![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Kết Quả Mầu Nhiệm của Đời Sống Tái Sinh Giăng 4:27-42 I.Lược Giải Bối cảnh Các môn đệ..ngạc nhiên thấy Ngài chuyện trò với một thiếu phụ: Các môn đệ Chúa ngạc nhiên vì theo phong tục Do Thái thời bấy giờ một đạo sư (Rabbi) Do Thái không nói chuyện với đàn bà ngoài công cộng; và người đàn bà này lại là một người Sa-ma-ri mà đa số người Do Thái cho là ô uế. Thu góp hoa lợi vào sự sống vĩnh phúc: Chúa Giê-su dùng hình ảnh hoa quả mùa màng và gặt lúa để chỉ công tác truyền bá Phúc Âm và đem người vào Nước Đức Chúa Trời. Đấng Mê-si-a, Đấng Christ (Ky-tôn), Đấng Cứu Thế: Trong câu chuyện này Chúa Giê-su, thiếu phụ Sa-ma-ri và người Sa-ma-ri dùng ba danh hiệu này đồng nghĩa với nhau. Kết Quả của Một Đời Sống Tái Sinh Giăng đã thành thật tường thuật lại câu chuyện này và cho thấy thái độ sai lầm cũng như tình trạng thuộc linh đen tối của các môn đệ lúc bấy giờ. Họ ngạc nhiên tại sao Chúa Giê-su, một đạo sư từ trời nhưng lại trò chuyện với một người đàn bà ngoại đạo ô uế nơi công cộng. Trong khi đó chính Chúa Giê-su đã khơi chuyện và hướng dẫn người đàn bà này từ chỗ tránh né người đồng hương trong cộng đồng của mình; tránh né nói về đời tư không mấy sáng sủa của mình đến chỗ nhận thức được rằng bà đang nói chuyện với Đấng Mê-si-a, đấng biết rõ đời sống quá khứ của bà. Giăng kể lại thái độ và hành động của cácmôn đệ và của người đàn bà Sa-ma-ri để cho chúng ta thấy hai hình ảnh tương phản rõ rệt. Người Do Thái thường tự hào rằng họ là dân tộc thờ Đức Chúa Trời và có Kinh Thánh, chân lý cao cả giáo huấn họ. Những dân tộc ngoại quốc khác đều ở trong tối tăm, thờ lạy tà thần. Nhưng ở đây người đàn bà Sa-ma-ri đã được mở mắt, thấy Đấng Cứu Thế và tin nhận Ngài. Người đàn bà Sa-ma-ri đi tìm nước giếng, nhưng khi bà tìm thấy nước hằng sống thì bà bỏ vò nước giếng lại nơi giếng, chạy vào trong thành loan báo tin về Chúa Cứu Thế. Trong khi đó các môn đệ của Chúa vẫn ở trong tối tăm; họ chưa hiểu rõ ý muốn của Đức Chúa Trời và mục đích của Chúa Cứu Thế tại thế gian và thời đại họ đangsống là thời đại của mùa gặt. Thành kiến chủng tộc và sự tối tăm thuộc linh đã che mắt các môn đệ, làm cho họ không thấy rằng những người mà họ cho là thấp hèn, ô uế kia đang sẵn sàng đáp ứng lại lời kêu gọi của ChúaCứu Thế để trở thành con dân Đức chúa Trời. Đoạn Kinh Thánh này ghi lại sự tái sinh tâm linh của người đàn bà Sa-ma-ri sau khi được chính Chúa Giê-su dạy dỗ và khải thị chính Ngài cho bà biết. Người đàn bà Sa-ma-ri đã tin Chúa Cứu Thế và trở thành nhân chứng cho Ngài. Những điều gì đã xảy ra cho một người được tái sinh tâm linh? Chúng ta thấy người đàn bà Sa-ma-ri: 1/ Tin lời làm chứng của Chúa Giê-su rằng Ngài là Chúa Cứu Thế. 2/ Tuyên xưng đức tin nơi Chúa Cứu Thế “Ngài chẳng phải là Chúa Cứu Thế sao?” Kinh thánh xác nhận rằng người tin Chúa thật sẽ công khai tuyên xưng đức tin. ‘Vì thế, ai tuyên xưng Ta trước mặt người đời, chính ta sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt Cha Ta ở trên trời.” Mat 10:32 Phao-lô dạy tín hữu Rô-ma, tức là thủ đô của đế quốc La Mã ( Lịch sử cho biết trong ba trăm năm đầu Công Nguyên, đế quốc La Mã đã bắt bớ, đàn áp tín hữu và hội thánh Chúa Cứu Thế): “Vì nếu miệng ngươi xưng nhận Đức Giê-su là Chúa và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu.”Rô-ma 10:9-10 3/Quan niệm giá trị thay đổi. Người đàn bà này đi tìm nước uống vào giữa trưa nóng bức nhưng khi có nước hằng sống của Đức Chúa Trời bà đã bỏ vò nước uống tại giếng, vui mừng chạy vào trong thành công bố Tin Mừng về Chúa Cứu Thế. 4/Quan tâm đến đồng bào, đồng loại hư mất. Đức tin, niềm vui, sự cứu rỗi đã làm người đàn bà đau khổ, mặc cảm này phấn khởi đi làm chứng cho đồng bào mình trong thành. Kết quả là nhiều người Sa-ma-ri khác tin nhận Chúa Giê-su làm Chúa Cứu Thế của mình và những người này công nhận rằng Đức Giê-su chính là Chúa Cứu Thế của nhân loại. II.Những Nguyên Tắc Cá Nhân Chứng Đạo Từ câu chuyện này chúng ta có thể rút ra nhiều nguyên tắc qúy báu từ chính Chúa Giê-su để chia sẻ Phúc Âm cho đồng bào, đồng loại: 1/Chúa Giê-su không phân biệt chủng tộc, tất cả mọi người đều cần Phúc Âm. 2/Chúa Giê-su đi vào vùng người Sa-ma-ri ở và đến với người đàn bà Sa-ma-ri tại giếng nước. Chúa không đòi hỏi những người Sa-ma-ri phải đến đền thờ Đức chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem hay tìm kiếm Ngài. Thật ra người đàn bà Sa-ma-ri đi xách nước, không phải tìm kiếm Chúa. Chúng ta phải đến nơi người ta đang sinh sống, làm việc để chia sẻ Phúc Âm. 3/ Chúa Giê-su là người khởi đầu câu chuyện và dẫn dắt người đàn bà Sa-ma-ri đến chổ tin nhận Ngài. Người đàn bà này không chú ý đến đời sống tâm linh, tránh nói đến đời sống đạo đức. Chúng ta nên luôn luôn sẵn sàng để mở đầu, khơi chuyện và thăm dò xem người đối thoại có sẵn sàng không để chia sẻ Phúc Âm. 4/ Chúa Giê-su đã mở đường, tạo dịp tiện cho thiếu phụ Sa-ma-ri làm một điều tốt, giúp đỡ người khác. Đây là một người đàn bà đầy tự ti mặc cảm, bị xã hội ruồng bỏ. Tạo dịp tiện cho họ làm một điều tốt là nâng cao và tôn trọng con người của họ vì thế họ sẽ mạnh dạn tiếp tục trò chuyện. 5/ Chúa Giê-su khởi đầu chia sẻ Phúc Âm bằng cách nói chuyện về một nhu cầu chung: nước uống. Từ đó Chúa hướng dẫn bà này đến vấn đề tâm linh. 6/Chúa Giê-su biết rõ đời sống đạo đức xấu xa, tội lỗi của bà này nhưng Chúa không lên án; trái lại Ngài khen một điểm thành thật nhỏ của bà. Lời khen của Chúa là thành thật và đúng. Tránh khen ngợi bừa bãi, giả dối. 7/ Chúa Giê-su nói rõ chính Ngài là Chúa Cứu Thế để cho người này tin. Chúng ta nên cố gắng trình bày đầy đủ, rõ ràng rằng Chúa Cứu Thế là con đường cứu rỗi của nhân loại. |