Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Giải Nghĩa Kinh Thánh
Sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi
Giáo Sư Mực Sư Trần Đào
Vietnamese Baptist Theological School
Giới Thiệu
Theo truyền thuyết và văn bản cổ Hy Bá hai sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi vốn là một sách. Các sách giải nghĩa Kinh Thánh Do Thái (Talmud) đề cập đến sách Ê-xơ-ra bao gồm luôn cả Nê-hê-mi.
Origen có lẽ là người đầu tiên vào thế kỷ thứ ba SCN tách rời sách Ê-xơ-ra làm hai Ê-xơ-ra I và II. Bản dịch Vulgate thế kỷ thứ năm gọi hai sách này là Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi.
Tác Giả
Truyền thuyết Do Thái cho rằng Ê-xơ-ra là trước gỉa của Sử Ký và Ê-xơ-ra – Nê-hê-mi . Trên phương diện văn thể, văn phong người ta thấy các sách này có nhiều điểm gống nhau.
Trong hai thế kỷ qua một vài thuyết về trước gỉa của các sách này được đưa ra.
Học giả R.K.Harrison cho rằng Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi là trước gỉa của sách mang tên mình.
Một số đông học gỉa bảo thủ lẫn cấp tiến cho rằng một trước gỉa chung soạn thảo các sách Sử Ký, Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi. Trước gỉa này đã dùng nhiều sử liệu, hồi ký của Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi để soạn thảo các sách.
Theo diễn tiến của sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi và theo truyền thuyết thì Ê-xơ-ra từ Ba-by-lôn trở về Giu-đa trước vào khoảng năm 458 TCN sau đó một thời gian Nê-hê-mi trở về vào khoảng 445 TCN để tái thiết tường thành Giê-ru-sa-lem.
Tuy nhiên trong thế kỷ qua nhiều học giả cho rằng Nê-hê-mi trở về Giu-đa trước Ê-xơ-ra. Để hỗ trợ thuyết này người ta cho rằng số 7 ở câu Êxơ 7:8 nên sữa thành 27 hay 37. Nói chung thuyết cho rằng Nê-hê-mi về trước Ê-xơ-ra có nhiều nan đề hơn là quan niệm truyền thống.
Dù cho rằng Ê-xơ-ra về trước hay sau Nê-hê-mi, đa số các học gỉa cho rằng hai người này sống đồng thời với nhau.
Bối Cảnh Lịch Sử
Vua Nê-bu-cát-nết-xa chiếm Giu-đa, tàn phá Giê-ru-sa-lem và đền thờ vào năm 586 TCN. Đa số giới hoàng gia, quan quân, thợ thuyền Do Thái đều bị lưu đày qua Ba-by-lôn. Những người nông dân còn lại trong xứ tương đối ít và nghèo nàn. Những người này lại chia làm hai phe, một phe chống chính quyền Ba-by-lôn, một phe kia thì muốn thuận phục đế quốc Ba-by-lôn để sống yên ổn.
Phe chống Ba-by-lôn đã ám sát tổng đốc Gedaliah do đế quốc Ba-by-lôn cử nhưng sau đó đám người này phải chạy xuống Ai-cập; trong khi tẩu thoát họ cũng bắt ép tiên tri Giê-rê-mi theo.
Trong khi đó vua Si-ru của Ba-tư đã kết hiệp với người Mê-đi trở thành một lực lượng hùng cường và vào năm 539 TCN vua Si-ru nắm quyền toàn thể đế quốc Ba-tư lẫn Ba-by-lôn.
Vua Si-ru có chính sách cởi mở đối với tất cả các nước trong đế quốc; vua cho phục hồi các thần, các đền thờ địa phương.
Dưới thời vua Đa-ri-út (519-486), đế quốc khá bình an và ổn định.
Vua Xét-xe (486-465) thừa hưởng đế quốc ổn định nhưng trở nên xa xỉ, hoang phí nên đất nước trở nên bất an.
Dưới thời Aùt-ta-xét-xe (465-424), vua phải kiểm soát những cuộc nội loạn trong đế quốc nên khi nghe tin dân Giu-đa tái thiết đền thờ tại Giê-ru-sa-lem vua ra lệnh ngưng công việc.
Thần Học
- Tái xây dựng trung tâm thờ phượng.
Đối với người Do Thái đền thờ là trung tâm thờ phượng Đức Chúa Trời và là nơi dâng tế lễ, đặc biệt là lễ xá tội hàng năm. Không có đền thờ người Do Thái không có cơ hội dâng các tế lễ và đặc biệt là cử hành lễ xá tội cho dân chúng. Đây là một gánh nặng mặc cảm tội lỗi khá nghiêm trọng trong đời sống tâm linh của dân chúng. Ngoài ra tình trạng sống ly hương cũng nhắc nhở họ ề tội lỗi và hình phạt họ đang gánh chịu.
Nếu người Do Thái được phép trở về quê hương, xây lại đền thờ và tổ chức lễ nghi theo truyền thống, thì đây là bằng chứng của sự tha thứ và phục hồi dân Chúa như lời Chúa hứa (Giê-rê-mi 25:11-14). Tuy nhiên chỉ có đền thờ và nghi lễ theo truyền thống bên ngoài mà thôi, người ta có thể vẫn sống trong tội lỗi và vì thế dù đã có đền thờ và ở trong quê hương mình Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi vẫn phải tiếp tục phục hồi, cãi tiến đời sống tâm linh. Sự sống tâm linh tùy thuộc vào mối quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời. Đền thờ, các tế lễ và giao ước là những phương tiện giúp con người xây dựng mối quan hệ tâm linh với Chúa.
Sách Hê-bơ-rơ của Tân Ước cho thấy đền thờ và các tế lễ thời Cựu Ước là biểu tượng của hội thánh và sự cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế. Sự cứu rỗi từ Cựu Ước đến Tân Ước đều căn cứ trên đức tin (Sáng Thế 15:5) và mối quan hệ với Đức Chúa Trời. (Giăng 17:3) Đức tin trong Chúa Cứu Thế là nhịp cầu duy nhất và tốt nhất để nối lại mối quan hệ cứu rỗi đã bị tội lỗi cắt đứt.
- Khải Tượng Tâm Linh
Sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi có thể xem như một sách hồi ký của hai nhân vật quan trọng trong lịch sử dân Chúa thời hậu lưu đày.
Ê-xơ-ra nhận khải tượng trở về quê hương truyền bá Kinh Luật cho dân Chúa xuất phát từ việc chuyên tâm nghiên cứu Lời Chúa
(Êxơ 7:10). Khải tượng tâm linh không phải là một giấc mơ phát xuất từ con người, nhưng là một giấc mơ phát xuất từ lòng sùng kính Chúa và từ việc tìm kiếm Lời Chúa.
- Sùng kính Chúa
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi là những người yêu kính Chúa. Mối quan hệ tâm linh gần gủi, thân thiết của hai người với Chúa dù có bị ảnh hưởng phần nào nhưng không bị cắt đứt vì đền thờ Chúa tại Giê-ru-sa-lem bị phá hủy và vì phải sống lưu đày xa quê hương. Đời sống sùng kính Chúa của hai người này chứng minh hùng hồn cho sự hiện diện khắp nơi của Đức Chúa Trời. Đời sống sùng kính của Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi tại hải ngoại cũng nói lên sự quan trọng và cần yếu của mối quan hệ giữa con dân Chúa và Đức Chúa Trời của họ. Nhờ mối quan hệ gần gủi, thân thiết với Chúa mà Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi nhận được khải tượng từ mạc khải của Chúa cho dân mình.
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi nhận được khải tượng thuộc linh do việc tìm kiếm Lời Chúa (Êxơ 7:10) và khải tượng của họ được Lời Chúa xác định (Nêh 1:9).
- Sống theo Lời Chúa
Dù ở trong cảnh ly hương, trong xã hội ngoại giáo, Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi vẫn cố sống theo Lời Chúa và khao khát sống theo Lời Chúa. Ước vọng trở về quê hương, không phải chỉ để xây dựng đền thờ, tái thiết tường thành Giê-ru-sa-lem, nhưng ước vọng sâu xa và cao quý hơn nữalà để có được một hoàn cảnh chính trị thuận tiện và thích hợp nhất để sống theo Lời Chúa.
Khi Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi nhiệt thành sống theo Lời Chúa ngay trong khi ly hương, sống trong xứ người ngoại đạo, thì có lẽ nào Chúa không cho họ sống theo Lời Chúa trong quê hương mà Ngài đã ban cho tổ tiên và chính họ.
- Sống vì mục đích Chúa
Tình trạng con dân Chúa sống ly hương không phải là tình trạng bình thường và không nằm trong mục đích chính của Chúa. Đức Chúa Trời đã chọn dân Do Thái, ban cho họ một quê hương để họ thờ phượng Đức Chúa Trời, vị Chân Thần duy nhất của nhân loại và truyền bá Chân Thần cho nhân loại. Nhưng họ đã thất bại cho nên đền thờ bị phá hủy, dân chúng bị lưu đày. Nay thời hạn hình phạt đã đủ, Chúa cho phép dân Ngài hồi hương như lời tiên tri Giê-rê-mi đã phán (25:11-14). Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi nghiêm túc sống theo Lời Chúa, dấn thân sống cho mụch đích của Chúa. Khải tượng của họ nằm trong mục đích lớn lao của Đức Chúa Trời cho dân Ngài vì thế Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi được Chúa dùng để hoàn thành chương trình của Ngài.
- Sống cho sự vinh hiển Chúa
Về phương diện thành công vật chất, Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi có thể gọi là những người thành công nơi xứ lạ quê người. Hai người có thể an hưởng vinh hoa phú quý với triều đình Ba-by-lôn. Nhưng hai người đã can đảm xin vua làm những việc khó khăn, nan giải nơi quê hương mình. Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đã hy sinh trở về quê hương nhỏ bé, nghèo nàn để xây dựng, cãi tiến nếp sống vật chất lẫn tâm linh cho sự vinh hiển của Chúa vì họ là dân Chúa. Nê-hê-mi đã cảm thấy đau khổ vì dân Chúa và nước Chúa bị những dân tộc chung quanh khinh khi, chế giễu. (Nêh 1:3) Ê-xơ-ra muốn truyền bá, dạy dỗ dân Chúa Luật của Chúa để họ sống theo Luật của Chúa và được thịnh vượng cả vật chất lẫn tâm linh. Nê-hê-mi muốn xây dựng, củng cố quê hương, dân tộc để làm vinh hiển danh Chúa.
- Mô Hình Phấn Hưng Tâm Linh
Sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi cho thấy Đức Chúa Trời đã hoàn thành lời hứa của Ngài đối với nhóm người ly hương bé nhỏ của dân Ngài. Cơn phấn hưng đã đến với dân Chúa khi họ khao khát hiểu biết Lời Chúa, can đảm thay đổi đời sống theo Lời Chúa và mạnh dạng, nhiệt thành thi hành Giao Ước thánh mà dân tộc họ đã kết ước với Đức Chúa Trời. Nhóm người hồi hương bé nhỏ kia đã sống bình an, phát triển, thịnh vượng và sinh tồn đến 500 năm, cho đến khi Con Đức Chúa Trời, Chúa Cứu Thế đến thế gian.
- Tìm kiếm Lời Chúa
Ê-xơ-ra là người đã chuyên tâm tìm kiếm (nghiên cứu, học hỏi) Lời Chúa từ khi ông còn sống ly hương tại Ba-tư. Ông không những chỉ học hỏi nhưng cũng thực hành Lời Chúa và khao khát, nhiệt thành dạy dỗ Lời Chúa cho dân tộc mình.
Ê-xơ-ra trở về Giu-đa vào năm 458 TCN và toàn dân tụ họp tại quảng trường trước cổng Nước vào năm 444 TCN để nghe Lời Chúa; như vậy Ê-xơ-ra đã truyền bá, dạy dỗ Kinh Luật cho dân chúng đến 15 năm. Toàn dân kiên nhẫn đứng suốt buởi sáng từ năm đến sáu tiếng đồng hồ để nghe đọc và giải nghĩa Lời Chúa chứng tỏ lòng khao khát Lời Chúa của họ.
Niềm vui thiên thượng đã đến với dân chúng khi họ hiểu được Lời Chúa: “Toàn thể dân chúng.. Họ ăn mừng trọng thể vì họ hiểu được những lời truyền dạy cho họ.”(Nêh 8:12)
- Thay đổi đời sống
Cơn phấn hưng đã đến khi dân Chúa bằng lòng ăn năn, từ bỏ con đường tà, thay đổi lối sống sai lầm, tội lỗi để sống hợp với Lời Chúa và đẹp lòng Chúa. Nê-hê-mi chương 9 mô tả tấm lòng ăn năn, sám hối của dân chúng và giới lãnh đạo của họ. Người ta đã cầu nguyện, ăn năn và hứa nguyện gìn giữ giao ước của Chúa.
Không có cơn phấn hưng nào đến với con dân Chúa mà không bắt đầu bằng những lời cầu nguyện khẩn thiết với tấm lòng ăn năn, thống hối của dân Chúa.
- Thi hành Giao Ước
Nê-hê-mi chương 10 ghi lại hành động hứa nguyện và thi hành giao ước của Chúa. Cầu nguyện, ăn năn thống hối là điều tốt nhưng chỉ cầu nguyện mà không thực hành thì tình hình có thể vẫn không thay đổi. Sau khi cầu nguyện, hứa nguyện, toàn thể dân chúng từ giới lãnh đạo đến dân chúng đều nhiệt thành thi hành những điều Kinh Luật dạy.
Phước hạnh đầu tiên đến với dân chúng là niềm vui trong Chúa khi họ vui lòng thi hành Lời Chúa. Khi con dân Chúa vui vẻ vâng phục Lời Chúa, mặc cảm tội lỗi sẽ được cất đi, niềm vui và hy vọng tràn vào tâm hồn cho nên họ trở nên vui mừng, lạc quan.
- An khang, thịnh vượng tâm linh
Lời Chúa hứa trong tiên tri Giê-rê-mi đã được ứng nghiệm đối với nhóm người hồi hương: “CHÚA phán, vì chính Ta biết rõ chương trình Ta hoạch định cho các ngươi. Ta có chương trình bình an thịnh vượng cho các ngươi, chứ không phải tai họa. Ta sẽ ban cho các ngươi một tương lai đầy hy vọng. Khi các ngươi kêu cầu Ta, khi các ngươi đến với Ta và nài khẩn Ta, Ta sẽ nhậm lời các ngươi. Các ngươi sẽ tìm kiếm Ta và gặp được khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng.” Giê 29:11-13
- Mô Hình Lãnh Đạo Thuộc Linh
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi
- Đáp Ứng Lời Kêu Gọi của Chúa
Nhìn chung từ Sáng Thế, từ khi thủy tổ loài người sa ngã cho đến Khải Huyền, thời kỳ tận thế, Đức Chúa Trời đã có sẵn một chương trình an khang phúc thịnh cho con dân Ngài.(Giê-rê-mi 29:11-13) Đức Chúa Trời có quyền và có thể trong tích tắc thực hiện tất cả chương trình của Ngài, nhưng theo ý chỉ thánh, siêu việt và huyền nhiệm của Chúa, Ngài muốn sử dụng con dân Ngài để thực hiện chương trình của Ngài.
Từ giữa nhân loại, Đức Chúa Trời đã kêu gọi và lựa chọn Áp-ram ở Trung Đông để mạc khải cho ông biết về Đức Chúa Trời chân thật và duy nhất. Từ Áp-ram, Chúa kêu gọi và lập lên một dân từ dòng dõi ông để tôn thờ Ngài đúng cách và truyền bá về Ngài, Đức Chúa Trời chân thật cho nhân loại.
Nhìn từ phương diện con người, những người đã đáp ứng lại lời kêu gọi của Chúa và trung tín thi hành sứ mệnh của Ngài là những nhà lãnh đạo xuất sắc, hiệu qủa, thành công và trường tồn.
Qua hai sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi, chúng ta thấy Đức Chúa Trời có chương trình hồi hương, tái lập, xây dựng cộng đồng dân Chúa để chuẩn bị cho Chúa Cứu Thế đến thế gian khai trương một thời đại mới của Vương Quốc Chúa trên đất. Khi Đức Chúa Trời thúc đẩy vua Si-ru ra sắc chỉ cho phép người Do Thái hồi hương xây lại đền thờ cho Đức Chúa Trời, (Êxơ 1:1-4) một số người đã đáp ứng lời kêu gọi này. Những người Do Thái ly hương thấy sắc chỉ này cũng là lời kêu gọi họ hồi hương, xây dựng lại đền thờ, xây dựng lại cộng đồng dân Chúa trên quê hương của mình. Sắc chỉ của vua Si-ru chính là sự ứng nghiệm Lời Chúa đã được tiên tri Giê-rê-mi rao truyền 70 năm trước đây (Giê-rê-mi 25:11-12). Bất cứ một lời kêu gọi nào đều phải được xác chứng hay ứng nghiệm với Lời Chúa (Kinh Thánh) mới là sự kêu gọi đến từ Chúa. Người ta có thể đáp lời kêu gọi của quốc gia, dân tộc, lòng ái quốc (đây là một điều tốt) nhưng nó không nhất thiết là lời kêu gọi của Chúa cho bạn và cho dân tộc của bạn.
Làm thế nào chúng ta có thể biết được một tiếng gọi (Lý Tưởng) nào đó là tiếng gọi của Chúa?
Tiếng gọi đó phải đến từ Lời Chúa (Kinh Thánh), cho công việc của Vương Quốc Chúa và hợp với nguyên tắc, đạo đức và sự dạy dỗ của Lời Chúa.
Người lãnh đạo thuộc linh phải là người tin tưởng Chúa và Lời Chúa, tìm kiếm Chúa và Lời Chúa và sẵn sàng vâng theo Lời Chúa; nhờ thế người đó mới nghe, thấy, hiểu lời kêu gọi thuộc linh của Chúa và đáp ứng lời kêu gọi đó.
Đức Chúa Trời có thể sử dụng bất cứ ai, kể cả những người ngoại đạo như vua Si-ru cho chương trình và mục đích của Ngài. Nhưng người ngoại đạo thường làm vì bị ép buộc hay làm vì quyền lợi và tham vọng của chính họ.
Trong số rất đông những người Do Thái ly hương trong khắp lãnh thổ của đế quốc Ba-by-lôn, chỉ có một số ít người tin kính Chúa và đáp lời kêu gọi của Chúa để trở về quê hương. Những người lãnh đạo hồi hương theo lời kêu gọi của Chúa gồm cả những người lãnh đạo chính trị như Xô-rô-ba-bên, Nê-hê-mi, lãnh đạo tôn giáo như thầy tế lễ Ê-xơ-ra, Giê-sua và một số lớn thường dân.
Đức Chúa Trời ngày nay cũng đang kêu gọi nhiều người lãnh đạo thuộc linh để xây dựng hội thánh và Vương Quốc Ngài giữa mọi dân tộc (trong đó có dân tộc Việt Nam chúng Ta).
Chúa Giê-su phán:
“Mùa gặt thật trúng, nhưng thợ gặt thì ít. Vậy hãy cầu xin Chúa mùa gặt sai thêm thợ gặt vào đồng lúa của Ngài.”
Mat 9:37-38
- Bạn thấy gì giữa cánh đồng Việt Nam ở hải ngoại lẫn Việt Nam hiện nay?
- Bạn có cầu nguyện xin Chúa sai thêm con gặt (môn đệ Chúa) vào đồng lúa Việt Nam của Ngài không? Tại sao có; tại sao không?
- Bạn có phải là một con gặt (môn đệ) của Chúa không?
Bạn có muốn trở thành một con gặt (môn đệ) của Chúa không? Tại sao?
- Bạn có nghe Tiếng Gọi hay Đại Mạng Lệnh của Chúa Giê-su không?
“Vậy, hãy đi làm cho muôn dân thành môn đệ Ta,..”
Mat 28:18-20
Muốn làm cho một người chưa biết Chúa trở thành môn đệ của Chúa, (môn đệ hóa một người chưa biết Chúa) mỗi chúng ta phải là một môn đệ của Chúa Cứu Thế trước đã.
Một môn đệ của Chúa Cứu Thế, (không phải chỉ là người đi lễ nhà thờ), nhưng là người:
- Tin cậy Chúa Cứu Thế (Rô 10:9-10)
- Biết Chúa (Giăng 17:3)
- Giống Chúa (Êph 5:1)
- Vâng lời Chúa (Giăng 15:7-8)
- Muốn hoàn thành Sứ Mệnh Chúa (Mat 28:18-20)
- Sống vì sự Vinh Hiển Chúa trong ngành, nghề, mục vụ Chúa kêu gọi mình. (Gi 17:4; 1Côr 10:31)
- Khải Tượng về Công Việc Chúa
Người lãnh đạo thuộc linh phải là người có khải tượng về công việc Chúa, Hội Thánh Chúa hay Vương Quốc Chúa.
Khải tượng là hình ảnh đã hoàn thành trong tâm trí của người lãnh đạo về một công việc, một mục đích trong chương trình toàn bộ của Đức Chúa Trời.
Khải tượng thuộc linh khác hơn một giấc mơ, tham vọng thế tục ở chỗ khải tượng đến từ Chúa, về công việc của Nhà Chúa, Vương Quốc Chúa, nhờ quyền năng của Chúa và cho sự vinh hiển của Chúa.
Một người phải có đức tin nơi Đức Chúa Trời mới có thể có khải tượng từ Chúa. Tức là thấy được chương trình và biết được mục đích của Chúa trên thế gian, đặc biệt là biết và thấy chương trình Chúa muốn mình tham dự.
Khải tượng xây đền thờ
Những người lãnh đạo dân Chúa ly hương đọc và tin lời tiên tri Giê-rê-mi về 70 năm lưu đày (Giê 25:11) nên khi nghe sắc chỉ của vua Si-ru về việc xây đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, họ thấy được khải tượng hồi hương và xây đền thờ Chúa tại Giê-ru-sa-lem.
“Bây giờ các trưởng tộc của Giu-đa và Bên-gia-min, các thầy tế lễ và người Lê-vi, hết thảy những người nào được Đức Chúa Trời cảm động, đều chuẩn bị đi về Giê-ru-sa-lem xây đền thờ Đức Chúa Trời.” (Êxơ 1:5)
Hai nhà lãnh đạo lớn của những người hồi hương đầu tiên là Xô-rô-ba-bên, một lãnh đạo chính trị và Giê-sua, thầy tế lễ.
Hai người này cùng với một số những người lãnh đạo trong các chi tộc Do Thái bị lưu đày đã đứng lên, hướng dẫn khoảng 50,000 người hồi hương với sứ mạng xây lại đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. (Êxơ 2:64-67)
Sách Ê-xơ-ra (6 chương đầu) cho thấy những người này đã hưởng ứng sắc chỉ của vua Si-ru với niềm tin nơi sự chu cấp, giúp đỡ của Đức Chúa Trời để hoàn thành một công trình lớn lao như thế. Trên hết mọi sự, Đức Chúa Trời là Đấng đã truyền lệnh xây đền thờ (Êxơ 6:14) nên Ngài cũng là Đấng chu cấp, giúp đỡ để hoàn thành nó. Một điểm trước gỉa Ê-xơ-ra trình bày và ghi nhận mà chúng ta cần chú ý là Đức Chúa Trời có thể và có quyền dùng nhiều phương tiện nhân lực, tài lực khác nhau để chu cấp, giúp đỡ dân Ngài hoàn thành khải tượng.
Đức Chúa Trời đã dùng các vua, quan và dân ngoại đạo để giúp dân Chúa thực hiện và hoàn thành việc xây cất đền thờ Chúa.
Đền thờ được xây xong và cung hiến vào năm thứ sáu đơì vua Đa-ri-út (Êxơ 6:15) tức là năm 516 TCN. Nếu sắc chỉ của vua Si-ru truyền vào năm 539 TCN thì những người dân Chúa hồi hương đã phải mất khoảng 23 năm để thực hiện và hoàn thành khải tượng.
Những người lãnh đạo tin vào khải tượng cũng là những người đứng lên, hoạch định những chương trình hoạt động và trung tín thi hành những chương trình đó để hoàn thành khải tượng. Khải tượng mà không có kế hoạch thi hành chỉ là tưởng tượng hay ảo tưởng.
Khải tượng cho Việt Nam
- Bạn có biết và tin vào chương trình cứu rỗi nhân loại của Chúa không? (Sáng12:3c; Giê-rê-mi 29:11; Mat 28:18-20)
- Bạn có tin và thấy rằng chương trình cứu rỗi của Chúa cũng bao gồm dân tộc Việt Nam không?
- Bạn có bao giờ cầu nguyện xin Chúa cứu rỗi những người thân, bạn hữu, dân tộc Việt Nam không
- Bạn có tham gia một chương trình truyền giáo hay giúp tài chánh cho một công cuộc truyền giáo nào không? Tại sao có? Tại sao không?
Khải tượng xây dựng đơì sống tâm linh cho dân Chúa.
Sách Ê-xơ-ra từ chương 7 đến 10 nói đến một cuộc xây dựng khác giữa vòng dân Chúa tại quê hương của họ.
Dân Chúa hồi hương đã có đền thờ, một trung tâm thờ phượng Chúa nhưng đại đa số dân Chúa chưa thông thạo Kinh Luật (Lời Chúa), những định chế để giúp dân Chúa sống đẹp ý Chúa, thành công và thịnh vượng theo đường lối Chúa (Giô-suê 1:8).
Thầy tế lễ Ê-xơ-ra dù sống tha hương nhưng đã chuyên tâm nghiên cứu Lời Chúa, thực hành chúng và dạy Lời Chúa cho dân chúng. (Êxơ 7:10)
Ê-xơ-ra nhận thấy dân Chúa tại quê hương ông có nhu cầu hiểu biết Lời Chúa và sống đúng theo Lời Chúa để có thể thành công và thịnh vượng cả phần thể chất lẫn tâm linh. Vì thế Ê-xơ-ra đã xin vua Át-ta-xét-xe (Ba-tư) trở về quê hương để dạy dỗ dân chúng Kinh Luật của Chúa (Êxơ 7:25). Khi đã được phép Ê-xơ-ra tổ chức và hướng dẫn phái đoàn hồi hương.
Ê-xơ-ra đã kiên trì dạy dỗ Lời Chúa cho dân chúng và đem lại một cơn phấn hưng lớn (Nê-hê-mi 8-13). Cuộc phấn hưng này đã đem lại sức sống tâm linh cho dân Chúa và kéo dài khoảng năm trăm năm cho đến thời Chúa Cứu Thế đến thế gian.
Khải tượng về Lời Chúa và đời sống tâm linh cho tín hữu và hội thánh Chúa người Việt tại hải ngoại cũng như tại quê hương
- Mỗi Tín hữu VN đều có một quyển Kinh Thánh chính xác, dễ hiểu.
- Mỗi tín hữu VN đều có tĩnh nguyện với Lời Chúa mỗi ngày và học hỏi Lời Chúa với nhóm nhỏ mỗi tuần.
- Tín hữu VN cần có một bộ giải nghĩa Kinh Thánh Phúc Âm Thuần Túy (Evangelical) đầy đủ, chính xác, thích hợp với văn hóa VN
- Hội Thánh VN cần có những chính sách thích đáng để khuyến khích tôi con Chúa học hỏi, nghiên cứu Lời Chúa một cách nghiêm túc.
- Hội Thánh VN cần có ngân sách thích đáng để đầu tư vào người nghiên cứu chuyên môn cũng như công tác nghiên cứu Lời Chúa để tìm kiếm một nền thần học VN theo Kinh Thánh.
- Hội thánh Chúa có đi theo đường lối Chúa không?
Khải tượng xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem.
Vào thời cổ tường thành là một phương tiện phòng thủ chiến lược để bảo vệ trung tâm đầu não của một cộng đồng và cả quốc gia.
Người Do Thái hồi hương đã có đền thờ và một số định chế theo Kinh Luật nhưng họ chỉ là một số người thiểu số sống rãi rác trong vùng Giu-đa. Một dân tộc muốn trường tồn cần thiết lập những phương tiện phòng thủ kiên cố , trở nên một cộng đồng có tổ chức chặc chẻ, vững mạnh.
Khi nghe tường trình về tình trạng bi thảm của những người đồng hương sống trong vùng Giu-đa và tường thành Giê-ru-sa-lem đổ nát, Nê-hê-mi, một người Do Thái ly hương đang làm quan trong triều vua Ba-tư, rất đau buồn nhưng đồng thời ông cũng thấy khải tượng xây dựng lại tường thành Giê-ru-sa-lem để bảo vệ và xây dựng cộng đồng dân Chúa bé nhỏ kia. Lời cầu nguyện của Nê-hê-mi cho thấy ông là người tin kính Chúa; tin tưởng lời tiên tri của Chúa(tiên tri Giê-rê-mi) và ông hoàn toàn nương cậy nơí “Đức Chúa Trời vĩ đại” để thực hiện công việc lớn lao và khó khăn này.
Nê-hê-mi đã cầu nguyện xin Chúa thúc đẩy lòng vua Ba-tư để vua cho phép và cung cấp những nhu cầu cần thiết cho chuyến hồi hương và công việc xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem.
Khi lời cầu nguyện đã được nhậm, Nê-hê-mi tổ chức cuộc hồi hương và hoạch định chương trình xây cất tường thành. Bức tường thành Giê-ru-sa-lem được hoàn tất trong một thời gian kỷ lục 52 ngày (Nêh 6:15) nhưng công cuộc xây dựng cộng đồng dân Chúa tiếp tục.
Qua hai sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi người ta thấy một số người lãnh đạo dân Chúa đã được Chúa cho thấy những khải tượng về dân Chúa và vương quốc Chúa. Xô-rô-ba-bên và Giê-sua đã thấy và nắm lấy khải tượng về việc xây dựng đền thờ Chúa và họ đã hoàn thành nó. Ê-xơ-ra nhìn thấy khải tượng về việc dạy Lời Chúa (Kinh Thánh) cho dân Chúa và một cơn phấn hưng đã đến với dân Ngài. Nê-hê-mi được Chúa thúc đẩy xin vua Ba-tư xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem và ông đã hoàn thành nó. Thật ra Nê-hê-mi đã xây dựng tường thành, bảo vệ an ninh cho cộng đồng dân Chúa; nhưng ông và Ê-xơ-ra dạy dỗ dân Chúa sống theo Lời Chúa nên họ trở nên thịnh vượng, vững mạnh và trường tồn cho đến khi Chúa Cứu Thế đến thế gian.
Khải tượng xây dựng một hội thánh và cả dân tộc VN tin kính Chúa, sống theo đường lối Chúa để trở nên thịnh vượng về cả thể chất lẫn tâm linh.
- Nếu bạn là một tín hữu (đang làm việc trong lãnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, xã hội, giáo dục..), bạn có thấy tiếng kêu gọi giúp đỡ dân tộc VN tin kính Chúa và thịnh vượng theo đường lối Chúa không?
- Bạn có tin rằng Chúa có thể sử dụng tất cả mọi người, kể cả người ngoại đạo để xây dựng Vương Quốc Ngài ?
- Hãy xin, sẽ được, hãy tìm , sẽ gặp, hãy gõ, Chúa sẽ mở cửa cho chúng ta hoàn thành khải tượng Chúa ban cho chúng ta.
- Hãy tận hiến đời sống của bạn cho Chúa, Ngài sẽ sử dụng nó cho sự vinh hiển của Ngài.
- Đời Sống Cầu Nguyện
Đời sống cầu nguyện là một phần rất quan trọng và không thể thiếu trong mỗi cá nhân tín hữu lãnh đạo lẫn cộng đồng dân Chúa.
Trước khi xây đền thờ những người lãnh đạo dân Chúa đã xây dựng bàn thờ và thờ phượng Chúa mỗi ngày
(Êxơ 3:1-6). Trong lễ thờ phượng, cầu nguyện là một phần chính. Những người lãnh đạo dân Chúa thời bấy giờ đã thiết lập ngay lễ thờ phượng để chính họ và dân chúng cầu nguyện cùng Chúa.
Một người không có mối quan hệ sâu xa, thân thiết với Chúa không thể có khải tượng thuộc linh, không thể có chương trình, kế hoạch thuộc linh, không thể có năng lực thuộc linh để hoàn thành những mục đích thuộc linh của Chúa cho mình và cho Vương Quốc Chúa.
Ê-xơ-ra là người cầu nguyện:
Cầu nguyện và khải thượng thuộc linh đi đôi vơí nhau từ trong trứng nước, ngay từ lúc khải tượng được hình thành trong lòng người lãnh đạo. Ê-xơ-ra cầu nguyện để Chúa hành động trong lòng vua Ba-tư, một người ngoại đạo. (Êxơ 7:27-28)
Ê-xơ-ra cầu nguyện để mối quan hệ giữa vua và ông được tốt đẹp. Ông cầu nguyện cho mối quan hệ giữa ông và những người đồng hương. Ê-xơ-ra và những người cùng hồi hương với ông cầu nguyện cho việc tổ chức hồi hương và chuyến đi an toàn.
(Êxơ 8:23)
Ê-xơ-ra và những người hồi hương dâng tế lễ cảm tạ Chúa về chuyến đi bình an. (Êxơ 8:35). Ê-xơ-ra cầu nguyện xưng tội cho mình và dân chúng. (Êxơ 9: 5-15)
Đời sống của người lãnh đạo thuộc linh là đời sống cầu nguyện. Họ cầu nguyện cùng Chúa về mọi vấn đề trong cuộc sống, không phải chỉ vấn đề thuộc linh.
Nê-hê-mi là một người DoThái ly hương và đang làm quan trong triều đình vua Ba-tư nhưng ông rất quan tâm đến tình trạng của dân chúng và thành Giê-ru-sa-lem. Khi nghe về tình hình bi đát của dân chúng và tường thành tại Giê-ru-sa-lem, ông đã cầu nguyện, than khóc với Chúa về tình trạng của dân Chúa và tường thành Giê-ru-sa-lem (Nêh1:4).
Nê-hê-mi đã cầu nguyện xưng tội của mình và của cộng đồng dân mình. Ông hứa nguyện ăn năn, quay lại với Chúa và xin Chúa thương xót dân mình. Nê-hê-mi cũng xin Chúa thúc đẩy lòng vua ngoại đạo Ba-tư để vua đồng ý ban cho ông phép và phương tiện trở về xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem (Nêh 1:11).
Chúng ta thấy Nê-hê-mi không những cầu nguyện riêng và trước khi xin vua, nhưng ông cũng cầu nguyện ngay khi vua hỏi ông (2:4). Nói chung Nê-hê-mi lúc nào cũng ở trong tinh thần cầu nguyện và ông cầu nguyện ở mọi nơi.
Nê-hê-mi tiếp tục cầu nguyện trong khi xây thành và cầu nguyện cùng Chúa khi gặp chống đối (Nêh 4:4-5). Nê-hê-mi cùng dân chúng cầu nguyện, sữa đổi cách sống cho hợp ý Chúa. (Nêh 5:13)
Nê-hê-mi cầu nguyện để Chúa thêm sức cho ông và dân chúng tiếp tục hoàn thành sứ mệnh (Nêh 6:9-14). Nê-hê-mi hướng dẫn dân chúng cầu nguyện kết ước với Chúa (Nêh 9). Nê-hê-mi cũng cầu nguyện xin Chúa nhớ đến công việc mình đã làm cho Chúa. (Nêh 13:14, 22,29,31)
Một người không thể là người lãnh đạo thuộc linh của Chúa nếu nguời đó không cầu nguyện với Chúa và cho công việc Chúa.
Một người dù ở cương vị lãnh đạo của tổ chức, cơ quan, giáo hội nhưng thiếu đời sống cầu nguyện, không thể lãnh đạo hữu hiệu và thành công theo ý Chúa.
- Hiện tại, đời sống cầu nguyện của bạn như thế nào?
- Yếu đuối
- Chiếu lệ
- Cố gắng
- Ngọt ngào
- Nhiệt thành
- Bạn cầu nguyện:
- Mỗi ngày
- Thường xuyên
- Thỉnh thoảng
- Khi cần
- Mỗi tuần một lần
- Chỉ cầu nguyện cá nhân
- Chỉ cầu nguyện trong lễ thờ phượng
- Cầu nguyện với nhóm nhỏ, hội thánh
- Bạn cầu nguyện cho những vấn đề:
- Chỉ cho vấn đề thuộc linh
- Chỉ cho vấn đề lớn, khó
- Chỉ cho vấn đề nhà thờ
- Cho mọi vấn đề
- Kế Hoạch Thi Hành
Khải tượng phải có kế hoạch thi hành, nếu không có kế hoạch thi hành, khải tượng kia chỉ là giấc mơ, ảo tưởng. Người có khải tượng nhưng không có kế hoạch thi hành là người mơ mộng viễn vông, không thể là người lãnh đạo.
Xô-rô-ba-bên và Giê-sua
Dù sách Ê-xơ-ra không mô tả chi tiết nhưng để hướng dẫn một cộng đồng khoảng 50,000 người hồi hương và xây dựng đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, Xô-rô-ba-bên và Giê-sua hẵn phải có một kế hoạch chu đáo và đầy đủ. Chúng ta thấy Xô-rô-ba-bên và Giê-sua phải có ít nhất là hai kế hoạch lớn:
Kế hoạch đem 50,000 người hồi hương.
Những vấn đề như nhân sự, thực phẩm, vận chuyển, vệ sinh, sức khẻ, an ninh v.v. Khi về đến Giu-đa, vấn đề định cư cho số người đông như thế cũng là cả một chương trình lớn lao.
Kế hoạch xây đền thờ.
Những vấn đề vẽ kiểu, thiết kế, tài chánh, nhân sự, thợ thuyền, vật liệu, quản đốc.. là những việc đương nhiên phải có kế hoạch, chương trình rõ ràng, thứ tự.
Ngoài ra Ê-xơ-ra cũng ghi lại những khó khăn, chống đối của giới cầm quyền và dân chúng ngoại đạo địa phương. Để vượt qua tất cả những chướng ngại, nan đề này Xô-rô-ba-bên, Giê-sua và những người lãnh đạo phải liên tục thích ứng, điều chỉnh kế hoạch của mình.
Xây đền thờ là một công trình lớn cần nhiều nhân lực, tài lực và thời gian lâu dài để thực hiện cho nên chúng ta thấy những nhà lãnh đạo đã chia kế hoạch lớn này ra làm nhiều mục tiêu nhỏ hơn và thực hiện từng giai đoạn. Người ta đã xây bàn thờ, xây nền đền thờ rồi đến xây cất và hoàn thành đền thờ. Mỗi khi thực hiện xong một mục tiêu người ta cử hành việc thờ phượng, cung hiến nền đền thờ và cung hiến đền thờ để đánh dấu sự thành đạt và kết qủa đồng thời cũng để cảm tạ ơn Chúa đã giúp đỡ ban phước cho họ hoàn thành sứ mệnh.
Trong tiến trình lập và thi hành kế hoạch xây cất đền thờ, Xô-rô-ba-bên và Giê-sua cũng đã tìm kiếm và lắng nghe lời cố vấn của những người tin kính Chúa khác. Những nhà lãnh đạo đã nghe Lời Chúa do tiên tri Ha-gai và Xa-cha-ri rao truyền nên được khích lệ và can đảm tiếp tục công việc cho đến khi hoàn thành.
Ê-xơ-ra
Ê-xơ-ra là một người ly hương nhưng ông đã chuẩn bị, học hỏi và trang bị cho chính mình để trở thành một người “học giả, thông thạo Kinh Luật Môi-se do CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ban truyền.”(Êxơ 7:6)
Người lãnh đạo là người kiên trì học hỏi, không những chỉ có một nền giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp nhưng cũng có khả năng tiếp tục nghiên cứu, học hỏi sau khi rời khỏi ghế nhà trường để thực hành trong trường đời.
Ê-xơ-ra đã xin vua Ba-by-lôn cho ông về quê hương để tổ chức lại hệ thống luật lệ của vua và của Đức Chúa Trời (Êxơ 7:25-26). Ê-xơ-ra là một vị quan trong triều vua (có lẽ tương đương với bộ trưởng) vì thế ông phải có một kế hoạch rõ ràng để trình vua và xin thi hành.
Nhìn một cách tổng quát người ta thấy Ê-xơ-ra là người có khải tượng, mục đích cho đơì sống mình: “Thật vậy, Ê-xơ-ra chuyên tâm nghiên cứu luật pháp Đức Chúa Trời, thực hành và dạy dỗ các đạo luật và quy chế cho dân Y-sơ-ra-ên.” (Êxơ 7:10) và dĩ nhiên là ông cũng có kế hoạch để thực thi và đạt được mục đích của mình.
Nếu chúng ta coi cuộc truyền giảng phấn hưng tại Giê-ru-sa-lem là mục tiêu đỉnh cao của chức vụ của Ê-xơ-ra (Nê-hê-mi 8:1-13) thì ông đã thi hành nhiều kế hoạch để đạt được những mục tiêu nhỏ trước đó.
Mục tiêu cá nhân:
- Người chuyên môn thông thạo Kinh Luật của Chúa.
Chương trình học hỏi, nghiên cứu Kinh Luật đang khi sống lưu đày tại Ba-by-lôn.
- Thực hành Kinh Luật tại Ba-by-lôn.
Làm thế nào để thực hành Kinh Luật của Chúa khi sống tha hương và không có đền thờ.
- Dạy dỗ dân Y-sơ-ra-ên tại Ba-by-lôn.
Lịch sử và truyền thống Do Thái cho thấy Do Thái giáo tại Ba-by-lôn là một truyền thống mạnh mẽ và phát triển, ảnh hưởng sâu xa đến Do Thái giáo cho đến ngày nay.
Mục tiêu cho quê hương:
- Xin phép vua trở về quê hương.
- Chiêu mộ đồng hương trở về quê hương.
- Tổ chức cuộc hồi hương
- Dạy dỗ Kinh Luật cho đồng bào tại quê hương.
- Cải tổ, thiết lập hệ thống luật lệ của vua và của Đức Chúa Trời tại Giu-đa.
Tất cả những điều này phải có kế hoạch chu đáo mới có thể hoàn thành được.
Để thực hiện những mục tiêu trên Ê-xơ-ra phải có những kế hoạch khác nhau về nhiều phương diện:
- Thẩm quyền, pháp lý.
Ê-xơ-ra đã xin phép vua Ba-by-lôn để trở về thiết lập một hệ thống luật pháp của vua và của Đức Chúa Trời cho Giu-đa.
- Nhân sự:
Chiêu mộ dân hồi hương. Tuyển mộ nhân viên.
- Tài nguyên:
Tài nguyên, tài vật để tu bổ đền thờ, thiết lập hệ thống luật lệ tại Giu-đa.
Tiền bạc để huấn luyện, trả lương cho nhân viên..
- Chương trình huấn luyện. Tài liệu, sách vở, các bản sao Kinh Luật.
- Những biện pháp giải quyết những nan đề, trở ngại.
Những biện pháp điều chỉnh chương trình, kế hoạch trong khi thi hành kế hoạch nếu cần.
Hai sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi cho thấy Ê-xơ-ra đã hoàn thành nhiều mục tiêu, cải tổ các nghi lễ, đơì sống tâm linh và ông đã đem lại một cơn phấn hưng lớn cho dân chúng tại Giu-đa (Nêh 8). Truyền thống Do Thái giáo mà Ê-xơ-ra đã cải tổ và xây dựng đã tiếp tục phát triển cho đến thời Chúa Cứu Thế ra đời.
Ngày nay một số giáo sư (rabbis) Do Thái giáo vẫn tự hào rằng họ tiếp nối truyền thống của Ê-xơ-ra.
Nê-hê-mi
Nê-hê-mi cũng là một người Do Thái ly hương nghe lời kêu gọi của Chúa, có khải tượng và cầu nguyện xin Chúa giúp mình thực hiện mục tiêu xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem, cải tổ và củng cố cộng đồng dân Chúa tại Giu-đa.
Kế hoạch chuẩn bị
Từ khi Nê-hê-mi nghe báo cáo về tường thành Giê-ru-sa-lem và dân chúng ở Giu-đa cho đến khi vua hỏi ông là một thời gian dài. Những lời Nê-hê-mi cầu xin vua chứng tỏ ông đã có mục tiêu trong lòng; suy nghĩ, hoạch định rất kỹ lưỡng kế hoạch để thực hiện mục tiêu của mình.
Kế hoạch của Nê-hê-mi bao gồm việc:
- Xin phép, thẩm quyền, pháp lý để thực hiện kế hoạch.
Ông cũng được vua ban quyền cai trị Giu-đa.
- Tài nguyên, nhân lực để thực hiện.
- Tổ chức chuyến hồi hương.
Kế hoạch xây dựng tường thành
- Quan sát và lượng giá tình hình.
- Cổ động và chiêu mộ dân chúng tham gia xây dựng tường thành.
- Kế hoạch động viên tất cả các gia tộc tham gia xây cất tường thành.
- Kế hoạch đối phó với kẻ thù phá hoại.
- Tổ chức phòng thủ, bảo vệ an ninh cho dân chúng trong khi xây cất tường thành.
- Chương trình định cư, tái tổ chức cộng đồng để phòng thủ và bảo vệ an ninh cho thành.
- Chương trình cải tổ đời sống tâm linh cộng đồng.
Một vài đặc tính giúp kế hoạch của Nê-hê-mi thành công. Điều rõ rệt và được nhấn mạnh nhiều nhất trong hai sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi là Đức Chúa Trời của chúng ta là Đấng Chủ Tể quyền năng cai trị thế giới. Chính Đức Chúa Trời giúp các tôi tớ Ngài hoàn thành mục đích của Ngài cho dân Chúa.
- Nê-hê-mi đã hoạch định mọi sự trong sự cầu nguyện. Đức Thánh Linh sẽ soi sáng, hướng dẫn con dân Ngài trong khi hoạch định kế hoạch. Ngưòi ta thường cho rằng người lập kế hoạch là người không nhờ cậy Đức Thánh Linh. Điều này có thể đúng đối với người ngoại đạo, không có Chúa. Tâm trí của con dân Chúa đã được đổi mới; tuy nhiên nhiều con dân Chúa vì bị ảnh hưởng nặng nề của triết lỳ thế tục, khoa học thực nghiệm nên cũng thường hành động, kể cả hoạch định mọi chương trình mà không nhờ cậy Đức Thánh Linh. Nhưng nhiều con dân Chúa dù ở trong địa vị cao, dù rất trí thức nhưng vẫn ý thức rằng họ cần sự khôn ngoan và quyền năng của Đức Thánh Linh nên họ luôn luôn cầu nguyện, nhờ cậy Chúa soi sáng, chỉ dạy họ từng bước, ngay trong khi lập kế hoạch thi hành. Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đã làm điều đó.
- Kế hoạch của Nê-hê-mi có tính cách khẩn cấp, khả thi ngay khi được phép.
- Mục tiêu của Nê-hê-mi là mục tiêu của Chúa nên ông không ngần ngại xin vua Ba-by-lôn cho phép ông thực hiện một việc lớn lao.
Đức Chúa Trời là Đấng vĩ đại và toàn năng, không có gì là qúa lớn và khó cho Ngài. Vấn đề là công việc hay mục tiêu kia có phải là mục tiêu của Chúa, làm vinh hiển Chúa hay không? Nê-hê-mi đã cầu nguyện, tìm kiếm Chúa và biết rõ rằng đây là ý Chúa nên ông không ngần ngại xin vua ban cho ông quyền, tài nguyên, nhân lực để thực hiện, dù nó có vẻ qúa lớn đối với một số người hồi hương.
- Kế hoạch đầy đủ và hữu hiệu.
- Kế hoạch của Nê-hê-mi gồm đầy đủ chi tiết, linh động đủ để đối phó với những bất trắc xảy ra trong khi thi hành kế hoạch. Một công trình lớn lao như thế và trong một hoàn cảnh khó khăn, giới hạn nhưng Nê-hê-mi hoàn thành trong 52 ngày (Nêh 6:15) chứng tỏ khả năng hoạch định và tài tổ chức, lãnh đạo xuất sắc của Nê-hê-mi.
Kế hoạch phát triển hội thánh Việt Nam tại Hoa Kỳ, hải ngoại và quê hương
- Bạn có nghe tiếng kêu gọi của Chúa (Ma-thi-ơ 28:18-20) để môn đệ hóa và xây dựng hội thánh Chúa giữa vòng người Việt ở Hoa Kỳ, hải ngoại và tại quê hương Việt Nam không?
- Nếu bạn tin rằng mạng lệnh của Chúa ở Ma-thi-ơ 28:18-20 cũng dành cho bạn, thì bạn sẽ chuẩn bị, trang bị chính bạn bằng cách nào?
- Bạn có tham gia, hợp tác cùng với mục sư, ban lãnh đạo hội thánh để cầu nguyện, nghiên cứu, tìm kiếm một kế hoạch, một mô hình tốt đẹp, hữu hiệu để hội thánh Chúa tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ ?
- Gương Lãnh Đạo Thuộc Linh
Hăng hái làm việc
Người lãnh đạo là người hăng hái làm việc để hoàn thành mục tiêu mình đã đề ra hay sứ mệnh mình nhận được. Một người có kế hoạch nhưng không thi hành thì kế hoạch kia cũng trở thành vô ích.
Công việc khó khăn.
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi có thể ở lại Ba-by-lôn, sống sung túc, an nhàn cho đến khi về hưu. Nhưng hai người đã không ngại chọn con đường lao khổ, khó khăn ở một xứ thuộc địa nhỏ bé, nghèo nàn.
Công việc cần nhiều công sức, trí óc, kế hoạch chu đáo.
Công việc của Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi không những là công việc khó và lớn lao nhưng hai người phải làm việc trong một hoàn cảnh khó khăn, giới hạn và ngay cả trong sự chống đối nữa. Vì thế chắc chắn công việc này là công việc lao khổ, nhọc nhằn.
Người lãnh đạo giỏi không phải là một người làm việc giỏi, một chuyên viên giỏi mà thôi nhưng là một người:
- biết chiêu mộ, cổ động nhiều người khác đến làm việc để thực hiện mục tiêu chung.
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đã chiêu mộ nhiều người cùng với mình trở về quê hương.
- biết truyền thông rõ khải tượng, mục tiêu của mình để mọi người cùng biết.
Sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi ghi lại rõ khải tượng, mục tiêu hai người định thực hiện và đa số dân chúng đã biết đến khải tượng và mục tiêu nên họ tham gia hoàn thành chúng.
- biết thúc đẩy mọi người làm việc chung.
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đã thúc đẩy được một số đông dân chúng ủng hộ và tham gia thực hiện sứ mệnh lớn lao và khó khăn.
- biết phối hợp, làm việc hài hòa với nhiều người khác để hoàn thành mục tiêu hay sứ mệnh.
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đã làm việc và phối trí mọi công việc một cách tốt đẹp và hữu hiệu. Đặc biệt là Nê-hê-mi, ông đã phối trí, tổ chức mọi công việc cho mọi người cùng làm việc nên đã có thể hoàn tất một công việc khó khăn, lớn lao trong vòng 52 ngày.
- biết đối phó với những trở ngại, khó khăn và chống đối của kẻ thù chung quanh.
Nê-hê-mi đã tổ chức vừa làm việc vừa phòng thủ kẻ thù, bảo vệ an ninh cho dân chúng và người làm việc.
- Thuận Phục Thẩm Quyền
Thẩm Quyền của Đức Chúa Trời
Một người lãnh đạo thuộc linh luôn luôn là người thuận phục thẩm quyền của Đức Chúa Trời trên đời sống mình.
Trong trường hợp của Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi, hai người đều làm quan dưới quyền vua Ba-by-lôn. Các vua Ba-by-lôn đều là những người ngoại đạo, đế quốc Ba-by-lôn cũng là đế quốc ngoại đạo nhưng lúc bấy giờ đang cầm quyền trên khắp cả vùng Trung Đông kể cả nước Do Thái. Nhưng Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi cũng như Phao-lô thấy rằng:
“Mỗi người phải tùng phục các nhà cầm quyền trên mình, vì không có thẩm quyền nào không do Đức Chúa Trời đặt ra, và các nhà cầm quyền hiện có đều do Ngài thiết lập.”
Rô-ma 13:1
Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi và Phao-lô đều thuận phục dưới nhà cầm quyền trong mọi sự ngoại trừ đức tin. Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đều xin phép vua trở về quê hương và trình chương trình xây cất đền thờ, tu bổ đền thờ, cải cách luật lệ, xây dựng đời sống tâm linh cũng như xây cất tường thành Giê-ru-sa-lem lên cho vua.
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời nhưng cũng chịu trách nhiệm trước mặt các vua lúc bấy giờ.
Ngày nay người ta thấy một số người lãnh đạo độc tài đã lạm dụng quyền tôn giáo để đàn áp những người khác niềm tin; trong khi đó cũng có một số người lạm dụng quyền tôn giáo để chống đối chính quyền.
Thẩm Quyền của Lời Chúa (Kinh Thánh)
Ngoài ra chúng ta thấy Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi cũng thuận phục thẩm quyền của Kinh Thánh hay Lời Chúa. Ê-xơ-ra được phép của vua để thiết lập và thi hành không những luật của vua nhưng cùng lúc cũng thiết lập và thi hành luật của Chúa. (Êxơ 7:25-26) Nê-hê-mi đã mời Ê-xơ-ra giảng dạy Kinh Thánh cho toàn dân.
Ngày nay đây là một nan đề giữa hội thánh Chúa nói chung; một số lớn những nhà lãnh đạo tôn giáo ở các nước Tây Phương không còn tin vào thẩm quyền của Lời Chúa(Người ta không còn tin Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời có thẩm quyền tối cao trên đức tin và đơì sống) cho nên hướng dẫn con dân Chúa sống và hoạt động theo truyền thống hay những nguyên tắc thế tục. Hậu qủa nghiêm trọng là nền đạo đức trong xã hội và ngay cả giữa vòng các tín hữu cũng suy đồi, hội thánh Chúa sa sút, ngưng phát triển và thiếu sức sống tâm linh sinh động.
- Ngay thẳng, thành thực (Integrity)
Người lãnh đạo cần có một đời sống ngay thẳng, thành thật và không tham lam.
Động lực mạnh mẽ nhất để giúp một con dân Chúa sống thành thật, ngay thẳng và không tham lam là sự kính sợ Chúa. (Nêh 5:15)
Người tham lam, lợi dụng quyền thế hay lợi dụng kẻ khác sẽ không thể tồn tại lâu, vì trong xã hội có biết bao nhiêu người ham muốn tiền bạc giàu có và mong được quyền thế, nên khi có quyền thế, người ta sẽ không ngần ngại lật đổ kẻ đang cầm quyền để nắm quyền và dùng quyền để trục lợi.
Nê-hê-mi không những không lợi dụng quyền thế để thâu trữ tiền bạc của dân nhưng ông đã không nhận bỗng lộc dành cho tổng trấn.
Chính Nê-hê-mi và gia nhân của ông cũng đóng góp thì giờ, công sức và tiền bạc cho công việc xây cất tường thành như tất cả mọi người khác.
Nê-hê-mi và gia nhân của ông cho người thiếu thốn mượn tiền bạc và thóc lúa nhưng không lợi dụng tình cảnh túng thiếu để lấy lời thật nặng.
Nê-hê-mi có một đời sống trong sạch; mọi hành động của ông và gia nhân đều minh bạch, rõ ràng; không có điều gì nghi ngờ, mờ ám trong mọi cách hành xử và giải quyết công việc. (Nêh 5:1-19)
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi là những người đã lãnh đạo bằng cách làm gương trong đơì sống của chính họ. Đời sống thành thật, ngay thẳng và không tham lam là cách lãnh đạo tốt đẹp và bền vững vì nó không những chỉ động viên những người khác xâydựng cơ sở vật chất (Tường thành) nhưng xây dựng những đời sống tốt đẹp, thánh thiện và đẹp lòng Chúa; đó là nên tảng vững chắc để trường tồn.
Trong lịch sử nhân loại, nhiều triều đại Trung Hoa đã không sụp đổ vì Vạn Lý Trường Thành bị phá hủy nhưng vì sự tham ô của quan lại canh gác tường thành và tham nhủng ngay trong triều vua.
Một số xã hội tân tiến ngày nay suy đồi không phải vì thiếu vũ lực hay chiến tranh nhưng vì tham nhủng tràn lan trong giới lãnh đạo các cấp.
Cộng đồng dân Chúa tại Giu-đê trong thời Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi là bé nhỏ và yếu kém về phương diện quân sự. Cộng đồng này đã trở nên thịnh vượng và trường tồn gần 500 năm không phải vì bức tường thành Nê-hê-mi đã xây nhưng nhờ đời sống của dân chúng đã được xây dựng trên cơ sở Lời Chúa và lòng kính sợ Chúa mà những người lãnh đạo như Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi đã làm gương.
- Sẳn Sàng Đối Diện với Thủ Đoạn của Kẻ Thù
Lái thuyền khi sóng yên biển lặng tương đối dễ, ông thuyền trưởng nào cũng có thể làm được. Lái thuyền vượt đại dương trong phong ba bảo táp nhưng vẫn lèo lái con thuyền không bị chìm, không lạc hướng và đi đến đích mới là thuyền trưởng đại tài.
Trong số những kẻ thù chúng ta thấy có ba kẻ thù chính:
- Kẻ thù bên ngoài:
- Những kẻ thù công khai.
Kẻ thù bên ngoài bao gồm những người đồng lao khác lý tưởng. Trong triều đế quốc có biết bao nhiêu người thuộc nhiều chủng tộc khác, tôn giáo khác và dĩ nhiên là lý tưởng khác nhau. Những người này có thể là những lực lượng chống đối khó vượt qua. Nhưng Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đều được Đức Chúa Trời hướng dẫn, giúp đỡ và chính Ngài thúc đẩy vua Ba-tư chuẩn nhận khải tượng cũng như kế hoạch, chương trình hoạt động của hai người này. Vì thế khải tượng của một người phải là khải tượng đến từ Chúa và Lời Chúa.
Hai nhà lãnh đạo Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi không những đã khôn khéo thuyết phục được sự đồng ý, chấp thuận của vua và cả triều đình nhưng họ cũng được chính Đức Chúa Trời hỗ trợ, hướng dẫn. Chính Đức Chúa Trời cảm động và thúc đẩy vua Ba-tư làm việc này(Xây đền thờ và tường thành Giê-ru-sa-lem).
Những kẻ không có cùng quyền lợi, như các thống đốc các tỉnh phía Tây sông lớn (Ơ-phơ-rát) vì không hưởng được quyền lợi gì cho mình, cho tỉnh của mình nên có thể sẽ chống đối. Một số khác vì ganh tị, ghen ghét nên sẽ chống đối.
Những quan quân và dân chúng ngoại đạo địa phương là những thành phần bị thiệt hại và sẽ bị yếu thế nếu người Do Thái thành công trong các công tác này cho nên họ sẽ chống đối.
Chúng ta cũng nên nhớ rằng kẻ thù của Chúa và của chúng ta là ma qủy không bao giờ để chúng ta yên ổn thực hiện kế hoạch, xây dựng Vương Quốc Chúa.
- Kẻ thù bên trong
Nhiều người không chống đối công khai nhưng chúng âm thầm rỉ tai, kéo phe kéo đảng chống đối. Đây là trường hợp một số người quyền quý trong dân Do Thái thông đồng với những người ngoại chống đối chương trình của Nê-hê-mi.
Một số người Do Thái chống đối bằng cách không tham gia, hợp tác. Điều này sẽ xảy ra trong bất cứ một cộng đồng nào. Ê-xơ-ra cũng như Nê-hê-mi biết chắc rằng mình nắm chính nghĩa, có Chúa chứng nhận và hỗ trợ và khi được đa số dân Chúa hỗ trợ, họ cứ tiến bước.
Công cuộc truyền giáo ban đầu được ghi lại trong sách Công Vụ là một cuộc truyền giáo thành công vĩ đại nhưng không phải vì thế mà không có những khó khăn, thách thức và chống đối.
Những nan đề trong thời Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi:
- Kẻ thù khinh bỉ, chế giễu.
- Xúc phạm đến cá nhân, cộng đồng và Chúa.
- Đe dọa tấn công
Để chống lại những nan đề này các lãnh đạo đã cầu nguyện cùng Chúa, trình dâng tất cả lên Chúa và xin Ngài hướng dẫn, giúp đỡ và bảo vệ.
Nê-hê-mi cổ động dân chúng tiếp tục làm việc.
Nê-hê-mi đã tổ chức phòng thủ. Nê-hê-mi đã động viên dân chúng vừa làm việc vừa vũ trang phòng thủ và bảo vệ an ninh cho công nhân. Nê-hê-mi đã tổ chức một kế hoạch phòng thủ và trừ bị vô cùng xuất sắc.
- Kẻ thù trong chính mình:
Ngoài kẻ thù bên ngoài, nhiều khải tượng, chương trình lớn lao đã phải thất bại vì những nan đề từ trong chính bản thân của những người lãnh đạo lẫn dân Chúa.
- Tội lỗi là nguyên nhân chính của mọi thất bại nơi một người lãnh đạo hay con dân Chúa. Tội lỗi thông thường là vấn đề đạo đức như sắc dục, tiền bạc, danh lợi.
Một tội lỗi khác âm thầm, kín đáo nhưng cũng không kém phần tai hại là “vô tín”. Một người có thể ở vị thế lãnh đạo nhưng không có đức tin vì thế không thể hướng dẫn dân Chúa hay cộng đồng dân Chúa tiến bước và hoàn thành sứ mệnh Chúa giao. Chúa Giê-su đã phán:
“Người nào tin Ta, thì cũng sẽ làm những việc Ta làm, và còn làm những việc vĩ đại hơn nữa.” Giăng 14:12
- Chán nản:
Chán nản vì mệt mỏi, vì công việc tiến hành chậm chạp, vì nhiều nan đề, vì bị chê bai, chỉ trích.. hậu qủa có thể làm người ta làm việc cầm chừng, lấy lệ cho qua ngày. Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi phải đối diện với nhiều nan đề, chống đối và trì trệ nhưng họ đã biết giao cho Chúa, nhờ cậy Chúa và vì họ tin chắc rằng đây là công việc của Chúa cho nên họ vững tin rằng nó sẽ hoàn thành.
Kinh Thánh Tân Ước cũng đã xác nhận chân lý này, điều gì Chúa đã khởi xướng Ngài sẽ hoàn thành:
“Tôi tin chắc điều này, Đấng đã bắt đầu làm một việc tốt lành trong anh chị em cũng sẽ hoàn thành việc đó cho đến ngày của Chúa Cứu Thế Giê-su.” Phil 1:6
- Bỏ cuộc:
Hậu qủa nghiêm trọng nhất của sự chán nản là bỏ cuộc, cam nhận thất bại. Bỏ cuộc là hành động bảo đảm cho thất bại. Vì thế không bao giờ bỏ cuộc. Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi không bỏ cuộc dù gặp chống đối, nan đề, phá hoại nên họ đã hoàn thành sứ mệnh Chúa giao cho họ.
Một trong những lý do giúp cho người ta không bỏ cuộc là ý thức rằng công việc là công việc của Chúa,không phải công việc của cá nhân tôi, vì thế chúng ta phải trung tín thi hành để hoàn tất. Dù chúng ta có thề không hoàn tất công việc nhưng cũng hoàn tất trách nhiệm để chuẩn bị, xây đường cho những người khác tiếp tục hoàn thành sứ mệnh cho Chúa.
- Đời Sống Gương Mẫu
Đời sống của Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi là những đơì sống gương mẫu về phương diện thuộc linh, đạo đức lẫn hành động công chính.
Ê-xơ-ra không những chỉ chuyên tâm nghiên cứu Lời Chúa nhưng ông cũng chính mình thực hành Lời Chúa rồi mới dạy lại cho dân chúng. Nê-hê-mi cũng như thế, ông và gia nhân của ông đều tham gia công tác xây dựng tường thành, phòng thủ cộng đồng. Nê-hê-mi không những không nhận phụ cấp từ dân địa phương như những tổng đốc khác đã làm, nhưng ông và gia nhân đóng góp xây dựng tường thành, bỏ tiền túi ra giúp đỡ người nghèo.
Những kẻ thù của Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi sẽ rất vui nếu họ khám phá ra một vài lỗi lầm của hai nhà lãnh đạo này nhưng họ không tìm thấy.
Thật ra chúng ta thấy những kẻ thù của Nê-hê-mi gài bẩy để ông, một thường dân vào nơi thánh trong đền thờ (chỉ dành cho thầy tế lễ), như thế sẽ phạm quy luật đền thờ, nhưng ông đã thấy rõ âm mưu này và tránh khỏi.
Về phương diện tiền bạc, Nê-hê-mi là một vị quan thanh liêm, không lợi dụng, bóc lột dân chúng, trái lại ông đã khiển trách những người giàu có, quý tộc Do Thái lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, cho vay nặng lãi và tịch thu tài sản của dân để cấn nợ.
Người thanh liêm, chính trực và có lương tâm bình an sẽ tự tin trong khi đối diện với mọi người và kẻ thù. Một người sống trong sạch, quang minh thì sẽ không nói hai lời, không sống hai mặt và do đó sẽ không lo sợ bị lật tẩy, phơi bày những điều xấu xa của mình.
Một đời sống đạo đức gỉa và bề ngoài sẽ không làm gương tốt cho người khác vì sớm muộn gì người ta cũng sẽ thấy lối sống gỉa tạo, phát giác mặt trái hay những hành vi vô đạo đức kín dấu của người đó.
Lòng yêu thương của Nê-hê-mi đã được thể hiện một cách rõ ràng trong hành động giúp đỡ kẻ nghèo, không cậy quyền áp chế dân và lo cho phúc lợi, sự an khang thịnh vượng của mọi người dân.
Người lãnh đạo trong Chúa từ thời Cựu Ước cho đến Tân Ước đều theo nguyên tắc lãnh đạo bằng đời sống gương mẫu và phục vụ.
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đều là những vị quan của đế quốc Ba-by-lôn; họ được quyền cai trị dân như những vua chúa, quan quyền thời đó nhưng cả hai, nhất là Nê-hê-mi đã không cai trị như quan tổng trấn khác. Nê-hê-mi đã hết lòng phục vụ dân chúng về đủ mọi phương diện, cả vật chất lẫn tâm linh. Ông hy sinh cả quyền lợi lẫn tiền bạc để phục vụ và giúp đỡ dân chúng.
Câu Hỏi Suy Gẫm:
- Tại sao một số người không dám xưng nhận rằng mình tin và thờ Chúa Cứu Thế?
- Can Đảm
Khả năng lãnh đạo bao gồm lòng can đảm để bảo vệ người theo mình; can đảm để đối diện vói kẻ thù và giải quyết mọi nan đề trong cộng đồng, xã hội.
Ê-xơ-ra đã can đảm đứng lên xin vua ngoại đạo áp dụng Luật Chúa cho dân mình và cãi tổ luât lệ cho hợp với Lời Chúa và dạy dỗ Kinh Luật cho dân chúng.
Nê-hê-mi đã can đảm xin vua về sữa chữa tường thành trước sự chống đối của các tổng trấn địa phương và dân chúng ngoại đạo địa phương.
Nê-hê-mi đã can đảm tiếp tục công việc cho đến khi hoàn thành.
Nê-hê-mi đã can đảm đối diện với những kẻ chống đối dù những lực lượng thù nghịch đông đảo hơn.
Nê-hê-mi đã can đảm tiếp tục công việc cho đến khi hoàn tất dù bị những kẻ thù đe dọa nhiều lần.
Nê-hê-mi đã can đảm đối đầu với những kẻ thù. Nê-hê-mi đã nhờ cậy Chúa và được ơn của vua nên có thể đối đầu với những kẻ thù dù cộng đồng Do Thái tại Giu-đê nhỏ bé, ít người so với những dân tộc khác trong vùng.
Nê-hê-mi đã can đảm sống thanh liêm, chính trực dù những người lãnh đạo Do Thái sống theo truyền thống, thế tục.
Nê-hê-mi đã can đảm cãi cách đạo đức cho dân dù một số người lãnh đạo dân và gia đình họ cũng đang vi phạm đạo đức, lợi dụng tình thế cho vay nặng lãi, bóc lột dân chúng.
Những người quý tộc cũng bắt người Do Thái làm nô lệ cho họ để cấn nợ, đây là một điều Kinh Luật cấm.
Nhiều người vì sợ đụng chạm, mích lòng, nhất là đối với những người có địa vị nên không dám nói sự thật và tìm cách đi vòng, tránh né nan đề. Tình trạng này sẽ làm cho nan đề cứ tồn tại và gia tăng cho đến khi đổ vỡ, gây thiệt hại nặng nề cho đương sự lẫn cộng đồng.
Nê-hê-mi đã can đảm để giải hòa với anh em mình. Giải hòa là đường lối tốt đẹp nhất và cần sự can đảm, khiêm nhường và yêu thương, không phải là thái độ đắc thắng về mọi mặt.
Câu Hỏi Suy Gẫm:
- Những điều gì giúp Nê-hê-mi không sợ những kẻ thù?
- Những lý do gì khiến nhiều người sợ, không dám phục vụ Chúa?
- Tại sao nhiều người tín hữu gặp khó khăn, bị bắt bớ nhưng vẫn không bỏ Chúa?
- Cương Quyết
Cương quyết là một đức tính cần thiết đối với người lãnh đạo. Người lãnh đạo cần quyết tâm và đầy lòng thuyết phục về mục đích cũng như đường lối hành động. Người lãnh đạo mà bất nhất trong mục đích và chính sách sẽ làm cho người khác bối rối, không biết đâu mà theo. Kẻ bỏ cuộc là người thất bại và không thể lãnh đạo ai cả.
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi biết rõ mục đích của mình, được thuyết phục về mục đích đó, biết chắc rằng mục đích đó đến từ Chúa và đẹp lòng Chúa cho nên nhất quyết thi hành nó.
Một trong những yếu tố giúp nguời lãnh đạo cương quyết thi hành và hoàn tất sứ mạng là người đó biết rõ mình đang dự phần trong chương trình vĩ đại của Chúa. Như thế người lãnh đạo sẽ cương quyết thi hành dù bị thách thức, trở ngại trước mặt vì biết rằng Chúa sẽ giúp sức hoàn tất nó.
Ê-xơ-ra cương quyết thi hành và dạy dỗ dân Chúng Do Thái Luật Pháp của Chúa dù ông phải mất nhiều năm để thực hiện điều này. Ê-xơ-ra đã không chán nản, bỏ cuộc nên ông đã đem lại cơn phấn hưng lớn cho dân Chúa (Nê-hê-mi 8-13)
Nê-hê-mi cũng cương quyết xây thành Giê-ru-sa-lem dù bị chống đối, đe dọa phá hoại và âm mưu hảm hại chính cá nhân ông. Nê-hê-mi không những tái xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem (Nêh 12:27-43) nhưng ông cũng xây dựng cộng đồng dân Chúa trở nên tốt đẹp hơn.
Ngày nay mỗi chúng ta nên noi gương Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi, hãy tham gia vào chương trình cứu rỗi vĩ đại của Chúa. Nếu chúng ta cương quyết thi hành Đại Sứ Mệnh của Chúa Cứu Thế (Mat 28:18-20), chúng ta sẽ có thể nói vào ngày Chúa Cứu Thế tái lâm như Chúa đã nói,
“Con đã tôn vinh Cha trên đất, đã hoàn tất công việc Cha giao cho con làm”. Giăng 17:4
Câu Hỏi Suy Gẫm:
- Một trong những điều quan trọng người cương quyết không bao giờ làm là gì?
- Những động lực nào giúp một người trở nên cương quyết hơn?
- Bạn có đang tham gia vào chương trình lớn lao của Chúa không? Tại sao có, tại sao không?
- Tôn Vinh Chúa
Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi là những người muốn sống để tôn vinh Chúa, không phải tìm kiếm quyền lợi hay danh vọng riêng tư. Vì nếu tìm kiếm quyền lợi hay danh vọng riêng tư hai người có thể ở lại làm quan trong triều vua Ba-by-lôn và an hưởng vinh quang phú quý của đế quốc. Nhưng Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đã không làm như thế, họ tìm kiếm ý Chúa và chương trình của Chúa để thi hành.
Ngay khi Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đã trở về quê hương, hai người cũng có thể dùng quyền của vua để cai trị dân theo ý mình và tận hưởng mọi quyền lợi vua ban.
Đối với những người chỉ muốn tận hưởng quyền lợi, mong an hưởng vinh quang phú qúy, Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi sẽ dễ dàng thỏa hiệp, đồng hóa với quan, dân địa phương để duy trì địa vị và an hưởng lợi lộc.
Ê-xơ-ra cố gắng truyền bá, dạy dỗ Kinh Luật của Chúa để dân Chúa sống đúng theo Lời Chúa và làm điều đẹp lòng Chúa. Khi dân Chúa vui mừng sống theo Lời Chúa, đây là cách tốt nhất để tôn vinh Chúa.
Nê-hê-mi nhìn thấy tình trạng đổ nát và bại hoại của thành Giê-ru-sa-lem vì thế dân Chúa và thành Chúa bị dân ngoại chê bai, chế giễu. Ông muốn xây dựng lại tường thành và xây dựng cộng đồng dân Chúa tại đây vững mạnh, phồn thịnh để thờ phượng Chúa, như thế dân ngoại sẽ không còn chê cười dân Chúa và coi thường Chúa của họ.
Trong khi xây dựng thành Giê-ru-sa-lem, Nê-hê-mi đã chiến thắng mọi thách thức, đe dọa từ kẻ thù và vì thế ông và dân Chúa đã tôn vinh Chúa khi hoàn thành tường thành Giê-ru-sa-lem. Lễ cung hiến tường thành là một dịp tôn vinh Chúa và danh Chúa được tôn vinh trong cả một vùng.
Câu Hỏi Suy Gẫm:
- Những điều gì phân biệt một người tìm kiếm quyền lợi riêng tư và tìm kiếm ý Chúa.
- Người tìm kiếm vinh quang Chúa không thể được vinh quang của trần gian?
- Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi có vinh quang của thế gian không? Hãy nêu lên những lý do khiến chúng ta biết rằng hai người này tìm kiếm vinh quang cho Chúa?
|