![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Thời Thơ Ấu của Chúa Cứu Thế Lu-ca 2:21-52 I. Bối Cảnh và Lược Giải. Lễ cắt bì: Theo Kinh Luật (Sáng 17:9-14) một bé trai Do Thái sinh ra được tám ngày sẽ nhận lễ cắt bì. Lễ này được thi hành bằng cách cắt dương bì (mẫu da ở đầu dương vật) khi một bé trai Do Thái sinh ra được tám ngày. Đây là biểu tượng của giao ước mà Đức Chúa Trời đã kết với Áp-ra-ham và dòng dõi của ông. Áp-ra-ham và dòng dõi ông sẽ giữ lễ cắt bì này để xác quyết rằng họ tôn thờ và thuộc về Đức Chúa Trời; còn Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của họ và ban cho họ đất hứa làm quê hương cũng như ban phúc lành cho họ. Tên Giê-su: Tên Giê-su là tên thiên sứ bảo Ma-ri đặt cho con mình sẽ sinh ra (Lu-ca 1:31). Tên Giê-su là hình thức Hy Lạp của tên Giê-sua, sau đổi thành Giô-suê. Bản dịch Hy Lạp Bảy Mươi (LXX) của Cựu Ước có nhiều người mang tên này. Giê-sua hay Giô-suê có nghĩa là Gia-huê (Yahweh) là sự cứu rỗi. Ma-ri và Giô-sép là những người Do Thái mộ đạo; họ thi hành đúng theo Kinh Luật dạy và muốn sống đúng theo giao ước mà Chúa đã ban cho dân tộc họ. Chúa Giê-su đã sinh ra dưới Kinh Luật; Ngài đã vâng phục Kinh Luật (Ga 4:1-7) và Ngài đến thế gian không phải để hủy bỏ Kinh Luật nhưng để hoàn thành nó (Ma 5:17-18). Trong cuộc đời tại thế, Chúa Giê-su đã từ chối và bác bỏ nhiều truyền thống và tập tục tôn giáo của người Do Thái nhưng Ngài sống và thi hành hoàn toàn Kinh Luật của Đức Chúa Trời. Chúa Cứu Thế đến thế gian để giải thoát dân Do Thái ra khỏi gánh nặng của Kinh Luật (vì không ai làm nỗi tất cả Kinh Luật); Ngài cũng giải thoát những người không có Kinh Luật (tức là những dân tộc khác, không phải dân tộc Do Thái). Giăng 4:42; 1 Giăng 2:1-2. Lễ dâng Đức Giê-su trong đền thờ: Theo Kinh Luật (Lê-vi 12) sau 40 ngày Ma-ri và Giô-sép phải đem đứa bé lên đền thờ để làm lễ thanh tẩy và dâng hiến em bé cho Chúa vì Đức Giê-su là con trai đầu lòng (Lê-vi 13). Giô-sép và Ma-ri phải nộp một số tiền cho đền thờ và dâng tế lễ thiêu bằng một con chiên (cừu) hay một cặp chim cu hay chim bồ câu non. Ma-ri và Giô-sép đã dâng một cặp chim chứng tỏ họ rất nghèo. Đứa con mà họ đã vâng theo Kinh Luật dâng hiến một cặp chim để chuộc lại chính là Chiên Con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:29) sẽ đổ huyết của mình để chuộc tội cho cả thế gian nhân loại (1Phê 1:18-19). Cụ Si-mê-ôn và bà An-ne: Hai người này là những người công chính và kính sợ Chúa, tức là những người vâng theo Kinh Luật của Chúa và cẩn thận giữ lấy những nghi lễ Do Thái giáo. "Niềm an ủi của người Y-sơ-ra-ên": Một thành ngữ chỉ về sự mong đợi Chúa Cứu Thế hay Mê-si-a. I-sa 49:13; 51:3) Đức Thánh Linh ở trên cụ: Cụ Si-mê-ôn vẫn còn ở trong thời Cựu Ước. Vào thời này Đức Thánh Linh chỉ ngự xuống một số người đặc biệt và ở với họ trong một thời gian ngắn mà thôi ( Sam-sôn, Sau-lơ). Sau khi Chúa Cứu Thế về trời và Chúa Thánh Linh giáng xuống vào ngày lễ Ngũ Tuần (Công Vụ 2), Ngài ngự trong lòng tín hữu vĩnh viễn. Tin tưởng và mong đợi Đấng Mê-si-a đến để giải cứu dân Chúa là điều có lẽ nhiều người thời bấy giờ có, nhưng được Đức Thánh Linh hứa cho thấy Chúa Cứu Thế trước khi qua đời là một điều đặc biệt. Cụ Si-mê-ôn khi thấy và bồng hài nhi Giê-su, ông nhận biết đây là Chúa Cứu Thế. Si-mê-ôn gọi Chúa Giê-su là "sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời". Cụ Si-mê-ôn mô tả sự cứu rỗi hay Chúa Cứu thế là ánh sáng cho các dân tộc ngoại quốc (I-sa 60:1-3) và là vinh quang cho Y-sơ-ra-ên. Vinh quang ở đây có thể hiểu theo nghĩa “sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa dân Ngài” (I-sa 4:21), "chiến thắng" của Đấng Mê-si-a của Y-sơ-ra-ên, giải cứu dân Chúa ra khỏi tội lỗi. Si-mê-ôn cho thấy sự cứu rỗi của Chúa Cứu Thế mà Đức Chúa Trời hứa là sự cứu rỗi hoàn vũ, nghĩa là cho cả người Do Thái lẫn tất cả các dân tộc khác nữa. Lời tiên tri của cụ Si-mê-ôn cho thấy Chúa Cứu Thế sẽ là một nhân vật làm người Do Thái chia ra làm hai phía, một số sẽ nhận Ngài là Đấng Mê-si-a của họ, một số sẽ khước từ và chống đối. Tấm lòng hay thái độ của người Do Thái đối với Đức Chúa Trời cũng sẽ bày tỏ do phản ứng của họ đối với Chúa Cứu Thế. Riêng đối với Ma-ri, tấm lòng người mẹ sẽ đau đớn khi thấy Chúa Cứu Thế trên cây thập tự. Nữ tiên tri An-ne: Kinh Thánh Cựu Ước cũng có nói đến nữ tiên tri nhưng rất ít so với nam giới. Người đàn bà góa bụa vào thời đó thường gặp nhiều khó khăn, vất vả. Nhưng nữ tiên tri An-ne là một người sùng kính và có lẽ được kính trọng nhiều. Kiêng ăn, cầu nguyện và phục vụ Chúa là hoạt động của người sùng kính, yêu mến và tận hiến cho Chúa. "sự giải cứu Giê-ru-sa-lem": Một thành ngữ khác nói về sự giải cứu của Đấng Mê-si-a (I-sa 40:1; 49:13; 51:3). Những người thật lòng tin cậy Đức Chúa Trời và tin vào lời hứa của Ngài đều có niềm hy vọng về Đấng Cứu Thế. Lu-ca cho thấy Chúa Giê-su lớn lên về cả phần thể xác, tâm trí và tâm linh (đẹp lòng Đức Chúa Trời, c. 52). Vấn đề thần tính và nhân tính nơi Chúa Giê-su,(Phi-liùp 2:1-11) nghĩa là ngài là một người hoàn toàn có đầy đủ thể xác, tâm trí, tình cảm và tâm linh của một người nhưng đồng thời ngài cũng là Đức Chúa Trời (Giăng 1:1-5) bình đẳng, hằng hữu với Đức Chúa Cha là một huyền nhiệm chúng ta không thể hiểu thấu và giải thích thỏa đáng nhưng Kinh Thánh dạy rõ ràng như thế nên chúng ta tin. Dự lễ Vượt Qua: Một trong ba lễ lớn mà tất cả người nam Do Thái bắt buộc phải dự mỗi năm (Xuất 23:14-17; Phục 16:16); hai lễ kia là lễ Lều Tạm và Ngũ Tuần. Phụ nữ và trẻ con không bắt buộc phải dự; điều này cho thấy gia đình Giô-sép, Ma-ri rất mộ đạo. Mười hai tuổi là tuổi thành nhân và chuẩn bị trở thành "con trai của Kinh Luật" vào tuổi 13 theo phong tục bar mitzvah của người Do Thái. Tuy nhiên phong tục này có thể chưa có vào thời Chúa Giê-su. Những người đi dự lễ thường đi thành từng đoàn, phụ nữ trẻ con đi trước, nam giới đi sau. Chúa Giê-su có thể đi với trẻ con trong đoàn. Sau một ngày đường Ma-ri và Giô-sép mới khám phá ra Chúa Giê-su không có trong đoàn người trở về. Như thế họ phải mất một ngày trở lại Giê-ru-sa-lem và mộït ngày nữa để tìm kiếm. Vào thời đó vào những dịp lễ lớn các giáo sư thường hay thảo luận với môn đồ ngay trong sân đền thờ. Đây cũng là một cách học vào thời đó. Bà Ma-ri trách nhẹ cậu bé Giê-su nhưng câu trả lời của Ngài cho thấy Chúa Giê-su ý thức được con người và chức vụ thiêng liêng của mình. “Con phải ở trong nhà Cha con .”: Thành ngữ này có thể dịch là “con phải lo công việc của Cha con.”với ý nghĩa là làm theo ý Cha. Nhưng vì Chúa Giê-su đang ở trong đền thờ và đang thảo luận trong một lớp học nên “ở trong nhà Cha con có vẻ hợp ý hơn. Chúa muốn nói đến sứ mạng dạy dỗ và phục vụ Đức Chúa Cha. Qua câu trả lời chúng ta thấy Chúa Giê-su lúc này đã ý thức rõ mối liên hệ đặc biệt giữa Ngài và Đức Chúa Cha, Ngài là Con Đức Chúa Trời. Ma-ri và Giô-xép ngạc nhiên vì họ chưa hiểu thấu bản chất và mối liên hệ đặc thù của chúa Giê-su và Đức Chúa Cha. Lu-ca cũng ghi lại con người của chúa Giê-su, Ngài trở về phục tùng cha mẹ cho đến năm 30 tuổi. (Lu-ca 3:23) Bốn sách Phúc Aâm chỉ ghi lại vài nét về cuộc đời thơ ấu cho đến khi Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ công khai. Gia đình Giô-xép và Ma-ri có lẽ nghèo nhưng sùng kính Chúa dù họ sống trong một thời kỳ tôn giáo không mấy thịnh hành. Vùng Ga-li-lê là vùng bị ảnh hưởng của các dân ngoại quốc nhiều vì thế không mấy được kính nể. Đế quốc La Mã đang cai trị Do Thái, xã hội sống trong sợ hải, dân chúng bị áp bức. Trong thời gian niên thiếu và thành nhân, chúa Giê-su có thể làm nghề thợ mộc như cha nuôi mình (Mat 13:55; Mác 6:3). Ma-ri và Giô-xép cũng có những người con trai, con gái khác (Mat 13:55-56; Mác 6:1-6; Lu 4:16-30; Giăng 7:10). Trong thời gian này Chúa Giê-su sống như một người bình thường; Ngài không làm phép lạ nào cho đến khi thi hành chức vụ tại Ca-na (Giăng 2:1-11). II. Câu Hỏi Thảo Luận:
|