô tả Chúa Giê-su trở về Ga-li-lê trong quyền năng của Chúa Thánh Linh. Đây là một đặc điểm được Lu-ca đề cập đến thường xuyên. Chúa Giê-su được hoài thai bởi Đức Thánh Linh, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, được Đức Thánh Linh dẫn vào sa mạc để chịu cám dỗ; Đức Thánh Linh ngự xuống trên Ngài khi chịu lễ báp-tem. Nếu chúng ta quan sát trong Công Vụ (cũng do Lu-ca ghi chép) chúng ta thấy Hội Thánh đầu tiên cũng do Đức Thánh Linh giáng xuống, trang bị và hỗ trợ trong chức vụ truyền giảng Phúc Aâm và xây dựng Nước Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su dạy dỗ trong các hội đường của người Do Thái. Hội đường là nơi thờ phượng và học hỏi Kinh Thánh tại các địa phương cách xa đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Buổi thờ phượng tại hội đường thường gồm có đọc Shema ( Kinh Thánh Phục 6:4-9; 11:13-21; Dân 15:37-41), cầu nguyện, đọc một đoạn trong Ngũ Kinh (5 sách của Môi-se), sau đó trong các sách Tiên Tri, dịch ra tiếng A-ra-míc, bài giảng và chúc phước. Hội đường được mở cửa thờ phượng, dạy dỗ vào các ngày Sa-bát (thứ Bảy), thứ Hai, thứ Năm và các ngày lễ. Trong giai đoạn này người ta ca ngợi Chúa Giê-su vì sự dạy dỗ của Ngài tại các hội đường. Trong khi giảng dạy tại miền Ga-li-lê, Chúa Giê-su cũng về tại làng Na-xa-rét, nơi Ngài được trưởng dưỡng. Na-xa-rét vào thời Chúa Giê-su có thể là một thị trấn nhỏ, không phải một làng vì Na-xa-rét được gọi là ‘polis’, tuy nhiên đây chỉ là một thị trấn nhỏ, cách xa các trục giao thông chính, với vài ngàn dân mà thôi. ‘Theo thói quen’ cho thấy Chúa Giê-su là người sùng kính, thường đến hội đường để thờ phượng, học hỏi Kinh Thánh khi Ngài còn sống tại đó. Theo thủ tục lúc bấy giờ một người có thể được mời giảng đoạn Kinh Thánh vừa được đọc hay người đó cũng có thể chọn đoạn Kinh Thánh để giảng. Ở đây có thể Chúa Giê-su tự chọn đoạn Kinh Thánh trong sách tiên tri I-sa 61:1-2 và 58:6 ‘Thần của Chúa’ ở đây chỉ về Đức Thánh Linh. Lu-ca đã ghi lại những biến cố có Đức Thánh Linh tham dự; biến cố gần nhất là lễ báp-tem và ngay khi Ngài thi hành chức vụ tại Ga-li-lê ( 4:14). ‘Xức dầu’ là hành động chọn lựa và ủy nhiệm để thi hành công việc của Đức Chúa Trời. Trong thời Cựu Ước chỉ có vua, tiên tri và thầy tế lễ được xức dầu phong chức. Đoạn Kinh Thánh này thường được những nhà giải kinh Do Thái cho rằng nói về Tôi Tớ của Đức Chúa Trời, về Đấng Mê-si-a hay Đấng Cứu Thế của họ và thời đại giải cứu cuối cùng. Lu-ca 7:22 giải thích thêm về sứ mệnh của Chúa Giê-su được Chúa áp dụng trong các câu Kinh Thánh này. Kỷ nguyên thi ân là năm thi ân (Lê-vi 25), tức là năm thứ bảy và năm thứ 50, nợ được tha, nô lệ được trả tự do, điền sản được trả về nguyên chủ...v.v. Chúa Giê-su không trích phần thứ hai của I-sa 61:2 “ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta.” Người Do Thái lúc bấy giờ thường hiểu rằng vào ngày cứu rỗi của dân Chúa thì Đức Chúa Trời cũng đoán phạt dân ngoại quốc. Điều này rất có ý nghĩa khi chúng ta thấy ngay sau đó Chúa Giê-su đề cập đến người ngoại quốc cũng được ân sủng của Đức Chúa Trời. Một số người chủ trương thần học giải phóng cho rằng đoạn Kinh Thánh này dạy rằng Chúa Giê-su là một nhà cách mạng xã hội theo ý nghĩa chính trị và kinh tế xã hội. Nhưng nếu chúng ta quan sát toàn diện chức vụ và sứ mệnh của Chúa Cứu Thế; những chỗ Chúa giải thích sứ mệnh của Ngài như 6:23 và 7:22 cũng như Ngài không để cho dân chúng tôn lên làm vua (Gi 6:15), từ chối dùng vũ lực (Gi 18:36) cho thấy sứ mệnh của Chúa Cứu Thế nhằm đáp ứng nhu cầu thể chất và tâm linh hơn là chính trị. Chúa Giê-su ‘ngồi xuống’ để bắt đầu giảng vì các mục sư Do Thái đứng đọc Kinh Thánh nhưng ngồi để giảng dạy. Chúa Giê-su tuyên bố đoạn Kinh Thánh trên ứng nghiệm trên Ngài và ngay lúc ấy. Thời đại cứu rỗi đang hiện diện với Chúa Cứu Thế và trong thời đại ân sủng của hội thánh sau đó cho đến hiện nay. Dân chúng tại Na-xa-rét ngạc nhiên về tài ăn nói của Chúa Giê-su nhưng không chấp nhận con người và sứ điệp của Ngài vì họ cho rằng Ngài là con của một người thợ mộc địa phương. Mác 6:3 và Mat 13:55-56 ghi lại rằng dân chúng đề cập đến bà Ma-ri, các em trai và em gái của Ngài. Ngoài ra Ngài lại còn nói đến ân sủng của Đức Chúa Trời dành cho người ngoại quốc. Dân chúng thách thức Chúa Giê-su làm những phép lạ như Ngài đã làm ở Ca-pha-na-um và những nơi khác mà họ đã nghe nhưng Ngài không làm. Mác đưa ra lý do tại sao Chúa Giê-su không làm được phép lạ tại Na-xa-rét (Mác 6:5) là vì lòng vô tín của dân chúng. Chúa trích một câu châm ngôn thông dụng thời ấy và cũng là một thực tại trong lịch sử Do Thái. Ngoài ra qua câu nói này Chúa Giê-su cũng xác nhận với những người đồng hương Na-xa-rét của Ngài rằng chính Ngài là một tiên tri. Chúa Giê-su nhắc đến hai câu chuyện thật trong lịch sử Do Thái: 1. Tiên tri Ê-li giúp cho người đàn bà góa ngoại quốc ở Sa-rép-ta, một thị trấn ngoại quốc. (1 Vua 17-18) . Hai đoạn Kinh Thánh này nói đến thời kỳ nạn đói và hình phạt vì sự bất trung của dân Chúa. Vì sự bất trung nên sự cung ứng của Chúa cũng thiếu và tiên tri của Chúa cũng không giúp được ai gĩua vòng dân Chúa nhưng chỉ giúp được một người đàn bà gáo ngoại quốc ở xa. 2. Tiên tri Ê-li-sê chữa lành cho một người phung ngoại quốc, tướng Na-a-man, người Sy-ri. (2 Vua 5:1-14) Aân huệ chữa lành ở ngay trong nước Do Thái nhưng một người phung ngoại quốc ở xa lại nhận được và lành bệnh. Ân huệ của Chúa ban cho tất cả mọi người, không phải chỉ cho dân Do Thái. Dù là tuyển dân của Chúa nhưng nếu vô tín, bất trung thì cũng không nhận được ân huệ, sự cung ứng và cứu giúp của Chúa. Tiên tri của Chúa cũng không làm gì được khi dân chúng vô tín và bất trung với Chúa. Thái độ từ khước tiên tri của Chúa sẽ mang đến hậu quả nghiêm trọng, nguy hiểm. Những người Do Thái tại Na-xa-rét hiểu rõ câu chuyện Chúa Giê-su nêu lên nhưng nổi giận. Tại sao những người Do Thái giận dữ với Chúa Giê-su? Những điều Chúa kể đều là sự thật lịch sử. Người Do Thái tự hào là tuyển dân của Chúa nên họ tự cho mình tốt hơn người ngoại quốc. Nên khi Chúa Giê-su kể lại câu chuyện cho thấy người ngoại quốc được Chúa ban ân huệ trong khi người Do Thái lại không được, nên họ tức giận. Người Do Thái tại Na-xa-rét không chấp nhận những lời tuyên bố về mình của Chúa Giê-su, rằng Ngài chính là Chúa Cứu Thế hay vị tiên tri của Đức Chúa Trời mà tiên tri I-sa đã viết. Đối với họ ngài chỉ là một anh thợ mộc, con của một người thợ mộc đơn sơ trong làng. Người Do Thái tại đây chỉ yêu sự thật khi sự thật đó nói tốt về họ; họ chống đối, ghét và giận dữ khi sự thật chỉ ra tình trạng tội lỗi (vô tín, bất trung, tự cao) của họ. Ngày nay khảo cổ cho thấy có vách đứng cao tại phía tây của Thánh Đường Lễ Báo Tin ở Na-xa-rét. Có thể đây là chỗ người ta định xô ngài xuống nhưng Ngài đi thoát. II. Câu Hỏi Thảo Luận:
|