![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Giải Nghĩa Kinh Thánh
Lược Khảo Phúc Âm Giăng Giáo Sư Mực Sư Trần Đào Vietnamese Baptist Theological School Giới Thiệu Phúc Âm Giăng thường được xếp thành một loại riêng vì từ hình thức đến nội dung có nhiều điểm khác biệt với ba Phúc Âm kia. Nhưng nhìn chung Phúc Âm Giăng vẫn có nhiều điểm gần với Phúc Âm Cọng Quan (Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca) hơn khi so với các phúc âm ngoại kinh (apocryphal gospels)và phúc âm tri thức (gnostic gospels). Một số học giả bảo thủ cho rằng Phúc Âm Giăng vẫn ở trong giới hạn của loại văn tiểu sử cổ dù Giăng có thể nghiêng về phía giảng giải những biến cố và nhân vật Giê-su nhưng không có nghĩa là không dựa trên nền tảng sự kiện lịch sử. Với sự khám phá các cuộn da ở Qumran, một địa điểm ở phía nam Giê-ru-sa-lem, người ta thấy cộng đồng Do Thái này đã sử dụng các từ ngữ logos, ánh sáng, tối tăm, sự sống, sự chết.v.v. và văn thể cũng như các chủ đề nhóm người này thảo luận và sáng tác rất gần với Phúc Âm Giăng. Như thế các học giả tự do cấp tiến không còn lý do để gán cho sách Giăng cùng với các loại văn huyền thoại Hy Lạp hay Tri Thức Luậân (Gnostics) của thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên. Ngoài ra Phúc Âm Giăng cũng cho thấy nhiều địa danh mà các Phúc Âm kia không đề cập đến. Nhưng ngày nay khảo cổ đã khám phá ra một số địa điểm mà Giăng nói đến như Bê-tha-ni bên kia sông Giô-đanh, khác với Bê-tha-ni gần Giê-ru-sa-lem; khe Kít-rôn, cổng Sa-lô-môn, hồ Bết-xa-tha với năm hàng cột.. Điều này chứng tỏ Giăng hiểu biết rất chính xác địa phương mà ông ghi chép lại trong Phúc Âm chứ không phải là một câu chuyện tưởng tượng. Phúc Âm Giăng chứa nhiều bài giảng của Chúa Giê-su vì thế trên phương diện cơ bản thì giống nhau nhưng có nhiều chi tiết khác với Phúc Âm Cọng Quan. Sự khác biệt này là do Giăng đã diễn giải nhân vật và những lời dạy dỗ của Ngài theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình hay theo những lời dạy dỗ khôn ngoan mà cộng đồng Giăng đã gìn giữ và lưu truyền. Giáo sư Craig Keener đã kết luận: “ Nói cho cùng, giả thử truyền thống mà Giăng dựa vào là đáng tin cậy, chúng ta có thể nói một cách tổng quát rằng Phúc Âm thứ Tư giữ những yếu tố căn bản lịch sử của Chúa Giê-su và ghi lại hình ảnh chính xác cũng như những sự dạy dỗ căn bản.” Trước Giả Truyền thuyết của hội thánh cho rằng tác giả Phúc Âm Giăng chính là Sứ Đồ Giăng. Một số các học giả ngày nay cho rằng trước giả Phúc Âm Giăng là một trưởng lão, học trò của Sứ Đồ Giăng hoặc một người chủ biên trong trường phái Giăng. Đa số học giả đồng ý rằng môn đệ thân yêu là một nguồn tài liệu đáng tin cậy của truyền thống được ghi chép trong Phúc Âm Giăng. Ngày nay một số học giả bảo thủ đã chứng minh với nhiều bằng chứng nội tại lẫn ngoại tại và luận cứ mạnh mẽ để hỗ trợ cho quan điểm truyền thống về tác giả Phúc Âm Giăng. Quan niệm cho rằng một Trưởng Lão trong cộng đồng hay trường phái Giăng là trước giả của sách này cũng được nhiều người chấp nhận. Niên Đại Nhiều học giả tin rằng Phúc Âm Giăng được trước tác vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất (từ 60-90 SCN) dù những bằng chứng ngoại tại cho thấy Phúc Âm Giăng chỉ được lưu hành rộng rãi vào hậu bán thế kỷ thứ hai. Ngày nay với bằng chứng văn bản cổ từ Phúc Âm Giăng được tìm thấy ở Ai-cập vào tiền bán thếkỷ thứ hai khiến cho nhiều học giả phải công nhận rằng Phúc Âm này phải được trước tác trước đó khá lâu và lưu hành rộng rãi. Học giả văn bản cổ nổi tiếng Metzger của Đại Học Princeton đã cho rằng nếu những học giả của trường phái Tuebingen biết được văn bản cổ này ở Ai-cập thì họ đã không chủ trương đặt niên đại của Phúc Âm Giăng vào năm 160 SCN (Sau Công Nguyên). Địa Điểm Trước Tác Những bằng chứng ngoại tại cho thấy Phúc Âm Giăng có thể được trước tác tại Tiểu Á thuộc La Mã (Ephesus hay Smyrna) hoặc tại vùng Syro-Palestine, tức là Ga-li-lê hay An-ti-ốt. Đây là những vùng có cộng đồng tín hữu Do Thái đông đảo sau khi Giê-ru-sa-lem và đền thờ bị tàn phá. Cấu Trúc Nhìn một cách tổng quát Phúc Âm Giăng có phần mở đầu và kết thúc rất rõ ràng. Phần nội dung ở giữa có thể được phân thành ba hay năm phần nhỏ gồm có những dấu hiệu và những bài giảng luận.
Những dấu hiệu 1:19-10:42 Sự thống khổ 11:1-17:26 Sự vinh hiển 18:1-20:31 Phần kết thúc 21:1-25 Ngôi Lời (Logos) Từ ngữ ‘Logos’ thường được dùng trong tiếng Hy Lạp với nhiều ý nghĩa khác nhau như tư tưởng trong một người; sự phát biểu tư tưởng trong lời nói. Về phương diện triết học, từ logos có thể chỉ về nguyên lý của vũ trụ, năng lực sáng tạo; logos là sự khôn ngoan hằng hữu hướng dẫn mọi sự. Tiết học Hy Lạp không hiểu biết logos như là một nhân vị nhưng như là một nguyên lý vũ trụ. Giăng khi dùng từ phổ thông ‘logos’, ông không dùng với tất cả những ý nghĩa triết học Hy Lạp. Theo quan niệm Hy Lạp, “Người Hy Lạp cho rằng các thần thường cách biệt khỏi thế giới, không liên hệ đến và thản nhiên tự tại với những cảm xúc nhức đầu, tranh đấu, vui, sợ của nhân loại.” Trong khi đó Giăng cho thấy Ngôi Lời từ ban đầu đã tiếp cận với thế giới, thật ra Ngôi Lời chính là Đấng tạo ra vạn vật, là nguồn sống của mọi sinh vật, là ánh sáng của thế gian. Ngôi Lời trong Phúc Âm Giăng sáng tạo, tiếp cận, tham gia vào thế gian. “ Ngôi Lời đã giáng thế làm người, cư ngụ giữa chúng ta (nhân loại), tràn đầy ân sủng và chân lý.”(Giăng 1:14) Giăng dùng từ logos theo bối cảnh văn hóa Do Thái nhiều hơn. Từ ngữ ‘ban đầu’ chỉ về thời gian Đức Chúa Trời bắt đầu sáng tạo vũ trụ. Trong Kinh Thánh Cựu Ước Đức Chúa Trời đã dùng Lời Chúa để sáng tạo vũ trụ và thực hiện ý chỉ thánh của Ngài. Một từ khác cũng liên hệ nhiều đến logos trong Phúc Âm Giăng là Sự Khôn Ngoan và Luật Pháp. Khôn Ngoan và Luật Pháp thường hay được nhân cách hóa nên gần như mang bản chất bán thân vị. “Trong các câu Isa 2:3 và Mi-ca 4:2 “Khôn Ngoan’ và “Luật Pháp” hay Lời mang ý nghĩa thần tính thiêng liêng dù chưa hoàn toàn như Đức Chúa Trời.” Giăng đã dùng từ thông dụng ‘logos’ trong bối cảnh của cả hai nền văn hóa Hy Lạp lẫn Do Thái thời Cựu Ước, nhưng ông phát triển từ này theo một ý nghĩa mạc khải hoàn toàn mới lạ và sâu xa hơn. Đối với Giăng và qua Phúc Âm Giăng, đặc biệt là phần mở đầu (1:1-5), Ngôi Lời (Logos) không phải chỉ là một nguyên lý sáng tạo nhưng là một ngôi hay thân vị sống, với đầy đủ lý trí, ý chí và tình cảm, là nguồn của mọi sự sống. Ngôi Lời có một nguồn gốc vĩnh hằng, trước khi vũ trụ này được sáng tạo. Như thế Ngôi Lời không phải là một hữu thể hay sinh vật được tạo ra chung với vũ trụ vạn vật hữu hình hoặc vô hình. Giăng cũng có cùng một giả định như trước giả sách Sáng Thế trong Kinh Thánh Cựu Ước, “Ban đầu Đức Chúa Trời sáng tạo trời đất.” (Sáng Thế 1:1) Hay nói một cách khác, Giăng cho rằng Ngôi Lời tự hữu hằng hữu như Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu hằng hữu. Ngôi Lời là một thân vị (person) riêng biệt, không phải là một phương diện hay lãnh vực của cùng một Đức Chúa Trời. Ngôi Lời là một thân vị hiện hữu cùng Đức Chúa Trời từ vĩnh hằng. Theo truyền thống Do Thái người ta cũng nói đến “nhân viên hay đại sứ” đại diện cho chủ với đầy đủ thẩm quyền như chủ để thi hành công tác hay hoàn thành sứ mệnh. Ngôi Lời có thể hiểu theo ý nghĩa đó, tuy nhiên Giăng khẳng định: “Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.” (Giăng 1:1) Hay nói một cách khác, theo Giăng, Ngôi Lời có cùng một bản thể như Đức Chúa Trời, mang đầy đủ bản chất thần tính của Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng Tạo Hóa, nguồn của mọi sự sống; là ánh sáng thể chất lẫn tâm linh cho vũ trụ và nhân loại. Khi Ngôi Lời nhập thể làm người (Giăng 1:14) tức là Chúa Giê-su; Ngài đã hành động, tuyên bố như Đức chúa Trời và vì thế Ngài bị người Do Thái tố cáo là “tự cho mình bình đẳng với Đức Chúa Trời” (Giăng 5:18) và như thế là phạm thượng. Tuy nhiên các môn đệ của Chúa đều tin tưởng điều này và tiêu biểu là lời tuyên xưng của Thô-ma sau khi thấy Chúa Giê-su sống lại từ kẻ chết , “Lạy Chúa của con và Đức Chúa Trời của con.” (Giăng 20:28). Sau phần mở đầu Giăng không dùng từ ‘logos’ để chỉ về Chúa Giê-su nhưng là những lời của Chúa Giê-su, Lời Đức Chúa Trời. Khi so sánh với các Phúc Âm khác , sách Công Vụ và các thư tín người ta thấy vấn đề truyền giảng Phúc Âm, truyền giảng Chúa Cứu Thế, truyền giảng Lời Chúa thường được dùng và hiểu như là tương đồng. Từ Ngôi Lời để chỉ về Chúa Giê-su được nói đến lần cuối trong Kinh Thánh Tân Ứớc là Khải 19:13. Chúa Giê-su được mô tả như là Đấng phán xét vào thời kỳ tận thế và Ngài có danh hiệu là “(Ngôi) Lời của Đức Chúa Trời”. Thế Giới (Thế Gian) Từ ‘thế giới’ (thếâ gian, vũ trụ ) được dùng rất nhiều lần trong Phúc Âm Giăng. Từ này được dùng với ý nghĩa vũ trụ vạn vật, quả đất nơi nhân loại đang sinh sống và nhân loại nói chung. Tuy nhiên trong Phúc Âm Giăng từ ‘kosmos’ (Thế gian) thường để chỉ đa số nhân loại không ý thức nhiệt thành phục vụ Đức Chúa Trời. Riêng đối với Chúa Cứu Thế, thế gian chống đối, từ khước và cuối cùng đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Thế gian cũng ghét môn đệ của Chúa Cứu Thế. Nói chung thế gian không nhận biết Chúa Cứu Thế cho nên cũng không biết Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh. Thế gian không chú ý đến những công việc của Đức Chúa Trời và do đó không hoan nghênh Đấng Cứu Thế của Đức Chúa Trời sai đến. Thế gian này đang ở dưới quyền cai trị của Hoàng tử của thế gian (12:31). Thế gian được mô tả như là đang ở trong bóng tối và Chúa Giê-su là ánh sáng soi sáng thế gian. Dù thế gian đang ở dưới sự cai trị của hoàng tử của thế gian, kẻ phản loạn, chống lại Chúa, Đức Chúa Trời vẫn yêu thương thế gian; Chúa Cứu Thế đến thế gian để hy sinh cứu vớt thế gian ra khỏi tội lỗi. Chúa Giê-su chính là Con Đường, Chân Lý và Nguồn Sống của thế gian. Chúa Cứu Thế đã chiến thắng hoàng tử của thế gian tức là Sa-tan bằng sự chết và sự phục sinh của Ngài và là Đấng chiến thắng cho đến tận cùng. Con Đức Chúa Trời Phúc Âm Giăng dùng danh hiệu Con Đức Chúa Trời nhiều lần để chỉ Chúa Giê-su. Trong thần thoại Hy Lạp con của các thần thường có quyền năng và sức mạnh siêu nhiên, một số đạt đến tình trạng bất tử. Đối với người Do Thái Kinh Thánh gọi người hay dân tộc Y-sơ-ra-ên là con Đức Chúa Trời. Một vài nhânvật công chính như Môi-se cũng được gọi là con Đức Chúa Trời. Theo quan niệm độc thần, người Do Thái khó có thể chấp nhận một nhân vật nào khác mang bản chất thần tính và bình đẳng với Đức Chúa Trời. Danh hiệu Con Đức Chúa Trời trong Phúc Âm Giăng được trình bày với bối cảnh của hai nền văn hóa Hy Lạp và Do Thái đang lưu hành. Tương tự như từ ngữ logos, Giăng sử dụng một vài ý nghĩa của danh hiệu Con Đức Chúa Trời rút ra từ ý niệm Hy Lạp và một vài phương diện rút ra từ văn hóa Do Thái và thêm vào những ý niệm mới mẽ, sâu xa và đầy đủ để chỉ về Chúa Giê-su. Phúc Âm Giăng mô tả mối quan hệ thân thiết và gần gủi giữa Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời và Đức Chúa Cha. Chúa Giê-su đã cầu nguyện: Lạy Cha (Giăng 17:1). Đức Chúa Cha yêu Con và trao mọi sự vào tay Con (Giăng 3:35), hay nói một cách khác Con Đức Chúa Trời có đầy đủ thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su dạy và làm mọi sự theo ý Cha vì Ngài nhìn thấy Cha (1:18), nghe lời Cha(15;15) và biết Cha (17:25). Chúa Giê-su trong cương vị Con Đức Chúa Trời bày tỏ hay mạc khải Đức Chúa Trời cho nhân loại một cách toàn hảo (1:18). Phúc Âm Giăng cũng nói đến sự hiệp nhất giữa Đức Chúa Cha và Con Đức Chúa Trời (10:30), đặc biệt là sự hiệp nhất trong sự mạc khải và trong sự cứu rỗi (14:10-11) và trong tình yêu thương. Nói tóm lại Giăng cho thấy lời nói của Con và hành động của Con Đức Chúa Trời là lời và hành động của Đức Chúa Trời. Khi so sánh với cách dùng của Phao-lô trong các thư tín thời đầu tiên của truyền thống Thiên Nhiệm (Christian), Con Đức Chúa Trời thường được dùng để chỉ Chúa Cứu Thế (Mê-si-a hay Ky-tôn) và mang đầy đủ thần tính của Đức Chúa Trời. Giăng nói đến sự hằng hữu của Con Đức Chúa Trời, sự vinh quang Ngài đã có từ trước với Đức Chúa Cha. Chúa Giê-su trong cương vị Con Đức Chúa Trời, Ngài đến thế gian để hoàn thành ý chỉ của Đức Chúa Cha. Con Đức Chúa Trời cũng chia sẻ sự sống cho những ai tin cậy Ngài và sẽ chia sẻ trách nhiệm đoán xét thế gian trong ngày phán xét. Theo Phúc Âm Giăng, Con Đức Chúa Trời không phải chỉ là người đại diện Đức Chúa Trời trên trần thế nhưng mà là sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa vòng nhân loại trên trần thế. Hiểu Biết Đức Chúa Trời Trước giả Giăng thường dùng hai từ ngữ ‘ginosko’ và ‘oida’ để chỉ về sự hiểu biết, đặc biệt là hiểu biết Đức Chúa Trời. Mặc dù nguyên nghĩa của hai từ này có phần nào khác biệt trong một vài khía cạnh nhưng quan sát tất cả trường hợp sử dụng của hai từ này trong Phúc Âm Giăng, người ta thấy Giăng có vẻ như dùng hai từ này như những từ đồng nghĩa. “Khi nghiên cứu mỗi đoạn, các đoạn song song với nhau người ta thấy rõ các từ trong các đoạn được dùng với ý nghĩa tương đồng.” Một trong những đặc điểm của Phúc Âm Giăng là con người có thể hiểu biết Đức Chúa Trời là do Ngài tự bày tỏ (mạc khải) chính mình qua Đức Con, Chúa Cứu Thế (Giăng 1:18). Khi người Do Thái từ khước chấp nhận Con Đức Chúa Trời thì họ cũng không biết Đức Chúa Cha. Một số người biết hời hợt và sai lầm về Chúa Giê-su nên đã dẫn họ đến sự bối rối và quyết định lầm lẫn về Ngài; sự hiểu biết sai lầm này đã đưa đến hậu quả nghiêm trọng, khủng khiếp cho cá nhân lẫn cộng đồng người Do Thái thời bấy giờ. “Nếu các ngươi biết ta, các người hẳn đã biết Cha Ta rồi.!”…vì nếu các người không chịu tin ta là Đấng Hằng Hữu, thì các người sẽ chết mất trong tội lỗi mình.” (Giăng 8:19, 24) Trong phương diện này Giăng phản ánh sự dạy dỗ trong Kinh Thánh Cựu Ước về sự hiểu biết Đức Chúa Trời: “Dân Ta bị hủy diệt vì thiếu hiểu biết.” (Ô-sê 4:6) và tiên tri I-sa cũng nói rõ lý do dân Chúa không được thương xót và ban ơn : “Vì dân này không hiểu biết nên Đấng làm nên chúng không thương xót và Đấng tạo ra chúng không ban ơn.” (I-sa 27:11) Đây là một điều quan trọng con dân hội thánh Chúa ngày nay cần lưu tâm. Sự hiểu biết Đức Chúa Trời theo Giăng tùy thuộc vào đức tin, mối quan hệ với Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế hơn là biết một số sự kiện về Ngài. Một trong những điểm đặc thù của Giăng về sự hiểu biết Đức Chúa Trời là đức tin nơi Chúa Cứu Thế; thật ra đức tin nơi Chúa Giê-su là điều kiện tiên quyết để có sự hiểu biết thật và đúng về Đức Chúa Trời. (14:7, 17) Phúc Âm Giăng cho thấy đức tin và sự hiểu biết thật về Đức Chúa Trời là sự công nhận và tin tưởng vào sự mạc khải của Đức Chúa Trời trong lịch sử loài người qua Con Một Đức Chúa Trời. Biết Chúa Cứu Thế Giê-su (Mê-si-a Giê-su) là biết Đức Chúa Trời (17:3). Đây là lý do Giăng cho thấy những giáo sư Do Thái giáo biết rất nhiều về Kinh Thánh Cựu Ước nhưng không biết Đức Chúa Trời vì họ không nhận biết Chúa Cứu Thế Giê-su, mạc khải của Đức Chúa Trời trong lịch sử . Ngoài ra sự hiểu biết Đức Chúa Trời được mô tả như là một tiến trình và kinh nghiệm hơn là sự nhận thức một số sự kiện khách quan, cố định. Phúc Âm Giăng cũng cho thấy một phương diện khác trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời là mối tương thông giao ước. Đây là sự hiểu biết đặt trên căn bản đức tin, quan hệ tương thông và kinh nghiệm trực giác chứ không phải dựa trên kiến thức về nhân vật hay những thông tin, sự kiện về Đức chúa Trời. Hiểu biết Chúa Giê-su tùy thuộc vào đức tin nơi mạc khải của Đức Chúa Trời hơn là tùy thuộc vào sự gần gủi, thân cận về huyết thống hay không gian vật lý. Các em Chúa sống trong gia đình với Chúa Giê-su bao nhiêu năm nhưng vẫn không tin Ngài (7:5); Phi-líp đã theo Chúa trên ba năm nhưng Ngài trách môn đệ này: “Phi-líp, Ta từng ở với các con bấy lâu mà con chưa biết Ta sao?”(14:9) Những giáo sư Do Thái giáo biết rất nhiều sự kiện về Đức Chúa Trời nhưng họ không có mối tương thông với Chúa. Trong khi đó những môn đệ của Chúa Giê-su không có những kiến thức về Kinh Thánh như các giáo sư Do Thái nhưng họ biết Chúa Cứu Thế, có mối tương thông gần gủi, thân thiết với Chúa Cứu Thế và do đó họ biết Đức Chúa Trời (17:3). Vì sự hiểu biết Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế Giê-su, Con Đức Chúa Trời tùy thuộc vào đức tin hay sự chấp nhận mạc khải của Đức Chúa Trời cho nên Chúa Giê-su đã cầu nguyện cho không những các môn đệ của Ngài thôi nhưng cũng cầu nguyện cho những người sẽ tin và tiếp nhận lời của các môn đệ Chúa sau này nữa. Đây cũng là lý do Phúc Âm Giăng được ghi chép. (Giăng 20:31) Sự Nhận Thấy Phúc Âm Giăng nói nhiều đến khả năng nhận thấy những giá trị thiêng liêng và nhất là nhận thấy sự vinh quang của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Giê-su. Giăng tường trình nhiều trường hợp cho thấy đa số những người Do Thái, kể cả đa số giới lãnh đạo Do Thái giáo đều mù lòa trên phương diện tâm linh vì họ không nhận thấy Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a của dân tộc họ. Trong khi đó ngay từ chương đầu Giăng đã cho độc giả thấy, “Chúng tôi đã tận mắt chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, là vinh quang của Con Một đến từ Cha.” (1:14) Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài đều hoan nghênh và khuyến khích những người tìm kiếm Đấng Cứu Thế “hãy đến và xem”. Các môn đệ của Chúa vì thấy bản chất và quyền năng siêu nhiên của Chúa Giê-su nên họ tin. Trong Phúc Âm Giăng khả năng nhận thấy những đức tính siêu nhiên của Chúa thường là giai đoạn đầu của đức tin nơi Chúa Cứu Thế và bước vào mối tương thông với Đức Chúa Trời. Khả năng nhận thấy và đức tin nơi Chúa Giê-su đều có liên hệ với nhau rất chặc chẻ. Nhờ đức tin môn đệ của Chúa thấy được vinh quang của Đức Chúa Trời qua đời sống và ngay cả sự thống khổ, sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế để cứu rỗi nhân loại. Sự nhận thấy trong Phúc Âm Giăng liên quan mật thiết với dấu hiệu của Chúa Cứu Thế. Dấu Hiệu (lạ) Phúc Âm Giăng đã trình bày những công việc, lời dạy dỗ của chúa Giê-su và nhất là sự thống khổ, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-su như là những dấu hiệu dẫn người nhận thấy dấu lạ đến đức tin nới Chúa Giê-su như là Đấng Cứu Thế của họ và nhờ đó nhận được sự sống vĩnh phúc (Giăng 20:31). Dấu lạ dẫn đến đức tin nơi Chúa Cứu Thế nhưng nếu đức tin đó không dẫn đến mối quan hệ giao ước và môn đệ với Chúa Cứu Thế thì cũng chưa đủ (Giăng 2:23-25). Đòi hỏi dấu lạ dù đã thấy nhiều dấu lạ của Chúa Giê-su và thấy chính Ngài là dấu hiệu của vô tín. Phúc Âm Giăng thường gọi những phép lạ Chúa Giê-su làm là những “dấu lạ” trong khi các Phúc Âm khác gọi là “việc quyền năng”. Tuy nhiên nhìn chung người ta thấy Giăng coi nhiều hành động khác của Chúa Giê-su như là “dấu hiệu” như việc đuổi người buôn bán ra khỏi đền thờ, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-su. Quan sát kỷ người ta thấy Giăng chỉ ghi chép một số phép lạ mang nhiều tính cách biểu tượng. Chúa hóa nước thành rượu là biểu tượng của Đấng Mê-si-a đem lại niềm vui trong thời đại Mê-si-a; Chúa cứu La-xa-rơ sống lại là biểu tượng của Đấng ban sự sống; Chúa chữa lành người mù là đem ánh sáng đến cho thế giới mù lòa; Chúa hóa bánh cho năm ngàn người nam chỉ về Đức Chúa Trời cung ứng thực phẩm cho dân Ngài như trong thời xuất hành trong sa mạc. v.v. Như thế “dấu lạ” là sự biểu hiện của công việc của Đức Chúa Trời qua Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-su, cho thế gian. Dấu lạ cũng là sự biểu hiện vinh quang của Đức Chúa Trời qua sự hy sinh chịu chết và sự sống lại của Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-su. Đặc biệt các “dấu lạ” là những công việc trong thế giới vật chất để chỉ cho nhân loại thấy không những Chúa là Đấng Sáng tạo vũ trụ vạn vật nhưng cũng là Đấng ban sự sống tâm linh và Ngài là Chúa Tể của cả hai thế giới, vật chất lẫn tâm linh. Người Do Thái vào đầu thế kỷ tin rằng Đức Chúa Trời có thể trực tiếp làm những phép lạ hoặc Ngài cũng có thể dùng một nhân vật trung gian làm điều đó. Những phép lạ của Chúa Giê-su chính là những dấu hiệu xác chứng quyền năng của Đức Chúa Trời. Ni-cô-đem, một giáo sư Do Thái giáo đã xác nhận về Chúa Giê-su như thế (3:2). Tuy nhiên chúng ta có thể thấy rõ Giăng trình bày những dấu hiệu Chúa Giê-su làm không những chỉ xác minh rằng Ngài là đấng thánh thiện, có quyền năng siêu nhiên vì Ngài thánh thiện, tận hiến cho Đức Chúa Trời nên Đức Chúa Trời ban cho Ngài ân sủng và quyền năng trên, nhưng cũng chứng tỏ rằng Chúa Giê-su chính là Con Một Đức Chúa Trời. Giăng trình bày rõ rằng những dấu hiệu của đời sống, chức vụ, sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế là dấu hiệu tối cao bày tỏ sự vinh quang của Đức Chúa Trời. Dấu lạ trong Phúc Âm Giăng cũng xác nhận thẩm quyền của sứ điệp mà Chúa Giê-su truyền giảng và sứ điệp mà các môn đệ của Chúa Cứu Thế tiếp tục truyền bá bởi quyền năng của Đức Thánh Linh khi Chúa Cứu Thế về trời. Đây là tột đỉnh của Phúc Âm, những lời chứng của các môn đệ Chúa Cứu Thế về đời sống, sự chết và sự sống lại của Ngài qua sự xác chứng của Đức Thánh Linh có đủ thẩm quyền đưa một người vào sự cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế mà không cần phải thấy Chúa Cứu Thế bằng mắt. “Phước cho những người chưa được thấy mà đã tin Ta.”(20:29) Chúa Cứu Thế (Đấng Mê-si-a, Ky-tôn) Danh từ “Chúa Cứu Thế” (Christos, Ky-tôn) được nói đến mười chín lần trong Phúc Âm Giăng. Thật ra Giăng ghi rõ mục đích của ông khi trước tác Phúc Âm Giăng là để “anh chị em tin Đức Giê-su là Chúa Cứu Thế, Con của Đức Chúa Trời, và nhờ đức tin đó anh chị em được sống trong danh Ngài.”(20:31) Phúc Âm Giăng là Phúc Âm duy nhất dùng từ Hê-bơ-rơ hay A-ra-mic Mê-si-a để chỉ về Chúa Giê-su và giải nghĩa ra tiếng Hy Lạp là Ky-tôn (Christos). Các Phúc Âm khác chỉ dùng từ Hy Lạp Ky-tôn (Christos) để chỉ Chúa Giê-su. Giăng cho thấy các môn đệ Chúa Giê-su ngay từ đầu đã công nhận rằng Ngài là Đấng Mê-si-a của họ. Những người Sa-ma-ri cũng công nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế của nhân loại. Dân chúng thì bàn thảo rộng rãi về Chúa Giê-su có phải là Đấng Mê-si-a không. Khi dùng danh hiệu Mê-si-a, Giăng nhấn mạnh đến ý nghĩa phổ thông của người Do Thái là ý nghĩa “xức dầu”; quan niệm về một vị vua thuộc dòng dõi vua Đa-vít cũng khá phổ thông. Trong một vài trường hợp danh hiệu Mê-si-a hoàn toàn đồng nghĩa với Con Đức Chúa Trời. Thật ra giới lãnh đạo Do Thái giáo đã kết án tử hình Chúa Giê-su vì Ngài đã xác nhận rằng Ngài chính là Chúa Cứu Thế, Con Đức Chúa Trời . Đa số giới lãnh đạo Do Thái không công nhận rằng Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a và ai tin tưởng như thế sẽ bị đuổi ra khỏi hội đường của họ. Nhưng trong khi đó chính Giăng Báp-tít, người được đa số dân Do Thái coi là vị tiên tri của Đức Chúa Trời xác nhận rằng Đức Giê-su chính là Chiên Con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:29) và là Con Đức Chúa Trời (1:34). Các môn đệ của Giăng Báp-tít sau đó cũng đã tin và theo Chúa Giê-su vì họ tin rằng Ngài chính là Chúa Cứu Thế. Phi-líp tin rằng Chúa Giê-su chính là Đấng làm ứng nghiệm những lời tiên tri trong Kinh Thánh về Chúa Cứu Thế. Na-tha-ni-ên xác nhận rằng Chúa Giê-su chính là Con Đức Chúa Trời và là Vua của Y-sơ-ra-ên. Ý niệm Chúa Cứu Thế sẽ là vị vua hậu duệ của vua Đa-vít là một ý niệm phổ thông về Chúa Cứu Thế giữa vòng người Do Thái lúc bấy giờ mặc dù ý niệm này nhấn mạnh đến lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự mà thôi và đại đa số, kể cả các môn đệ của Chúa, đều không thấy và biết đến lãnh vực tâm linh và Vương Quốc thiêng liêng của Đức Chúa Trời. Trong khi đối thoại với thống đốc Phi-lát, người đại diện cho thế quyền, Chúa Giê-su đã xác nhận rõ Ngài là vua và Vương Quốc Đức Chúa Trời không phải là vương quốc thế tục. Phúc Âm Giăng không những chỉ dùng đích danh từ Mê-si-a để chỉ Chúa Giê-su nhưng cũng dùng nhiều từ khác để mô tả và ghi nhận những công việc, lời dạy dỗ của Ngài. Trong phần mở đầu Phúc Âm của mình Giăng đã giới thiệu Ngôi Lời như là Đức Chúa Trời, Đấng Sáng Tạo và Ngôi Lời đã trở thành xác thịt, tức là Chúa Giê-su, Chúa Cứu Thế. Danh hiệu Con Đức Chúa Trời cũng được dùng nhiều lần để chỉ về Chúa Giê-su. Phúc Âm Giăng ghi lại nhiều lời tuyên bố của Chúa Cứu Thế, đặc biệt là lời tuyên bố ‘Ta hằng hữu”(Giăng 8:58). Trong bối cảnh của nền văn hóa Do Thái, lời tuyên bố này mang một ý nghĩa đặc biệt vì câu nói này cũng chính là lời tuyên bố về tên giao ước của Đức Chúa Trời (Xuất 3:14). Câu nói “Ta là” được minh định rõ ràng hơn khi Chúa Giê-su cho rằng Ngài hiện hữu trước Áp-ra-ham, vị quốc tổ của dân tộc Do Thái (Giăng 8:58). Danh hiệu Con Người được dùng để chỉ về Đấng phán xét trong thời đại cuối cùng và Con Người sẽ được vinh hiển qua cái chết của mình. Với sự soi sáng của Đức Thánh Linh Giăng đã ghi lại những sự kiện về Đức Giê-su như là Đấng hoàn toàn ứng nghiệm mọi lời tiên tri trong Kinh Thánh Cựu Ước về Đấng Mê-si-a của người Do Thái. Trong khi đó Giăng cũng cho thấy đa số những người Do Thái, kể cả những giới trí thức và lãnh đạo tôn giáo của họ đã không hiểu rõ về Đấng Mê-si-a trong Kinh Thánh, nhất là về lãnh vực tâm linh và cũng không biết đúng và đầy đủ một số sự kiện về Đức Giê-su nên đã đi đến kết luận sai lầm và nguy hại cho chính bản thân họ cũng như dân tộc họ. Một trong những thiếu sót và sai lầm lớn người Do Thái lúc bấy giờ không hiểu là vấn đề thần tính của Đấng Mê-si-a và vì thế họ càng phản đối mạnh mẽ hơn nữa khi Chúa Giê-su tuyên bố rằng “Ta với Cha là một.” Tóm lại Giăng đã mô tả khá phong phú về Chúa Cứu Thế và minh chứng rằng Chúa Giê-su chính là Chúa Cứu Thế, Đấng Đức Chúa Trời đã hứa sẽ đến để cất tội lỗi của nhân loại đi, đem sự sống vĩnh phúc đến cho ai tin tưởng và nhận biết Ngài. Sự Cứu Rỗi Sự cứu rỗi được mô tả như sự sống vĩnh phúc là từ ngữ phổ thông của Phúc Âm Giăng nhưng không phải là từ ngữ phổ thông trong các Phúc Âm khác. Chúa Giê-su định nghĩa “sự sống vĩnh phúc” cho thấy nhiều yếu tố quan trọng về sự cứu rỗi. “Sự sống vĩnh phúc chính là nhận biết Cha là Đức Chúa Trời chân thật duy nhất và Chúa Cứu Thế Giê-su mà Cha sai đến.”(Giăng 17:3) Sự sống vĩnh phúc là điều gì người ta đang kinh nghiệm ngay hiện tại, không phải là điều chỉ thuộc về tương lai nhưng chắc chắn nó bao gồm cả tương lai vĩnh cửu. Sự sống vĩnh phúc đến với người “nhận biết” thay vì “tin” , “tuyên xưng” như vẫn thường được trình bày trong tất cả các Phúc Âm . Như thế sự cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế cũng bao gồm lãnh vực hiểu biết và hiểu biết không hẵn là trái với “tin”. Vì sự sống vĩnh phúc là sự nhận biết cho nên vấn đề nhận thấy các dấu lạ trở nên cần thiết cho tiến trình đưa đến đức tin thực thụ để dược cứu rỗi. Nhờ nhận thấy những dấu lạ, những lời dạy dỗ, những hành động và đặc biệt là mạc khải tối hậu qua sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-su người ta có thể đáp ứng lại mạc khải thiêng liêng đó và tin Chúa Cứu Thế để được cứu. Người ta có thể tóm lược chủ đề của Phúc Âm Giăng chính là sự sống vĩnh phúc. Mục đích của Phúc Âm Giăng là chọn lọc và trình bày Chúa Giê-su như là Con Đức Chúa Trời đến thế gian để cứu rỗi nhân loại và ai tin nhận Ngài sẽ được sự sống vĩnh phúc. Giăng không giải thích tại sao ông chuộng từ ngữ “sự sống vĩnh phúc” để diển tả sự cứu rỗi của Chúa Cứu Thế nhưng qua Phúc Âm người ta có thể thấy rằng Giăng muốn nhấn mạnh đến “sự sống” tương phản với “sự chết” cũng như “ánh sáng” tương phản với “tối tăm”. Một khía cạnh khác mà người ta có thể thấy qua Phúc Âm Giăng là mối quan hệ và kinh nghiệm cá nhân với Chúa Cứu Thế giữ một vai trò quan trọng nếu không nói là cần yếu trong sự cứu rỗi. Ngoài ra ngay chính từ “vĩnh hằng” (đời đời) cũng nói lên yếu tố vĩnh cửu, vượt thời gian, vô tận của sự cứu rỗi. Giăng cũng thường dùng từ “sự sống” để chỉ “sự sống vĩnh phúc” và muốn nói đến tình trạng phúc lành của người tin nhận Chúa Giê-su làm Chúa Cứu Thế của mình ngay trong đời này lẫn trong tương lai vĩnh cửu. Vào thời đó người Do Thái cũng thường nói đến quan niệm “sự sống phúc lành trong thời đại của Đấng Mê-si-a sắp đến”. Nhưng chính Chúa Giê-su thì lại công bố “sự sống vĩnh phúc ” đang hiện diện trong Con Đức Chúa Trời (5:26) vì Ngài là : Con Đường, Chân Lý và Sự Sống. (Giăng 14:6) Giăng không phủ nhận khía cạnh tương lai của sự sống vĩnh phúc nhưng nhấn mạnh đến thực trạng hiện tại của sự sống và bao gồm cả tương lai vĩnh cửu. Điều quan trọng Giăng cũng như Chúa Giê-su nhấn mạnh cho người Do Thái cũng như cho toàn thế giới là sự sống vĩnh phúc chỉ có được qua trung gian của Chúa Cứu Thế, Con Đức Chúa Trời. Đây là lý do Chúa Giê-su đã khẳng định: “Ngoài ta hay chẳng bởi ta thì không ai đến cùng Cha được.” (14:6) Và sự nhận biết Đức Chúa Trời cũng bao gồm sự nhận biết Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế (Mê-si-a), Đấng Đức Chúa Cha đã sai phái đến trần gian để cứu rỗi nhân loại. (17:3) Phúc Âm Giăng đã trình bày rõ sự kiện này khi ghi lại phản ứng từ khước Chúa Cứu Thế của giới lãnh đạo và đa số dân Do Thái dù họ luôn luôn và hảnh diện công bố rằng họ biết Đức Chúa Trời nhưng Chúa Giê-su đã chỉ cho người Do Thái thấy rằng họ “không biết Đức Chúa Trời” (Giăng 8:54-55) cho nên họ cũng không nghe và nhận biết Ngài, Đấng Cứu Thế mà Đức Chúa Cha đã sai phái đến thế gian. Nhận biết Đức Chúa Trời là nhận biết mạc khải, chân lý thể hiện trong đời sống, trong con người của Chúa Cứu Thế Giê-su, không phải chỉ nhận biết một số sự kiện về Đức Chúa Trời hay về Chúa Cứu Thế. Sự cứu rỗi hay sự sống vĩnh phúc được mô tả trong Phúc Âm Giăng như là sự giải cứu ra khỏi sự đoán phạt và hư mất. Sự cứu rỗi của Đức chúa trời không phải là một điều đặc biệt chỉ dành cho dân Do Thái nhưng dành cho cả nhân loại (Giăng 3:16). Điều này được xác nhận ngay từ lúc khởi đầu chức vụ của Chúa Giê-su khi Ngài giới thiệu và xác nhận chính Ngài là Đấng Mê-si-a của Kinh Thánh và là Đấng Cứu Thế của nhân loại (Giăng 4: 42). Sự cứu rỗi của Chúa đến từ người Do Thái qua Chúa giê-su, một người thuộc chủng tộc Do Thái nhưng dành cho cả thế giới được xác nhận một lần nữa khi Chúa Giê-su ủy nhiệm sứ mệnh giải cứu nhân loại cho các môn đệ của Ngài (Giăng 17:18) như Đức Chúa Cha đã sai phái Ngài đến thế gian. Phúc Âm Giăng nói đến sự cứu rỗi như là đời sống vĩnh phúc bao gồm kinh nghiêïm phúc lành ngay trong đời sống này cho đến vĩnh cửu. Một yếu tố khác khá đặc biệt trong Phúc Âm Giăng là sự cứu rỗi có thể nhận được không những chỉ nhờ tin cậy nhưng cũng nhờ “nhận biết” Đức chúa Trời và Chúa Cứu Thế. Sự nhận biết Đức ChúaTrời cũng liên hệ đến sự nhìn thấy sự mạc khải của Đức Chúa Trời và đáp ứng lại một cách tích cực. Trong khi đó không nhìn thấy mạc khải của Đức Chúa Trời trong con người, đời sống, công việc, lời dạy dỗ của Chúa Cứu Thế sẽ đưa đến việc từ khước Chúa Cứu Thế và không nhận biết Đức Chúa Trời. Trong một phương diện khác sự cứu rỗi tùy thuộc vào mối quan hệ giữa một người và Chúa Cứu Thế và từ đó mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Một người có Con Đức Chúa Trời trong lòng thì cũng có Đức Chúa Trời trong lòng; người nào không có Đức Chúa Con thì cũng không có Đức Chúa Cha. Đức Thánh Linh, Đấng Phù Hộ (An Ủi) Phúc Âm Giăng nói nhiều đến Đức Thánh Linh với các phận sự khác nhau. Giăng làm chứng rằng ông thấy biểu tượng Đức Thánh Linh từ trời giáng xuống đậu trên Chúa Giê-su như chim bồ câu để xác định Ngài là Đấng Cứu Thế. Chúa Giê-su đã truyền rao Lời Đức Chúa Trời với quyền năng vì Ngài “được ban cho Đức Thánh Linh vô hạn.”(Giăng 3:34) Hay nói một cách khác Đức Thánh Linh là nguồn mạc khải toàn hảo. Lời của Chúa Giê-su dạy chính là nguồn mạc khải và sự sống (Giăng 6:63); người nào tiếp nhận mạc khải của chúa sẽ nhận được sự sống và kẻ từ khước mạc khải của Chúa sẽ rước lấy hủy diệt. Chúa Giê-su cho Ni-cô-đem, một người Do Thái trí thức và sùng đạo biết rằng một người phải được sinh trở lại phần tâm linh bởi Đức Thánh Linh thì mới thật sự là con dân Đức Chúa Trời và ở trong Vương Quốc Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh là Đấng tái tạo chúng ta để thích hợp với tình trạng tâm linh và thích ứng với thiên Đàng. Đức Thánh Linh là nguồn nước sống được ban cho những người tin nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của mình. (Giăng 4:10, 13,14; 7:34-39). Đức Thánh Linh là Thần Chân Lý (Giăng 16:13) sẽ nhắc nhở môn đệ những điều Chúa Cứu Thế dạy dỗ họ; điều này cũng bao gồm việc giải nghĩa mọi điều Ngài dạy và Lời Chúa nói chung. Điều này thuyết phục mỗi con dân Chúa học hỏi Lời Chúa (Kinh Thánh) vì Đức Thánh Linh là Đấng dạy dỗ, hướng dẫn, soi sáng cho con dân Chúa hiểu các lẽ đạo căn bản một cách đúng đắn. Lời hứa của Chúa ở đây không dành cho giới chức sắc hay học giả mà thôi nhưng cho mọi tín hữu. Đức Thánh Linh là Đấng phán xét, định tội những kẻ không tin (16:8-11); Từ “Paraclete” mang ý nghĩa của Đấng phù hộ, giúp đỡ con dân Chúa và như người luật sư biện hộ cho tín hữu. (Giăng 14:16) Đức Thánh Linh là Đấng vĩnh hằng; Ngài sẽ đến thế gian và sẽ ngự trong lòng tín hữu và ở giữa hội thánh của Chúa (Giăng 16). Chân Lý Trong bối cảnh của văn hóa và tư tưởng Hy Lạp, chân lý thường biểu tượng cho điều gì là thật trái với giả mạo; thực thể trái với sự phô bày bề ngoài.. Ý niệm sự thật của người Do Thái trong Cựu Ứớc thêm phần trung tín, đáng tin cậy, chắc chắn.. Chân lý là đặc tính của Đức Chúa Trời cho nên Đa-vít trong Thánh Thi 31:5 đã cầu nguyện: Lạy Chúa, Đức Chúa Trời chân thật. Ngoài ra đối với người Do Thái Kinh Luật hay Lời Chúa cũng là chân lý. Trong Tân Ước, đặc biệt là trong Phúc Âm Giăng, chân lý là một ý niệm quan trọng vì Giăng đã dùng nhiều lần từ “chân lý”. Giăng mô tả chúa Giê-su là Đấng “tràn đầy ân sủng và chân lý. Ngài là nguồn ân sủng và chân lý (1:17). Giăng Báp-tít làm chứng cho chân lý và ông cũng làm chứng cho Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời (1:34). Từ “chân lý’ hay “chân thật” được Giăng dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau. Trước hết từ này mang ý nghĩa “nguyên thủy”, “đích thật” trái với “giả mạo”.. Thứ đến từ này thường mang ý nghĩa “đúng”, đáng tin cậy, không phải là “sai, trái”. Ngoài ra Giăng cũng chuyển tải một số phạm trù mới trong từ “chân lý” như ý niệm mạc khải của Đức chúa Trời; ý niệm “quan hệ cá nhân” , không phải chỉ thuần túy trí thức; ý niệm ‘kinh nghiệm trực giác’ thay vì sự kiện khách quan; ý niệm thực thể trong lịch sử (đời sống của Chúa Cứu Thế Giê-su trong lịch sử ) chứ không phải ý niệm trừu tượng. Trong phạm trù ý niệm mới này Chúa Giê-su không phải chỉ là sứ giả của chân lý nhưng Ngài cũng chính là chân lý. Trước giả Giăng cũng ghi lại lời tuyên xưng của Chúa Giê-su: “Ta là ..chân lý..” cho nên người ta có thể kết luận rằng: Chân lý không phải là sự dạy dỗ về Đức Chúa Trời qua sự trung gian hay truyền đạt của Chúa Giê-su nhưng chính là thực thể của Đức Chúa Trời được mạc khải trong Chúa Cứu Thế. Trong ý nghĩa này, khi Chúa Giê-su đối thoại với thống đốc Phi-lát và ông này đã hỏi Chúa Giê-su : Chân lý là gì?(18:38) Câu trả lời là Phúc Âm Giăng, là chính bản chất, cuộc đời, sứ mệnh, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-su. Đây là lý do Chúa Giê-su tuyên bố với người Do Thái mới tin Chúa, “nếu các người kiên trì trong đạo Ta dạy thì các người mới thật là môn đệ Ta. Các người sẽ hiểu biết chân lý và chính chân lý đó sẽ giải phóng các người.”(8:31-32) Hiểu biết chân lý ở đây không hẵn là hiểu một số sự kiện, thông tin về Chúa Giê-su hay Chúa Cứu Thế hay Đức Chúa Trời mà là đi vào một mối quan hệ mới, một kinh nghiệm tự do mới, giải thoát mình ra khỏi án phạt, ra khỏi quyền năng và mặc cảm tội lỗi để tận hưởng mối tương thông, sự hiểu biết Đức Chúa Trời và sống trong sự hiểu biết đó. Hiểu biết chân lý hay hiểu biết Chúa Cứu Thế và trong một ý nghĩa, hiểu biết Đức Chúa Trời không bao giờ là một ý niệm đơn thuần nhưng là một tiến trình lâu dài và phức tạp bao gồm toàn thể sự sống vì thế khi Chúa Giê-su sống lại và về trời ngài hứa sẽ sai Đức Thánh Linh, là Thần chân lý, đến thế gian để tiếp tục hướng dẫn , soi sáng, dạy dỗ con dân Chúa vào mọi lẽ thật hay lẽthật toàn vẹn (16:13). Thực trạng này hoàn toàn đi ngược lại và trái với thực trạng trong thế gian và dưới ảnh hưởng và sự tể trị của Quỷ Vương gian ác vì nó không phải là chân lý và không thể đứng trong chân lý hay cùng với chân lý của Đức Chúa Trời. Chân lý là điều vô cùng quan trọng vì thế Chúa Giê-su tuyên bố rằng chỉ có những người thuộc về chân lý mới nghe tiếng của Ngài và môn đệ Chúa hay những người tin cậy Chúa là những người thuộc về chân lý. Môn đệ của Chúa Cứu Thế là những người được thánh hóa trong chân lý. Người thờ phượng Đức Chúa Trời phải là người thờ phượng trong tâm linh và chân lý, tức là hợp với sự mạc khải trong Chúa Cứu Thế Giê-su. Lời Tuyên Xưng: “ Ta là” hay “Ta hằng hữu” Bảy Lời Tuyên Bố “Ta là”. Qua bảy lời tuyên bố này chúng ta thấy được hình ảnh của Chúa Cứu Thế qua nhản quan của Giăng, môn đệ Ngài yêu mến.
Trong một số lời tuyên xưng khác, Chúa chỉ nói : “Ta là” và không có ‘vị ngữ’ theo sau. Trong một số câu người ta có thể dựa trên văn mạch để xác định ý nghĩa của nó. Ví dụ đang đêm, thuyền các môn đồ đang bị sóng gió giữa biển và họ thấy Chúa Giê-su đi trên mặt biển nên hoảng sợ. Lúc ấy Chúa Giê-su nói: “Ta là, đừng sợ”. Như thế rõ ràng Chúa muốn nói : “Ta đây” hay “chính là ta đây” (Giăng 6:16-21). Tuy nhiên có ít nhất bốn trường hợp vấn đề trở nên phức tạp hơn vì người ta không thể giải nghĩa thỏa đáng một cách đơn thuần rằng cụm từ “Ta là” có nghĩa là “Ta đây”. Nhưng theo bối cảnh Kinh Thánh Cựu Ước, truyền thống Do Thái về tên giao ước của Đức Chúa Trời và mục đích rõ ràng của Giăng khi trước tác Phúc Âm Giăng, những lời tuyên bố này mang ý nghĩa sâu xa hơn là đơn thuần “Ta đây”. Bối Cảnh Cựu Ước Người ta thấy lời tuyên xưng : Ta là thần này, thần nọ.. hay: Ta là đấng đó..là câu thông dụng giữa các thần của các tôn giáo ở Trung Đông. Nhưng không có tôn giáo nào dùng cụm từ :”Ta là” như là một danh hiệu của thần mình như Do Thái giáo . Cụm từ ‘Ta là” với vị ngữ theo sau cũng là một cách dùng thông dụng trong Kinh Thánh Cựu Ước. Nhưng câu chuyện Môi-se hỏi danh tính của Đức Chúa Trời (Xuất Hành 3) là một trường hợp đặc thù của đạo Chúa. Dù Đức Chúa Trời đã nhận diện rằng Ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, của Gia-cốp nhưng Môi-se vẫn cảm thấy chưa đủ, nên ông hỏi thêm danh tính của Ngài và Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho ông biết tên giao ước của Ngài: Ta là Đấng “Tự Hữu Hằng Hữu.” (Xuất 3:13-14) Trong nguyên tác Hy-bá-lai (Hê-bơ-rơ) tên này được viết bằng bốn phụ âm YHWH của động từ “là” hay “hiện hữu” và bản dịch Hy- lạp cổ nhất (bản dịch LXX, Septuagint vào thế kỷ thứ hai TCN) dịch thành “ego eimi ho on” (Ta là Đấng hằng hữu). Tên này trở thành danh hiệu giao ước của Đức Chúa Trời với dân Do Thái. Phúc Âm Giăng ghi nhận rõ Chúa Giê-su đến thế gian để bày tỏ Danh của Đức Chúa Cha cho nhân loại (Giăng 17:6). Chúa Giê-su đã nhân danh Cha để đến với thế gian và thi hành mọi việc trong danh Cha. Trong khi bày tỏ Danh của Đức Chúa Cha cho nhân loại qua đời sống, sự dạy dỗ và nhất là qua chính Ngài trong cương vị Con Đức Chúa Trời, người ta thấy rằng Chúa Giê-su không những chỉ là người truyền mạc khải về Đức chúa Trời nhưng Ngài trong cương vị Con Đức Chúa Trời cũng chính là mạc khải của Đức Chúa Trời. Vì thế khi Chúa Giê-su tuyên bố:
Cuộc đối thoại giữa một người Do Thái trí thức, sùng đạo và Chúa Giê-su được ghi chép trong Phúc Âm Giăng (3:1-15) nói lên bản chất của đời sống tâm linh mà chính Ngài, Con Đức Chúa Trời đang đem đến cho nhân loại, cho những người đã có tôn giáo thờ Đức Chúa Trời và muốn con dân Ngài sở hữu đời sống đó. Thật ra theo lời của Chúa Giê-su nếu một người chưa có kinh nghiệm “ tái sinh” hay “sinh từ thiên thượng” thì không thể thấy, chứ đừng nói đến việc vào trong Nước (Vương Quốc) Đức Chúa Trời. Ni-cô-đem là người quan tâm đến đời sống tâm linh và đã nhận thấy rằng Đức Chúa Trời ở cùng Chúa Giê-su nên Ngài đã có thể thực hiện được những dấu lạ kia. Trong bối cảnh này, Chúa Giê-su bảo Ni-cô-đem: Nếu một người không được sinh lại (hay sinh từ thiên thượng) thì không thể thấy Nước Đức Chúa Trời. Câu trả lời của Ni-cô-đem cho thấy ông hiểu câu nói của Chúa theo ý nghĩa: sinh trở lại lần thứ hai theo phần xác. Như thế Chúa Giê-su có thể muốn nói đến sự sinh lần thứ hai, nhưng không phải theo phần thể xác mà là “nhờ nước và Thánh Linh”, tức là phần tâm linh và như vậy Ngài có ý nói việc sinh lần thứ hai này đến từ thiên thượng. Thế nào là “Sinh nhờ nước và Thánh Linh”? Chúng ta sẽ xem xét một số cách giải thích phổ thông. Thứ nhất, một số người cho rằng “nước” chỉ về lễ báp-tem. Trong bối cảnh của Giăng Báp-tít đang truyền giảng lễ Báp-tem giữa vòng người Do Thái, kêu gọi họ ăn năn để chuẩn bị lòng đón tiếp Đấng Mê-si-a sắp đến, đây là cách giải thích có phần hợp lý. Nhưng lễ Báp-tem của Giăng Báp-tít không bao giờ là điều kiện tiên quyết để trở thành tín hữu của Chúa Cứu Thế, như vậy lễ Báp-tem này phải là lễ Báp-tem theo nghi thức Chúa Cứu Thế. Một lần nữa, khi Chúa Giê-su giải thích về vai trò của Đức Thánh Linh trong sự tái sinh, Ni-cô-đem cho rằng việc này không thể xảy ra được. Nếu chỉ theo nghi thức của Chúa Cứu Thế thì Ni-cô-đem có thể làm được dễ dàng, vấn đề không phải là có thể làm được hay không, nhưng mà là muốn làm theo hay không. Nhưng vấn đề tái sinh là vấn đề tâm linh và Ni-cô-đem không hiểu vấn đề tâm linh cho nên ông cho rằng điều này không thể xảy ra. Nói tóm lại, “nước” ở đây không thể chỉ về lễ báp-tem, dù là báp-tem của Giăng hay báp-tem theo nghi thức Chúa Cứu Thế. Cách giải thích thứ hai cho rằng nước chỉ về sự sinh ra về thể xác và Thánh Linh chỉ về sự sinh ra về tâm linh. Nhưng Kinh Thánh không dùng nước để làm biểu tượng cho sự sinh sản về thể xác. Cách giải thích thứ ba cho rằng “nước và Thánh Linh” là biểu tượng chỉ về sự rữa sạch và thanh tẩy của Đức Thánh Linh. Kinh Thánh Cựu Ước dùng biểu tượng của nước và Thần Linh để nói đến sự đổi mới tâm linh , để ban cho dân Chúa một tấm lòng mới (I-sa 55:1; Giê-rê-mi 2:13; Ê-xê-chi-ên 36: 25-26; 37: 9; Xa-cha-ri 14:8). Đây là ý nghĩa quen thuộc mà một giáo sư Do Thái giáo như Ni-cô-đem có thể quen thuộc và dễ hiểu. Nếu chúng ta xem xét cách Kinh Thánh Tân Ước dùng nước để làm biểu tượng như Phê-rơ đã dùng “Anh chị em đã được tái sinh không phải bởi những hạt giống hư nát nhưng bởi hạt giống không hư nát, là lời hằng sống và hằng còn của Đức Chúa Trời. “(1 Phê-rơ 1:23-25) thì câu nói một người được tái sinh “nhờ nước và Thánh Linh” chỉ về sự đổi mới tâm linh nhờ Lời Chúa hay Phúc Âm và Thánh Linh hành động trong lòng qua đức tin. Sự tái sinh chủ yếu là sự đổi mới phần tâm linh bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-su, Con Đức Chúa Trời và nhờ hành động của Đức Thánh Linh trong lòng người tin. Giăng giải thích rõ ‘Đây là những người không sinh ra theo huyết thống, ý phàm hay ý người, nhưng do chính Đức Chúa Trời sinh thành.” (Giăng 1:13) Chúa Giê-su xác nhận với Ni-cô-đem rằng người được tái sinh là do Đức Thánh Linh sinh ra (Giăng 3:8). Tóm lại tái sinh hay sinh một lần nữa từ thiên thượng là điều cần yếu cho mỗi người để trở thành con dân của Nước Đức Chúa Trời. Tái sinh là một vấn đề tâm linh nhờ đức tin nơi Con Đức Chúa Trời và bởi quyền năng của Lời Chúa và Đức Thánh Linh hành động trong lòng hay trong tâm linh con người. Tái sinh là một vấn đề ý thức cá nhân, kinh nghiệm trực tiếp và hoàn toàn tâm linh. Một người không thể được tái sinh nhờ tri thức tôn giáo, ngay cả tôn giáo thờ Trời như Do Thái giáo. Tái sinh cũng không xảy ra vì một người là thành viên của một cộng đồng giao ước như cộng đồng Do Thái thời bấy giờ. Một người cũng không thể được tái sinh nhờ là hậu duệ hay có huyết thống của một người có đức tin như Áp-ra-ham hay các Sứ Đồ của Chúa Cứu Thế. |