Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Bài  11                

Chúa Giê-su Trò Chuyện Cùng Thiếu Phụ Sa-ma-ri
Giăng 4:1-26

I.Lược Giải Bối cảnh
Sa-ma-ri : Từ này chỉ  về miền trung của nước Do Thái so với miền bắc là Ga-li-lê và miền nam là Giu-đê. Sa-ma-ri cũng có thể chỉ về thủ đô Sa-ma-ri của vương quốc Y-sơ-ra-ên thời xưa khi Do Thái bị chia đôi, phía bắc là nước Y-sơ-ra-ên, phía nam là Giu-đa. Sa-ma-ri cũng được dùng để chỉ chủng tộc Sa-ma-ri, dòng dõi của những người Do thái còn ở lại hiệp chủng với những dân tộc khác do đế quốc A-si-ri đưa đến lập cư trong vùng khi đế quốc này xâm chiếm Y-sơ-ra-ên và  lưu đày hầu hết dân Do Thái vào năm 722 TCN. Người Sa-ma-ri không những hợp chủng với người ngoại quốc nhưng cũng phối hợp việc thờ Đức Chúa Trời với các thần của người ngoại quốc. Người Sa-ma-ri chỉ công nhận Ngũ kinh Môi-se là Kinh Thánh của họ và cũng tin và mong chờ một đấng phục hưng (Phục 18).

Người Sa-ma-ri đã xây một đền thờ Sa-ma-ri (đền thờ đã bị người Do Thái phá hủy vào năm 128 TCN) và cho rằng núi Ghê-ri-sim mới là nơi thờ phượng Đức Chúa Trời. Ngoài ra trong lịch sử của hai dân tộc Sa-ma-ri và Do Thái cũng có nhiều biến cố khác khiến cho họ trở  nên thù nghịch lẫn nhau. Vào thời Tân Ước, những người Do Thái sùng kính thường tránh đi ngang qua miền Sa-ma-ri khi họ phải đi từ bắc xuống nam hay từ nam lên bắc vì họ không muốn bị ô uế vì tiếp xúc với người Sa-ma-ri.

Thị trấn Si-kha: Thị trấn này gần Si-chem ở giữa miền Sa-ma-ri và giữa núi Ê-ban và núi Ghê-ri-sim. Si-chem cách Giê-ru-sa-lem khoảng 31 dăïm hay khoảng 50 km.

Gia-cốp: Con của I-sác và cháu nội của Aùp-ra-ham và là tổ phụ của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.
Giô-sép: Người con thứ mười một của Gia-cốp; bị các anh bán làm nô lệ tại Ai-cập, sau trở nên thù tướng của nước này và giải cứu gia đình mình khỏi nạn đói.
Giếng Gia-cốp: Giếng này tọa lạc tại chân núi Ghê-ri-sim và vẫn còn cho đến ngày nay. Năm 1935 giếng này được sửa chữa và khám phá ra độ sâu đến 138  bộ hay 42 m.

Nước trường sinh: Có thể dịch là “nước sống’ hay “dòng nước đang chảy”.
Đấng Mê-si-a, món quà nước trường sinh  và sự thờ phượng thật.
Vào lúc này Chúa Giê-su thu hút nhiều người theo hơn Giăng Báp-tít. Những người Pha-ri-si cũng chú ý đến các hoạt động của Ngài. Giăng cải chính về những tin đồn rằng Chúa Giê-su đã làm lễ báp-tem cho dân chúng nhưng thật ra các môn đệ của Chúa làm.

Chúa Giê-su quyết định đi ngang qua vùng Sa-ma-ri cho thấy Ngài không hành động theo cách của những người Do Thái sùng kính thời bấy giờ, đi vòng phía ngoài lãnh thổ Sa-ma-ri để lên miền bắc hay xuống nam để tránh bị lây ô uế.

Giăng ghi lại “Vì đi đường mệt mỏi” cho thấy nhân tính đầy đủ của Chúa Giê-su. Ngài biết mệt mỏi và khát nước. Chúa Giê-su cũng cần nghỉ ngơi. Dù mệt mỏi chúa Giê-su cũng không bỏ qua cơ hội để cứu vớt một người đàn bà đau khổ bị xã hội ruồng bỏ.

Chúa Giê-su không ngại tiếp xúc với người Sa-ma-ri , là người bị đa số người Do Thái cho là ô uế. Không những thế Chúa Giê-su cũng xin nước uống từ một người đàn bà Sa-ma-ri; Ngài không ngại nước kia đã bị ô uế trong tay người đàn bà Sa-ma-ri. Trong câu chuyện,  Chúa Giê-su  biết rõ người đàn bà này không phải là người đứng đắn trong xã hội.

Chúa Giê-su không những không đối xử phân biệt đối với ngươi đàn bà Sa-ma-ri nhưng Ngài cũng sẵn sàng ban cho người này món quà “nước trường sinh” khi người này biết rõ Ngài là ai và cầu xin Ngài.

Đối với người Do Thái lẫn Sa-ma-ri, Gia-cốp là bậc tổ phụ tôn kính của họ; ngoài ra họ cũng biết ơn người nhiều vì Gia-cốp đã để lại cho  họ  giếng nước, một gia tài có giá trị lớn lao trong vùng bán sa mạc này. Vì thế người đàn bà Sa-ma-ri có vẻ bực dọc và muốn tranh luận với người Do Thái xa lạ này. Người này là ai mà có tặng phẩm từ Trời và có vẻ muốn chứng tỏ mình  lớn hơn cả tổ phụ Gia-cốp.

Chúa Giê-su dùng nước giếng Gia-cốp để hướng dẫn người đàn bà Sa-ma-ri này đến chỗ hiểu biết về nước trường sinh  từ Đức Chúa Trời và do Ngài ban cho. Hay nói một cách khác Chúa Giê-su muốn giới thiệu với người đàn bà Sa-ma-ri này sự sống vĩnh phúc của Đức Chúa Trời. Sự sống vĩnh phúc là nguồn nước trường sinh từ Đức Chúa Trời và là sự sống duy nhất có thể đáp ứng nhu cầu khao khát sự sống vĩnh phúc của loài người. Người nhận sự sống vĩnh phúc sẽ trở thành  nguồn sống vĩnh phúc đồi dào và trường cửu.

Thiếu phụ Sa-ma-ri vẫn chưa hiểu ý nghĩa thiêng liêng của nước trường sinh nhưng bà quan tâm đến nhu cầu xách  nước hàng ngày. Thông thường người ta thường xách nước vào buổi chiều mát nhưng bà này có lẽ muốn tránh gặp mặt các cô gái và những bà khác trong làng nên đi xách nước vào buổi trưa. Chúa Giê-su hướng câu chuyện về vấn đề đạo đức và Ngài cho bà này thấy rằng Ngài biết rõ đời sống quá khứ lẫn hiện tại của bà. Người đàn bà Sa-ma-ri ý thức rằng bà đang nói chuyện với một vị tiên tri có sự hiểu biết siêu nhiên. 

Vì thế bà muốn hướng câu chuyện về vấn đề  thờ phượng Đức Chúa Trời theo quan niệm của ai là  đúng. Người Sa-ma-ri  cho rằng họ phải thờ phượng Chúa tại núi Ghê-ri-sim, nơi Môi-se chúc phước cho dân Chúa (Phục 11);  còn  người Do Thái lại cho rằng Giê-ru-sa-lem, tức là núi Si-ôn mới là nơi thờ Đức Chúa Trời. Mặc dù Ngũ Kinh Môi-se không nói rõ Giê-ru-sa-lem là nơi để thờ phượng Đức Chúa Trời nhưng những sách khác nói đến điều này, tuy nhiên  người Sa-ma-ri không công nhận những sách khác trong Kinh Thánh. Chúa Giê-su không xác nhận nhưng cũng không phủ nhận quan niệm của bên nào; Ngài hướng dẫn thiếu phụ Sa-ma-ri đến ý niệm căn bản, thờ phượng Đức Chúa Trời là vấn đề thuộc  linh. Sự thờ phượng  đẹp lòng Chúa là sự thờ phượng bằng tâm linh và lẽ thật (chân lý). Chân lý là bản chất thật của Đức Chúa Trời  trái với điều giả trá; chân lý là tất cả những điều đúng so với những điều sai trái. Chân lý hay lẽ thật theo Phúc Âm Giăng không phải chỉ là một ý niệm suông nhưng là bản chất thực của Đức Chúa Trời được thể hiện trong đời sống, hành động, chức vụ, sự dạy dỗ, sự chết,và sự sống lại của Chúa Giê-su,  vì thế Chúa Giê-su đã tuyên bố: “Ta là chân lý.” (Giăng 14:6) Như thế chúng ta có thể nói sự thờ phượng đúng và đẹp lòng Đức Chúa Trời là sự thờ phượng bằng tâm linh và trong Chúa Cứu Thế.

Ngoài ra khi trả lời người đàn bà Sa-ma-ri Chúa Giê-su có thể nói tiên tri về sự kiện  đền thờ tại Giê-ru-sa-lem  sẽ bị phá hủy (vào năm 70 SCN) cũng như  đền thờ của người Sa-ma-ri đã bị phá hủy vào năm 128 TCN.

Chúa Giê-su nói đến một nguyên tắc thờ phượng mới, không tùy thuộc vào một địa điểm  thánh nào vì Đức Chúa Trời là thần linh, ở khắp mọi nơi và đặc biệt là Ngài sẽ ngự trong tâm linh con dân Ngài. Chúa Giê-su xác nhận  thực trạng rằng người Sa-ma-ri hiểu biết về Đức Chúa Trời bị giới hạn vì họ chỉ công nhận năm sách của Môi-se; người Do Thái hiểu biết Đức Chúa Trời đầy đủ hơn vì họ được mạc khải đầy đủ hơn trong toàn  bộ Kinh Thánh Cựu Ướùc. Ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời được truyền bá cho nhân loại qua người Do Thái  và  Đấng Mê-si-a hay Chúa Cứu Thế là người Do Thái. 

Khi thấy thiếu phụ Sa-ma-ri cũng hiểu biết và quan tâm đến Đấng Mê-si-a, Chúa Giê-su đã không ngần ngại tiết lộ cho bà biết chính Ngài là Đấng đó. Lý do Chúa tiết lộ cho người Sa-ma-ri trong vùng quê này vì người Sa-ma-ri nói chung không mong đợi một Đấng Mê-si-a quân sự hay chính trị và vì thế sẽ không tạo ra phong trào nổi dậy quân sự. Trong khi đó trong suốt các Phúc Âm, Chúa Giê-su tránh phổ biến sự kiện Ngài là Đấng Mê-si-a giữa vòng người Do Thái cho đến khi Ngài sắp bị tử hình vì  vào lúc ấy nhiều người Do Thái đang mong chờ một Đấng Mê-si-a quân sự và chính trị đến để lãnh đạo phong trào giải phóng họ thoát khỏi ách đô hộ của đế quốc La Mã.

II.Câu Hỏi Thảo Luận

  1. Tại sao Chúa Giê-su không đi vòng phía ngoài vùng Sa-ma-ri như nhiều người Do Thái sùng đạo khi đi lên miền Ga-li-lê nhưng Ngài  đi  ngang qua Sa-ma-ri?
  2. Hành động xin nước uống từ một người đàn bà Sa-ma-ri nói lên điều gì về Chúa Giê-su?
  3. Sự thờ phượng thật và đẹp lòng Đức Chúa Trời là gì?
  4. Thê nào là thờ phượng Chúa bằng tâm linh và lẽ thật (chân lý)?
  5. Hãy nêu lên những nguyên tắc Chúa Giê-su đã dùng để hướng dẫn thiếu phụ Sa-ma-ri đến chỗ tin nhận Ngài là Chúa Cứu Thế?
  6. Qua câu chuyện này bạn thấy mục đích của Chúa Cứu Thế đến thế gian là để làm gì và cho ai?


Giải Nghĩa Kinh Thánh
Phúc Âm Giăng

Chọn Bài

01   02   03    04   05
06   07   08    09   10

11   12   13    14   15
16   17   18    19   20

21   22   23    24   25
26   27   28    29   30

31   32   33    34   35
36   37   38    39   40

41   42   43    44   45
46   47   48    49   50

Bài Giải Đáp