Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.

Bài 4

Người Tiền Phong của Chúa Cứu Thế
Lu-ca 3:1-20


I. Bối Cảnh Lược Giải.

Lu-ca theo cách chép sử thời ấy giới thiệu triều đại hoàng đế Ti-bê-ri cai trị từ 14 đến 37 Sau Công Nguyên. Hê-rốt này là Hê-rốt An-ti-pas, con của Đại Đế Hê-rốt, làm thống đốc vùng Ga-li-lê từ năm 4 trước Công Nguyên đến năm 39 SCN. Hê-rốt Phi-líp làm thống đốc vùng Y-tu-rê và Tra-cô-nít. Phi-lát làm thống đốc Vùng Giu-đê từ năm 26 đến 36 SCN.

Ly-sa-ni không thấy nhắc đến trong các sử liệu bên ngoài Kinh Thánh ngoại trừ một bảng khắc ghi Ly-sa-ni làm thống đốc A-bi-la gần Đa-mách (Sy-ri). Lu-ca ghi chép những niên đại lịc sử đương thời để cho thấy những gì xảy ra về Chúa Cứu Thế là những biến cố thật trong lịch sử chứ không phải những chuyện huyền thoại. Dòng họ nhà An-ne làm trưởng tế giữa vòng các thầy tế lễ khá lâu dài kể từ năm thứ 6 SCN. Cai-pha là con rể của An-ne.

Giăng Báp-tít được coi là tiếng nói tiên tri Cựu Ước cuối cùng sau một thời gian khá lâu dài (khoảng 400 năm, từ thời Nê-hê-mi và Ma-la-chi 433 TCN) không có lời tiên tri của Đức Chúa Trời được ghi nhận.

Giăng Báp-tít bắt đầu giảng dạy từ năm 27 hay 28 SCN. Về tiểu sử và quá trình của Giăng Báp-tít; nhiều học giả ngày nay cho rằng ông thuộc nhóm người Essenes, một cộng đồng Do Thái rút ra khỏi xã hội lúc bấy giờ mà họ cho là băng hoại và sống trong các hang động ở vùng Qumran (Phía nam Biển Chết). Tuy nhiên Giăng cũng có những điều khác với cộng đồng Qumran như việc ăn năn và đời sống cộng đồng. Lu-ca cho thấy Giăng nghe Lời Chúa khải thị và vâng lời ra đi rao giảng lễ Báp-tem ăn năn.

Giăng sống trong đồng hoang, hang động và ăn châu chấu và mật ong. Một số tài liệu tìm thấy trong các hang Qumran cho thấy cộng đồng này cũng ăn châu chấu vì là vật tinh sạch (Lê-vi 11:22). Phép Báp-tem ăn năn: Phép báp-tem của Giăng khác với phép báp-tem của Chúa Giê-su dạy cho các môn đệ thực hành cho những người tin Ngài. Người Do Thái vào thời ấy dùng phép báp-tem để làm lễ thanh tẩy cho những người ngoại quốc mới tòng đạo Do Thái vì họ cho rằng người ngoại quốc là ô uế.

Nhưng Giăng Báp-tít dùng lễ báp-tem cho cả người Do Thái vì họ cũng phạm tội và cần ăn năn. Về hình thức thi hành lễ báp-tem; có thể là hình thức nhận chìm cả người xuống nước. Những hồ chứa nước lớn và sâu trong cộng đồng Qumran và việc Giăng làm phép báp-tem cho dân chúng dưới sông Giô-đanh chứng tỏ rằng họ thực hành phép báp-tem theo cách trầm mình xuống nước.

Ăn năn: Theo tiếng Hy-bá (Do Thái ) có nghĩa là xoay lại khỏi tội lỗi và hướng về Đức Chúa Trời. Lu-ca cho thấy vai trò của Giăng Báp-tít như một vị quan tiên phong đi mở đường, chuẩn bị một địa phương hay vùng nào đó mà Vua sẽ đến tham quan. Điều này đã được tiên tri I-sa báo trước I-sa 40:1-5.

Cộng đồng Qumran dùng đoạn tiên tri I-sa 40:1-5 này để sống biệt lập trong các hang động. Nhưng nhờ Chúa thánh Linh khải thị, Lu-ca, cả Ma-thi-ơ và Mác hiểu rằng đây là đoạn Kinh Thánh nói về chức vụ chuẩn bị lòng dân của Giăng Báp-tít và đây là vấn đề tâm linh, vấn đề tội lỗi trong lòng người cần được thanh tẩy để đón nhận Chúa Cứu Thế.

Lời giảng của Giăng tiêu biểu cho nhiều tiên tri thời Cựu Ước, truyền bá sứ điệp phán xét nặng nề. Ong ví những người Do Thái đến nghe ông giảng như những con rắn độc bò ra khỏi cỏ vì lửa sắp cháy tới nơi. Rắn là biểu tượng của điều ác, của Sa-tan (Khải 20:2). Chúa Giê-su cũng ví những người Pha-ri-si (nhóm người Do Thái trí thức, biệt lập) là loài rắn độc (Mat 23:33).

Kết quả xứng đáng với sự ăn năn: Aên năn thật sẽ thay đổi hành động và cách sống. Người Do Thái cho rằng vì họ là con cháu Aùp-ra-ham theo huyết thống nên họ sẽ được Đức Chúa Trời đối xử khác hơn là người ngoại quốc; một số tin rằng họ được chọn và cứu vì là dòng dõi Aùp-ra-ham, người đã tin Đức Chúa Trời. Giăng Báp-tít bác bỏ điều tin tưởng sai lầm kia. Đức Chúa Trời có toàn quyền tạo nên con người mới bằng chất liệu thiên nhiên như đá. Đây là ý niệm dẫn đến việc Đức Chúa Trời cứu rỗi cả dân Do Thái lẫn dân ngoại quốc qua Con Ngài, Chúa Cứu Thế.

Sự phán xét cũng được ví như cây không sinh trái tốt nên bị chặt và ném vào lửa đốt. Chúa Giê-su cũng dùng hoa quả thích đáng (6:43-45) và cây không sinh trái sẽ bị chặt (13:6-9). Hình ảnh cây vả hay cây nho được dùng để ám chỉ nước Y-sơ-ra-ên (I-sa 5:1-7).

Khi một người đáp ứng lại lời truyền giảng ăn năn, đời sống họ thay đổi thành rộng rải, nhân từ. Người thu thuế thường bị coi là kẻ tội lỗi vì họ đấu thầu việc thâu thuế với đế quốc La Mã theo một số tiền nhất định nhưng thu thuế rất nặng từ dân để thủ lợi. Binh sĩ thường lương không cao nên họ hay dùng quyền đàn áp, bóc lột dân lành để tống tiền.

Dân chúng đang trông mong và suy nghĩ có thể Giăng Báp-tít chính là Đấng Cứu Thế của dân tộc họ nhưng Giăng tuyên bố rõ rằng ông không phải là Chúa Cứu Thế. Giăng chỉ cho họ thấy một số điểm về Chúa Cứu Thế để họ có thể nhận ra Ngài. Chúa cứu Thế là Đấng có thẩm quyền cao cả hơn Giăng. Giăng cảm thấy mình chưa xứng đáng bằng một tên nô lệ mở quai dép cho Chúa Cứu Thế. Giăng làm phép báp-tem bằng nước để người ta ăn năn, sửa soạn lòng đón Chúa.

Ăn năn trong Cựu Ước (sub) có nghĩa là quay trở lại với Đức Chúa Trời, từ bỏ hay xoay lưng lại với tội lỗi. Phép báp-tem của giăng “là một sự tận hiến bao gồm việc công nhận rằng Đức Chúa Trời đang đến.” (Darrell Bock 1994: 288) Công Vụ 19:4 cho thấy phép báp-tem của Giăng giới thiệu người ta đến với Chúa Cứu Thế bởi đức tin. Chúa Cứu Thế là Đấng phán xét. Chúa Cứu Thế sẽ làm phép báp-tem cho người tin Ngài bằng Đức Thánh Linh và lửa.

Đức Thánh Linh là Đấng thanh tẩy người tin và nhận phép báp-tem; Khi Chúa Thánh Linh ngự trong lòng người tin Ngài cũng bảo vệ người đó khỏi bị lửa đoán xét hủy diệt. Phép báp-tem của Chúa Cứu Thế đem lại Đức Thánh Linh cho người tin và lửa đoán xét cho người từ khước Chúa Cứu Thế.

Chúa Cứu Thế là Đấng phán xét tối hậu. Ngài sẽ đón nhận tín hữu vào Nước Thiên Đàng và những người vô tín, từ khước Chúa bị hủy diệt trong lửa. Dụng cụ để lọc lúa ra khỏi vỏ trấu là một cái chĩa bằng gỗ; người ta dùng để xóc lúa ném lên không cho gió hay quạt thổi vỏ bay đi, hạt lúa nặng sẽ rớt xuống sàn nhà. Giăng Báp-tít đã khuyến cáo dân chúng về đạo đức; ông trách vua Hê-rốt An-ti-pa đã cưới Hê-rô-đia, vốn là vợ của Hê-rốt Phi-líp. (Cựu Ước cấm Lê-vi 18:16; 20:21).

Một sử gia Do Thái, Josephus đề cập đến Giăng Báp-tít và cho rằng vua Hê-rốt coi Giăng Báp-tít là một mối đe dọa chính trị.

II. Câu Hỏi Thảo Luận:

  1. Lu-ca trích dẫn nhiều nhân vật lịch sử đương thời với mục đích gì khi trình bày Giăng Báp-tít và Chúa Giê-su?
  2. Giăng Báp-tít được ai sai đi truyền giảng và bằng cách nào?
  3. Phép báp-tem của Giăng Báp-tít có mục đích gì và có giống với phép báp-tem của Chúa Giê-su truyền không?
  4. Vai trò của Giăng Báp-tít là gì trong chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời?
  5. Phép báp-tem của Chúa Giê-su truyền khác với phép báp-tem của Giăng ở những điểm nào?
  6. Đời sống của một người thật lòng ăn năn sẽ thay đổi như thế nào?
  7. Theo bạn nghĩ, Giăng Báp-tít sẽ nói gì với những người kiêu hãnh và tin rằng mình được cứu là vì mình thuộc “đạo dòng nhiều đời” ?
  8. Giăng muốn nói về điều gì trong câu 3:9 ?
  9. Giăng Báp-tít cho rằng Chúa Cứu Thế hơn Giăng trên ba phương diện nào?
  10. Về phương diện đạo đức, Giăng nêu gương gì cho chúng ta?
  11. Giăng Báp-tít đem lại tấm gương gì khác cho chúng ta trong chức vụ của ông?
  12. Giăng truyền giảng Phúc Aâm để chuẩn bị lòng người đón Chúa Cứu Thế đến; ngày nay chúng ta nên làm gì để chuẩn bị đón Chúa Giê-su tái lâm?


Sách Phúc Âm Lu-ca


Chọn Bài

01   02   03    04   05
06   07   08    09   10

11   12   13    14   15
16   17   18    19   20

21   22   23    24   25
26   27   28    29   30

31   32   33    34   35
36   37   38    39   40

41   42   43    44   45
46   47   48    49   50

51   52   53    54   55
56   57   58    59   60

61   62   63    64   65

Bài Giải Đáp