Bài 27 - 29
Chân Lý Giải Phóng
Giăng 8:31-59
I.Lược Giải Bối Cảnh
Tự do thật trong tâm linh
Chúa Giê-su dạy về sự tự do thật về tâm linh ở trong Ngài mà ngay cả đa số người có tôn giáo, dù là tôn giáo thờ Trời như Do Thái giáo vẫn chưa có. Chúa Giê-su nói đến một vài yếu tố căn bản để tâm linh chúng ta được giải phóng thật sự:
1/ Đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Nhờ đức tin nơi Chúa Cứu Thế chúng ta được ân xá mọi tội lỗi, được trở thành con cái Đức Chúa Trời (Giăng 1;12), được vào tiến trình thánh hóa để trở nên thánh thiện, đạo đức hơn và được chuyển từ chỗ tối tăm qua ánh sáng vinh quang của Chúa.
2/ Kiên trì: Trung tín ở trong đức tin và đường lối Chúa cho đến cùng. Bỏ cuộc giữa đường là dấu hiệu của vô tín. Trung tín, kiên trì trong Đạo Chúa cho đến cùng là bằng chứng của đức tin thật.
3/Đạo Ta: Lời dạy dỗ của Chúa; triết lý sống của Chúa; quan niệm sống của Chúa.
4/ Môn đệ của Chúa: Học trò không những chỉ học hỏi những kiến thức từ Chúa Cứu Thế nhưng sống theo quan niệm sống, mục đích và lý tưởng sống của Chúa.
5/Chân lý: Chúa Giê-su là chân lý (Giăng 14:6); Lời Chúa là chân lý (Thi 119:142).
Chỉ có Chúa Cứu Thế Giê-su và Lời Chúa (Kinh Thánh) mới có đủ năng lực để giải thoát tâm linh tội lỗi, bệnh hoạn, chết chóc của loài người trở thành tâm linh sống.
Chúa Giê-su không những đã tha thứ cho chúng ta nhưng sự sống mới của Ngài và Lời Chúa ban cho chúng ta quyền năng chiến thắng, đổi mới con người, bản chất tội lỗi cũ.
Mối quan hệ thiên thượng
Chúa Giê-su nói đến đức tin nơi Ngài sẽ tạo một mối quan hệ tâm linh mới với Đức Chúa Cha. Loài người dù có tôn giáo, dù là dòng dõi huyết thống của người có đức tin như Áp-ra-ham, vẫn không có mối quan hệ thiên thượng với Đức Chúa Trời cho đến khi tin Chúa Cứu Thế.
Vì lòng của đa số người Do Thái lúc ấy không có chỗ cho lời dạy dỗ của Chúa Cứu Thế nên họ không có ánh sáng, không có chân lý và không có mối quan hệ với Đức Chúa Trời; hậu quả là họ không có sự sống vĩnh phúc và sẽ chết trong tội lỗi của mình.
Người chưa được Chúa Cứu Thế giải thoát ra khỏi quyền năng của tội lỗi đều nằm dưới quyền thống trị của Quỷ Vương hay Sa-tan và các ma quỷ bộ hạ của nó.
Người Sa-ma-ri: Người Sa-ma-ri là một số nhỏ dân Do Thái còn sống sót sau thời lưu dày và đã bị pha trộn với các dân ngoại quốc do các đế quốc đem đến vùng Sa-ma-ri sinh sống. Người Do Thái chính thống coi người Sa-ma-ri là dân không thuần khiết cả về chủng tộc lẫn tôn giáo vì thế người Sa-ma-ri bị khinh rẽ và đối xử như người ngoại quốc và ngoại đạo.
Sau này Phao-lô dạy các tín hữu tại Rô-ma rằng người có đức tin nơi Chúa Cứu Thế là dòng dõi thuộc linh của Áp-ra-ham (Rô-ma 4:16).
Chúa Giê-su cho thấy người thuộc về Đức Chúa Trời sẽ có một số đặc tính:
1/ Nghe theo Lời Đức Chúa Trời . Người thuộc về Đức Chúa Trời sẽ nhận ra đâu là Lời của Chúa, đâu là ý của phàm nhân. Nghe Lời Chúa cũng có nghĩa là hiểu được Lời Chúa, hiểu vấn đề tâm linh.
2/ Người thuộc về Đức Chúa Trời sẽ vâng giữ Lời Chúa hay Đạo Chúa.
3/ Người thuộc về Đức Chúa Trời có sự sống vĩnh phúc, tức là tâm linh được sống.
4/Người thuộc về Đức Chúa Trời biết Đức Chúa Trời.
5/Người thuộc về Đức Chúa Trời nhận ra Chúa Cứu Thế Giê-su là Đấng hằng hữu.
II.Câu Hỏi Thảo Luận
- Một tín hữu phải như thế nào mới được gọi là môn đệ của Chúa?
- Ai là người thực sự được giải thoát?
- Chúa Giê-su nghĩ gì về “Đạo dòng”?
- Những người chưa được Chúa Cứu Thế giải thoát sẽ ở dưới sự thống trị của những ai hay điều gì?
- Loài người phải làm gì để biết Đức Chúa Trời và có mối quan hệ tâm linh với Ngài?
- hãy nêu lên một vài điều chứng tỏ một người thật sự thuộc về Đức Chúa Trời?
- Khi Chúa Giê-su tuyên bố rằng Ngài là Đấng hằng hữu; Ngài muốn nói rằng Ngài là ai?