![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Báo Tin Chúa Cứu Thế Giáng Sinh Lu-ca 1:1-56 I. Bối Cảnh và Lược Giải. Lu-ca là sách Phúc âm dài nhất trong bốn sách. Lu-ca cũng có phần thứ hai tức là sách Công Vụ Các Sứ Đồ ghi lại sự hình thành và phát triển của Hội Thánh đầu tiên. Lu-ca cho thấy ông không phải là người đầu tiên ghi chép những biến cố chung quanh Chúa Cứu Thế Giê-su nhưng đã có nhiều người khác ghi chép lại. Những nguồn tài liệu này có thể là tài liệu viết hay truyền khẩu; cũng có thể là sách Phúc âm Ma-thi-ơ và Mác vì ba sách này có rất nhiều chỗ giống nhau. Lu-ca dùng nguồn tài liệu từ những người giảng dạy Lời Chúa từ ban đầu, có thể là các Sứ Đồ. Như thế Lu-ca đã tham cứu nhiều nguồn tài liệu khác nhau và ghi chép sách Lu-ca theo thứ tự. Lu-ca đã dùng bốn cách để nghiên cứu các nguồn tài liệu: Điều tra vấn đề; tìm hiểu từ đầu; tìm hiểu tất cả sự kiện và nghiên cứu cẩn thận. Thê-ô-phi-lơ là người đã biết về Đạo Chúa và Lu-ca muốn ông biết rõ và chân xác hơn về Chúa Cứu Thế và hội thánh Ngài. Vua Hê-rốt được hoàng Đế La Mã và Thượng Viện La Mã phong vương và cai trị vùng Giu-đê bao gồm cả Ga-li-lê, Pê-rê và một phần Sy-ri từ 37-4 T.C.N. Vào thời ấy cả hai vợ chồng đều thuộc dòng dõi thầy tế lễ là dấu hiệu của một đặc ân. Xa-cha-ri và Ê-li-sa-bét là những người sùng kính, giữ trọn những điều răn và giới luật của Do Thái giáo. Nhưng hai người không có con; đây là một điều bất hạnh vào thời đó. Bắt thăm được dâng hương là một vinh hạnh lớn cho thầy tế lễ vì người cũng đại diện cho dân chúng dâng tế lễ toàn thiêu trong nơi thánh của đền thờ. Trong khi thầy tế lễ dâng tế lễ thì dân chúng ở ngoài sân cầu nguyện. Thiên sứ là một thực hữu, không phải là ảo tưởng hay huyền thoại. Xa-ch-ri thấy thiên sứ và sợ hãi. Vào thời Cựu Ước thầy tế lễ kiêng rượu trong khi thi hành chức vụ. Lê 10:9 Người Na-xi-rê cũng kiêng rượu (Thẩm 13:4-5) vì thề tận hiến cho Chúa. Tuy nhiên Giăng Báp-tít có phải là người Na-xi-rê không thì không chắc vì thiếu nhiều dữ kiện khác. Giăng Báp-tít được ví với tiên tri Ê-li và được tiên tri Ma-la-chi nói đến Mal 3:1; 4:5-6 Chức vụ của Giăng Báp-tít là chuẩn bị dân chúng để đón tiếp Chúa Cứu Thế. Sứ điệp của Giăng là sứ điệp ăn năn, quay trở lại với Đức Chúa Trời. Xa-cha-ri không tin rằng việc đó có thể xảy ra nên ông bị câm cho đến khi việc ứng nghiệm. Đức Chúa Trời cũng sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến báo tin cho Ma-ri về sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế. Nhưng hai sự thông báo hoàn toàn tương phản. Ma-ri là một trinh nữ ở một làng nhỏ nhưng đầy đức tin; trái với một thầy tế lễ già tại đền thờ nhưng thiếu đức tin. Vấn đề Ma-ri là một trinh nữ thụ thai và sinh ra Chúa Cứu Thế là một việc siêu nhiên. Một số học giả theo khuynh hướng thần học tự do cấp tiến vì thiên về khoa học thực nghiệm và không tin vào quyền năng siêu nhiên nên cho rằng câu chuyện đồng trinh là một huyền thoại hội thánh đầu tiên thêm vào Phúc Aâm sau này. Nhưng đa số học giả Phúc Âm thuần túy không thấy trở ngại gì trong việc tin tưởng vào quyền năng siêu nhiên của Đức Chúa Trời. Thiên sứ chào Ma-ri, “người được hồng phúc” (không phải người được hồng phúc nhất trong số phụ nữ) như một vài nhà giải Kinh Công giáo giải nghĩa. Con Đấng Chí Cao là Con Đức Chúa Trời. Ngài sẽ là vua trị vì đời đời. Ngài sẽ là dòng dõi vua Đa-vít. Ma-ri hỏi thiên sứ cho thấy cô không hiểu làm sao việc này, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh, chứ không phải không tin. Đây là câu hỏi chứ không phải lời khấn nguyện đồng trinh như một vài người Công giáo giải thích. Một số học giả Công giáo dùng câu này để hỗ trợ giáo lý “Đồng trinh trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh”. Lu-ca 1:34 chỉ cho thấy Ma-ri đồng trinh trước khi sinh Chúa Giê-su. Việc giáng sinh của Chúa Cứu Thế là một hành động siêu nhiên, do Đức Chúa Trời thực hiện bởi Đức Thánh Linh. Vì thế Đức Giê-su được gọi là Con Đức Chúa Trời. Thiên sứ nhắc cho Ma-ri biết người họ hàng của cô là Ê-li-sa-bét dù đã già nhưng cũng đã có thai. Vì Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng. Đức Chúa trời đã tạo ra luật thiên nhiên nhưng luật thiên nhiên không có quyền giới hạn Đấng Tạo Hóa. Đức tin của Ma-ri là đức tin rất lớn vì vào thời ấy một người con gái chưa có chồng mà có thai là một điều sỉ nhục và sẽ bị ném đá chết. Ma-ri đi xuống miền nam để thăm Ê-li-sa-bét; đoạn đường khoảng 150 Km. Phản ứng của bào thai trong bụng Ê-li-sa-bét và lời chào của Ê-li-sa-bét cho thấy Chúa Giê-su cao trọng hơn Giăng Báp-tít. “Mẹ của Chúa tôi đến thăm tôi” không có nghĩa là mẹ của Đức Chúa Trời; người Do Thái không bao giờ dùng như thế. Từ Chúa ở đây chỉ có nghĩa là bậc cao cả, không phải Đức ChúaTrời. Danh hiệu “Mẹ Chúa Trời” chỉ xuất hiện vào thếkỷ thứ tư sau Công Nguyên. Bài ca của Ma-ri: Bài ca ngợi mang nhiều tính cách Do Thái hơn là Cơ Đốc giáo cho nên không phải là do hội thánh thêm vào sau này. Ngoài ra trong Cựu Ước nhiều phụ nữ cũng đã ca ngợi Chúa như A-na, Đê-bô-ra v.v. Ma-ri tôn xưng Đức Chúa Trời và gọi Ngài là Đấng Cứu Rỗi cô cho nên giáo lý “Mẹ Chúa Trời” của Công giáo sau này là điều mâu thuẫn với Kinh Thánh. B. Một vài tà thuyết về bà Ma-ri.
II. Câu Hỏi Thảo Luận
|