Bài 14
Chúa Chữa Bệnh Bên Hồ Bết-xa-tha
Giăng 5:1-18
I.Lược Giải Bối cảnh
Kỳ lễ: Giăng không nói rõ kỳ lễ gì, nhưng có lẽ là lễ Lều Tạm hay lễ Vượt Qua.
Hồ Bết-xa-tha: Đa số học giả cho rằng đây là hồ tại nhà thờ thánh Anne hiện nay trong phạm vi Giê-ru-sa-lem. Di tích khảo cổ cho thấy hồ có bốn cột một bên và một cột chính giữa.
Theo niềm tin dân gian những địa điểm linh thiêng chữa bệnh vào thời cổ là điều thông thường; hồ Bết-xa-tha là một trong những địa điểm đó.
Một người mắc bệnh đã ba mươi tám năm: Giăng biết rõ số năm người này đã mắc bệnh cho thấy ông là nhân chứng tai nghe mắt thấy và biết rõ nhiều chi tiết về người này.
Ngày Sa-bát: Ngày Thứ Bảy trong tuần. Xuất 20:8-11 Đây là một trong mười Điều Răn của dân Chúa. Điều răn này dạy rằng con dân Chúa không nên làm việc nhưng nghỉ ngày thứ Bảy để thờ phượng Chúa. Người Do Thái trong thời Chúa Giê-su đã đặt ra thêm nhiều quy định để xác định thế nào là làm việc. Việc người bệnh này vác chõng đi về nhà bị coi là làm việc trong ngày Sa-bát.
Sau đó khi biết rằng Chúa Giê-su là người đã chữa lành cho người bệnh, người Do Thái cũng tố cáo Ngài là vi phạm luật ngày Sa-bát.
Cha Ta xưa nay vẫn làm việc: Chúa Giê-su muốn nói sau khi sáng tạo vũ trụ Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục duy trì và bảo tồn vũ trụ vạn vật; đây là điều ai cũng biết.
‘Nầy anh đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e lại gặp điều càng tệ hơn chăng?: Có nhiều bệnh tật do tội lỗi gây ra nhưng không phải tất cả bệnh tật đều do tội lỗi gây ra. Xem thêm 9:1-3.
Chúa Giê-su.. gọi Đức Chúa Trời là Cha, tự cho mình bình đẳng với Đức Chúa Trời: Ma-thi-ơ ghi nhận (Mat 26:63-66) rằng các thầy tế lễ và giới cầm quyền Do Thái giáo lên án Chúa Giê-su là phạm thượng và đáng tội chết vì đã thừa nhận mình là Đấng Ky-tôn, Con Đức Chúa Trời. Hay nói một cách khác theo giới Do Thái giáo thời ấy danh hiệu Con Đức Chúa Trời chỉ về bản chất thần tính và bình đẳng với Đức Chúa Trời.
Chúa Giê-su chữa lành người bệnh tại hồ Bết-xa-tha
Những người bệnh tại hồ Bết-xa-tha đang chờ mong một thiên sứ làm phép lạ, chữa bệnh cho họ. Thỉnh thoảng đã có người được chữa lành, vì thế nhiều người bệnh chờ đợi tại địa điểm này. Theo như lời người bệnh đang chờ tại đây, người nào nhảy xuống hồ trước tiên khi thiên sứ đến làm dao động nước thì sẽ được lành bệnh. Người ta tin rằng nhân vật chữa bệnh là thiên sứ và thiên sứ dùng phương tiện hồ nước dao động để chữa bệnh. Người muốn được chữa bệnh, bất kể là ai, phải là người trước tiên đụng đến nước.
Trong khi đó Giăng mô tả cách Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời chữa lành cho một người bệnh. Trước hết Chúa Giê-su quan tâm đến người bệnh và cảm thông cho người này vì đã mắc bệnh ba mươi tám năm, một thời gian khá lâu. Có thể đây là người đã đau yếu suốt cuộc đời của mình.
Tại sao Chúa Giê-su hỏi người bệnh: “Anh có muốn lành bệnh không?” Đương nhiên là anh này muốn được lành bệnh, đó là lý do anh đến đây. Nhưng lời cảnh cáo anh này và hành động phản bội, không vâng lời của anh đối với người đã chữa lành cho mình cho thấy Chúa muốn anh ý thức rằng có thể tội lỗi là nguyên nhân làm cho anh bị bệnh. Tuy nhiên trong một chỗ khác Chúa Giê-su đã giải thích rõ, không phải tất cả bệnh tật đều do tội lỗi gây ra (Giăng 9:1-3).
Chúa Giê-su chỉ phán một lời; lời của Chúa có năng lực sống và chữa lành. Ngài không cần sử dụng bất cứ một phương tiện nào khác để chữa lành cho người bệnh. Đây là điểm khác biệt khá lớn giữa Con Đức Chúa Trời và những người và phương tiện chữa bệnh siêu nhiên đương thời. Đây cũng là điều mà Giăng gọi là “dấu lạ” để chứng minh rằng Đức Giê-su chính là Chúa Cứu Thế, Con Đức Chúa Trời, thay vì phép lạ như những trước giả của các Phúc Âm khác.
Những người Do Thái tố cáo Chúa Giê-su vi phạm ngày Sa-bát vì Ngài đã chữa lành cho một người bệnh, dù rằng Ngài chỉ phán một lời và không có hành động nào khác; cũng không cần đụng đến người bệnh. Chúa Giê-su đã nêu lên sự kiện Đức Chúa Trời vẫn đang hành động để duy trì và bảo tồn vũ trụ vạn vật. Chúa Giê-su cho thấy nguyên tắc căn bản, Đức Chúa Trời thiết lập ngày Sa-bát (nghỉ) là vì lợi ích cho loài người, “Ngày Sa-bát được thiết lập cho nhân loại chứ không phải nhân loại cho ngày Sa-bát. Thế thì Con Người chính là Chúa của ngày Sa-bát.” Mác 2;27-28 như vậy loài người không nên làm cho ngày Sa-bát trở nên một gánh nặng luật lệ cho loài người. Người Do Thái đã sai lầm khi đặt thêm luật lệ rườm rà và nặng nề, khó khăn vì khuynh hướng câu nệ luật lệ và vì quan niệm làm việc công đức khi thi hành luật pháp của Đức Chúa Trời.
Giăng cũng ghi lại những biến cố hay những “dấu lạ” bày tỏ thần tính của Chúa Cứu Thế một cách tiệm tiến và tế nhị vì người Do Thái phần lớn không hiểu nỗi.
Chúa Giê-su khi thảo luận với người Do Thái đã xưng hô Đức Chúa Trời là “Cha Ta”. Hay nói một cách khác Chúa Giê-su đã công bố một mối quan hệ đặc biệt gần gùi, thân thiết và hoàn toàn cá nhân với Đức Chúa Trời. Người Do Thái có thể hiểu quan niệm Đức Chúa Trời là Cha chung của cả dân tộc, nhưng Chúa Giê-su gọi Đức Chúa Trời là “Cha Ta” thì họ khó chấp nhận và cho rằng Ngài đã phạm thượng vì điều này hàm ý Chúa Giê-su có cùng một bản thể thần tính và bình đẳng với Đức Chúa Trời (c.18). (Xin xem thêm phần các chủ đề: Đấng Hằng Hữu)
II.Câu Hỏi Thảo Luận
- Theo bạn câu nào, ý tưởng nào là hay nhất hay thích thú nhất trong đoạn. Giải thích vắn tắt lý do.
- Tại sao Chúa Giê-su lại hỏi người bệnh “anh có muốn lành bệnh không?”
- Bạn nghĩ gì về hành động của người bệnh được chữa lành?
- Quan niệm và các luật lệ của người Do Thái về ngày Sa-bát sai lầm ở những điểm nào?
- Bạn có biết tại sao tín hữu của Chúa Cứu Thế thờ phượng vào ngày Chúa Nhật không?
- Tại sao người Do Thái muốn sát hại Chúa Giê-su?
- Qua đoạn kinh Thánh này bạn học được một bài học gì cho mình áp dụng trong tuần tới?
Phụ Lục: Ngày Sa-bát. (Thứ Bảy)
Trước hết Đức Chúa Trời biệt riêng ngày thứ Bảy ra làm ngày thánh và nghỉ (Sabbat) không phải vì Ngài mệt mỏi nên cần nghỉ. Ngài là Đấng vĩnh cửu và siêu việt hơn thời gian. Vậy Ngài biệt riêng ngày này là vì mục đích làm một dấu hiệu, một biểu tượng để dạy cho dân Ngài sự yên nghỉ thuộc linh mà thơ Hê-bơ-rơ nói đến. Hêb 4:1-11
Nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su tín hữu của Chúa đã ở trong sự yên nghỉ vĩnh cửu trong Chúa Cứu Thế. Mat 11:28-30
Kinh Thánh Cựu Ước không nói đến luật hay điều răn về ngày Sa-bát cho đến Xuất 16:23. Như vậy Áp-ra-ham và các thánh thời Cựu Ước trước khi luật pháp được ban hành được cứu vì đức tin nơi Đức Chúa Trời (Sáng 15:6) chứ không phải vì giữ ngày Sa-bát. Ngoài ra khi ban luật Sabat Ngài dùng nó như là một dấu hiệu giao ước giữa Đức Gia-huê (Giê-hô-va) và dân Ngài, Xuất 31:12-17; Nê-hê-mi 9:13-15
Không có bằng chứng, dấu hiệu hay chỗ nào chứng tỏ Chúa cũng đòi hỏi những dân tộc khác phải giữ luật ngày Sabat vì luật này đặc biệt cho tuyển dân Ngài chọn trong thời Cựu Ước.
Môi-se khi nhắc lại điều răn cho thế hệ Do Thái mới sửa soạn vào đất hứa ông cho thấy một ý nghĩa khác được nói đến tức là sự giải cứu họ ra khỏi vòng nô lệ ở Ai-cập để vào đất hứa an nghỉ, bình an thịnh vượng, Phục 5:12-15.
Vì luật ngày Sa-bát chủ yếu là biểu tượng nên ngay trong chính thời Cựu Ước thầy tế lễ vẫn dâng tế lễ, làm lễ cắt bì; và ngay cả quân đội Do Thái ra trận diễn hành vào ngày Sabat. Giô-suê 6:3-4
Vậy luật pháp là giao ước, là dấu hiệu (biểu tượng) của ý nghĩa thật trong Chúa Giê-su. Phao-lô dạy: Côl 2:16-17
“đừng để ai đoán xét anh chị em về... nghi lễ tôn giáo... hay ngày Sa-bát. Những điều ấy chỉ là bóng của những điều sẽ đến, còn hình thật là Chúa Cứu Thế.”
Chúa Cứu Thế là Con Đường, là Chân Lý (Lẽ Thật) và Nguồn Sống. Chúng ta đến với Đức Chúa Cha là nhờ ở trong Chúa Cứu Thế bởi đức tin; không phải vì giữ bất cứ một luật lệ , điều răn nào. Thật ra dù một người giữ ngày Sa-bát, người đó cũng không thể giữ toàn vẹn hết 10 điều răn của Chúa.
Chúa Giê-su là Chúa của ngày Sabát. Vì thế Chúa Giê-su chữa bệnh, làm điều thiện trong ngày Sabát, Mat 12:1-14; Mac 2:23-28; Giăng 5:9-15
Hội thánh của Chúa Giê-su cũng được giải thoát khỏi luật lệ ngày Sa-bát. Gal 5:1
(Côl 2:16-17).
Thánh Thi 118:24 cho thấy ngày là do Chúa tạo ra.
Chúa biệt riêng ngày thứ Bảy để làm ngày thánh, là giao ước và biểu tượng để dạy và nhắc nhở dân Chúa về sự sáng tạo và về Chúa là Đấng Chủ tể.
Khi Chúa Giê-su, là Chúa của ngày Sabát đến Ngài giải thoát hội thánh Ngài ra khỏi mọi luật lệ và ngày Sa-bát. Côl 2:16-17; Vì thế tín hữu của Chúa Giê-su có quyền sống trong sự sáng tạo mới ( 2Côr 5:17) và quan niệm mới, Rô-ma 14:5-23
“người này coi ngày này trọng hơn ngày kia, kẻ khác coi ngày nào cũng như nhau, mỗi người hãy tin quyết trong trí mình. Người giữ ngày là giữ vì Chúa..”
Người giữ ngày Chúa sống lại (Chúa Nhật) để làm ngày an nghỉ mới và thờ phượng Chúa không vi phạm tinh thần điều răn “ngày Sabát”.
Đó là lý do các tin hữu thời Tân Ước nhóm họp mỗi ngày (Công Vụ 2:46); họp ngày thứ nhất (Chúa Nhật) để thờ phượng Chúa( Giăng 20:19,26; Công Vụ 20:7; ; 1 Côr 16:2) dù trong giai đoạn đầu đa số họ vẫn họp ngày thứ Bảy (Sabát) như người Do Thái. Ngày thứ nhất tức là ngaỳ Chúa Giê-su sống lại, được gọi là Ngày của Chúa ( Khải 1:10).
Tóm lại, tín hữu của Chúa Giê-su có sự tự do để biệt riêng một ngày làm ngày yên nghỉ, thờ phượng Chúa. Như thế tôi sẽ theo lời Kinh Thánh dạy: Không đoán xét người giữ ngày Sa-bát hay giữ ngày Chúa sống lại (Chúa Nhật) để thờ phượng Chúa.