Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.

Bài 2

Giăng Báp-tít và Sự Giáng Sinh của Chúa Giê-su
Lu-ca 1:57-2:20


I. Bối Cảnh và Lược Giải

A. Giăng Báp-tít. Giăng Báp-tít được sinh ra là sự ứng nghiệm lời tiên tri và lời hứa của Đức Chúa Trời và đây cũng là một ân huệ và phép lạ Chúa ban cho gia đình thầy tế lễ già này.

Tên “Giăng” nghĩa là “Đức Chúa Trời là Đấng ân huệ”. Lễ cắt bì là nghi lễ cắt da qui đầu của đứa con trai mới sinh vào ngày thứ tám sau khi sanh. (Sáng 17:9-14; Lê 12:3) Xa-cha-ri muốn đặt tên cho con theo lời thiên sứ đã bảo cho thấy ông đã học bài học đức tin và vâng lời, vì thế ông nói được trở lại và ca ngợi Đức Chúa Trời.

“Tay Chúa” để chỉ quyền năng của Đức Chúa Trời đang hành động trên trần thế qua biến cố và con người Giăng. Bài ca của Xa-cha-ri: Đây là một bài ca ngợi và một lời tiên tri về Đấng Cứu Thế. Ông ca ngợi Chúa vì Ngài ban cho dân Ngài một Đấng Cứu Thế (Mê-si-a) từ dòng dõi vua Đa-vít và Giăng, con trai ông làvị tiên tri tiền phong đi trước chuẩn bị lòng dân cho Đấng Cứu Thế.

Đức Chúa Trời là Đấng cứu chuộc, thương xót, thành tín với giao ước thánh Ngài đã kết với tổ tiên họ; dân Chúa khi được cứu phải phục vụ Ngài trong sự thánh khiết. Giăng là tiên tri tiền phong chuẩn bị lòng dân chúng bằng cách dạy họ biết ăn năn, biết sự tha thứ tội lỗi do lòng thương xót của Chúa. Bình minh là biểu tượng của Chúa Cứu Thế, Đấng sẽ tỏa ánh sáng chân lý và bình an cho nhân loại trong tối tăm, chết chóc.

Giăng Báp-tít lớn lên cả về tâm linh lẫn thể xác. Giăng sống trong đồng hoang, có lẽ vùng khô khan, bán sa mạc gần Biển Chết.

B. Sự Giáng Sinh của Chúa Cứu Thế Giê-su.

  1. Cuộc kiểm tra dân số. Một số người cho rằng vì không có bằng chứng lịch sử và khảo cổ về một cuộc kiểm tra dân số vào thời này nên Lu-ca ghi chép sai.
    Giáo sư John McRay cho hay người ta tìm thấy một đồng xu có tên Qui-ri-ni-u làm thống đốc Sy-ri và Ci-li-cia từ năm 11 TCN cho đến sau khi vua Hê-rốt Đại Đế chết. Ngoài ra người ta tìm thấy ít nhất là 3 cuộc kiểm tra dân số dưới thời hoàng đế Aâu-gút-tơ. Cuộckiểm tra tại Sy-ri từ năm 9 TCN có thể kéo dài đến vùng Pha-lê-tin vào thời Chúa Giê-su sinh ra đời. Điều quan trọng là trong hai sắc lệnh kiểm tra có nói đến vấn đề trở về quê quán để đăng ký và cũng khai cả người đang sống với mình. (Archaeology & The New Testament, tr. 154-155) Như thế không có bằng chứng khảo cổ không có nghĩa là sai hay không có cuộc kiểm tra dân số. Trái lại những bằng chứng trên cho thấy rất có thể có cuộc kiểm tra như Lu-ca đã nói đến.
  2. Bết-lê-hem là quê hương của vua Đa-vít và một lãnh tụ thuộc dòng dõi Đa-vít được nói đến trong Mi-ca 5:1-2. Lu-ca cho hay Chúa Cứu Thế ra đời một cách đơn sơ, khiêm nhường trong máng cỏ vì quán trọ không còn chỗ. Từ “con trai đầu lòng” có thể hàm ý Ma-ri còn có các con khác nữa. (Mat 12:46-47; Lu-ca 8:19-20). Nhà trọ vào thời đó có thể là một nhà có hai tầng, tầng dưới dùng để giữ súc vật, tầng trên đón khách. Có thể nhà trọ và chuồng súc vật kế bên; đôi khi chuồng súc vật là một cái hang. Truyền thuyết cổ vào thế kỷ thứ tư ghi nhận Chúa sinh ra trong một hang tại Bết-lê-hem.
  3. Những người chăn chiên và thiên sứ. Những người chăn cừu thường thay phiên thức canh bầy cừu để khỏi bị ăn trộm hay thú rừng hại. Những người chăn cừu không phải là những người bần cùng và bị khinh khi nhưng chỉ là những người tầm thường trong xã hội. Vấn đề thiên sứ có thật hay không tùy thuộc vào vũ trụ quan của một người. Những người không tin siêu nhiên sẽ cho rằng những gì Lu-ca ghi chép ở đây là chuyện thần tiên, không có thật. Những người tin siêu nhiên thì thấy Lu-ca kể lại những chi tiết thật đã xảy ra, không có dấu hiệu nào chứng tỏ đây là những việc huyền thoại bịa đặt về sau này. Thiên sứ loan báo một Tin Mừng (Phúc Aâm). Sự đáp ứng với Tin Mừng là niềm vui. Niềm vui này cho mọi người trong nước lúc bấy giờ. Thiên sứ thông báo Đấng Cứu Thế đến trong ba danh hiệu: Đấng Cứu Rỗi, Đấng Được xức dầu (Chúa Cứu Thế, Christ) và Chúa Tể.

    a. Đấng Cứu Rỗi. Đấng giải cứu dân ra khỏi nguy hiểm hay kẻ thù. Sự giải cứu ở đây chỉ về cả vật chất lẫn tâm linh.
    b. Đấng được xức dầu. ( Mê-si-a ) Trong thời cựu ước, tiên tri, vua và thầy tế lễ là những người được xức dầu để thi hành nhiệm vụ Chúa giao. Ở đây chú trọng đến việc thừa kế vua Đa-vít trị vì dân Chúa và vương quốc Đức Chúa Trời.
    c. Chúa. Lu-ca dùng từ này chỉ về Đức Chúa Trời tể trị. Danh hiệu này dùng cho Chúa Giê-su để nói lên rằng Ngài là Đấng cao cả và quyền năng hơn là một vị cứu tinh dân tộc.

  4. Câu hát ca ngợi Đức Chúa Trời trên thiên đàng. Vinh quang ở đây có nghĩa là “tôn vinh hay vinh danh”. Trên trời cũng có thể dịch là nơi cao cả nhất, hay thiên đàng. Trong khi thiên đàng ca ngợi Đức Chúa Trời thì bình an đến với nhân loại ở trần gian. Tuy nhiên sự an khang thịnh vượng chỉ đến với những người Đức Chúa Trời ban ân huệ, tức là những người kính sợ Đức Chúa Trời và đáp ứng lại Tin Mừng của Con Ngài, Chúa Cứu thế Giê-su. Lời công bố của thiên sứ được các mục đồng tin, đi tìm Chúa Cứu Thế và xác nhận với Ma-ri và Giô-sép. Những người chăn chiên này sau khi thấy rõ mọi sự họ càng tin tưởng hơn và họ tôn vinh, ca ngợi Đức Chúa Trời.

II. Câu Hỏi Thảo Luận

  1. Cả hai vợ chồng thầy tế lễ Xa-cha-ri đều muốn đặt tên cho con là Giăng nói lên điều gì?
  2. “Có tay Chúa ở cùng Giăng” ám chỉ điều gì?
  3. Xa-cha-ri đã ca ngợi Đức Chúa Trời và nói tiên tri về những ai?
  4. Em bé Giăng được tăng trưởng như thế nào? Về những phương diện nào?
  5. Lu-ca ghi lại niên hiệu hoàng đế Aâu-gút-tơ chứng tỏ điều gì?
  6. Tại sao Lu-ca đề cập đến dòng dõi vua Đa-vít?
  7. Sự giáng sinh của Chúa Giê-su có những đặc tính gì?
  8. Sự giáng sinh của Chúa Giê-su được thiên sứ thông báo như là điều gì? Tại sao?
  9. Ba danh hiệu của Chúa Giê-su mà thiên sứ loan báo là gì? Có ý nghĩa gì?
  10. Khi Chúa Cứu Thế giáng sinh các thiên sứ trên trời làm gì?
  11. Những ai là người dưới trần thế sẽ được bình an? Có phải cả nhân loại không?
  12. Chúng ta học được gương gì nơi những người chăn chiên (cừu) kia?


Sách Phúc Âm Lu-ca


Chọn Bài

01   02   03    04   05
06   07   08    09   10

11   12   13    14   15
16   17   18    19   20

21   22   23    24   25
26   27   28    29   30

31   32   33    34   35
36   37   38    39   40

41   42   43    44   45
46   47   48    49   50

51   52   53    54   55
56   57   58    59   60

61   62   63    64   65

Bài Giải Đáp