![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Dấu Lạ Đầu Tiên Giăng 2:1-12 I.Lược Giải Bối cảnh Ca-na: Ngày nay có hai địa điểm có thể là Ca-na, địa điểm thứ nhất là Kepfar Kanna ở về phía tây hồ Ga-li-lê và cách Na-xa-rét chừng 5 Km , nhưng đa số học giả cho rằng Khirbet Kana, địa điểm cách Na-xa-rét chừng 13 Km mới là Ca-na nói đến ở đây. Tiệc cưới: Theo phong tục lúc bấy giờ tiệc cưới kéo dài trong bảy ngày. Chủ nhà mời càng nhiều khách càng vinh dự, nhất là những khách quý, quan trọng, quan quyền trong xã hội. Chủ nhà phải lo đãi tiệc cho khách trong bảy ngày. Thiếu rượu là một việc hết sức mất mặt, thường bị chê cười, chế nhạo, đàm tiếu trong làng nhiều ngày. Rượu: Từ ngữ dùng ở đây chỉ về rượu nho. Tân Ứớc cũng có một từ khác để chỉ rượu mạnh và một từ khác để chỉ rượu ngọt. Thưa mẹ: Nguyên tác: “Gunai: Đàn bà”. Trong nền văn hóa thời bấy giờ cách xưng hô như thế này với mẹ mình là bình thường, không có gì vô lễ. Ví dụ như trong Anh ngữ người ta đều xưng hô hay gọi cha, mẹ, ông, bà bằng đại danh từ “nó’ (he or she) mà không có gì là vô giáo dục, thiếu lễ giáo. Thì giờ con: Trước giả Giăng thường dùng từ ngữ “thì giờ của Ngài” để chỉ đến giờ phút Chúa Giê-su bị thống khổ và chết trên cây thập tự. Lệ tẩy sạch: Người Do Thái sùng đạo tin rằng khi tiếp xúc với người ngoại đạo họ có thể bị ô uế vì thế khi về nhà họ nhúng tay vào nước hay lấy nước rưới vào tay để thanh tẩy. Dấu lạ: Giăng gọi những công việc siêu nhiên do Chúa Giê-su thực hiện trong khi thi hành chức vụ là “dấu lạ”. Những dấu lạ này là những bằng chứng chứng tỏ rằng Đức Giê-su chính là Đấng Mê-si-a, hay Chúa Cứu Thế. Dấu Lạ Đầu Tiên Ca-na và Na-xa-rét tương đối gần nhau nên rất có thể Ma-ry và gia đình chủ tiệc cưới có quan hệ với nhau. Chủ tiệc cưới thường phải đãi tiệc suốt một tuần lễ nên cần phải có nhiều rượu. Rượu là một phần quan trọng trong tiệc cưới vì thế thiếu rượu sẽ bị chê cười, chế nhạo; đây là một việc hết sức mất mặt cho gia chủ. Bà Ma-ry hoặc có quan hệ với gia đình chủ tiệc hoặc ngồi gần chỗ chứa rượu nên biết được tình trạng khó khăn này. Sự kiện bà Ma-ry nói với Chúa Giê-su về tình trạng thiếu rượu cho thấy bà biết Chúa sẽ hành động để giúp đỡ họ. Lời đáp của Chúa Giê-su đối với bà Ma-ry thường được bàn luận nhiều. Nguyên tác lời xưng hô của Chúa Giê-su trong tiếng Hy Lạp là “đàn bà kia”. Đối với văn hóa Việt Nam, lời xưng hô như thế đối với mẹ mình là điều vô lễgiáo. Nhưng trong tiếng Hy Lạp thì hoàn toàn không có ý nghĩa đó mặc dù đây không phải là cách xưng hô thân mật giữa mẹ con. Ví dụ người Anh, Mỹ đều dùng từ “nó” (he, she) để chỉ cha, mẹ, ông, bà mình mà không hề bị coi là vô lễ. Qua câu trả lời của Chúa Giê-su người ta có thể thấy rằng Ngài muốn bà Ma-ry hiểu rằng mối quan hệ gia đình của bà với Ngài đã đến lúc hướng về một chiều hướng mới; đây là lúc Ngài bắt đầu lo công việc thiên thượng. Điều này nhắc lại biến cố tại đền thờ trước đây khi Ngài mười hai tuổi. (Lu-ca 2:41-52) và hướng độc giả về mục đích lớn lao mà Chúa Cứu Thế sẽ thực hiện. Cụm từ “thì giờ con chưa đến” khi được khảo sát theo cách dùng trong suốt Phúc Âm Giăng cho thấy rằng Ngài muốn nói đến thì giờ Ngài được vinh quang vì hoàn thành sứ mệnh Cha giao phó; đó là thì giờ Ngài bị đóng đinh trên cây thập tự. (Giăng 12:23). Vinh quang trong sự thống khổ và chết chóc là một điều rất khó hiểu cho đa số những người Do Thái kể cả Giăng Báp-tít và bà Ma-ry. Chủ nhà có đến sáu cái vại bằng đá dùng cho lệ tẩy sạch cho thấy đâylà một gia đình ngoan đạo. Tại sao Chúa Giê-su giúp cho gia đình chú rễ? Một số những nhà phê bình cho rằng đây là một phép lạ vô ích! Không liên quan gì đến vấn đề tâm linh hay cứu rỗi. Nhưng trước giả Giăng thì lại ghi nhận, đây là một dấu lạ bày tỏ vinh quang của Chúa Cứu Thế và kết quả hiển nhiên là “nên các môn đệ tin Ngài.” Như thế Chúa Giê-su đã nhân dịp giúp đỡ gia đình này để bày tỏ quyền năng siêu nhiên của Ngài và chỉ riêng với các môn đệ Chúa đã đạt được mục tiêu của Ngài. Còn đối với gia đình chủ nhân tiệc cưới Chúa Giê-su đã giúp họ thoát khỏi một cơn bỉ mặt lớn với quan khách, bà con, bạn bè, làng xóm và tránh cho họ có thể bị chê cười, nhạo báng trong những ngày kế tiếp. Thật ra điều này cho thấy Chúa Cứu Thế đến thế gian để cứu rỗi nhân loại, để khai trương và thiết lập Vương Quốc Đức Chúa Trời nhưng Ngài cũng quan tâm đến phương diện tình cảm trong đời sống hiện tại của con người trong xã hội. Trong câu chuyện này Giăng cũng ghi lại một vài chi tiết nhỏ khá thú vị. Chúa Giê-su khi làm phép lạ hóa nước thành rượu, Ngài đã làm rượu ngon chứ không phải rượu thường. Chúa Giê-su hứa ban cho những người tin Ngài một đời sống vĩnh phúc sung mãn (Giăng 10:10), đời sống sung mãn này bắt đầu ngay khi người đó tin Chúa chứ không phải chờ cho đến khi lên thiên đàng. Một cuộc đời trao phó cho Chúa Cứu Thế và cuộc đời nào nhận dược sự giúp đỡ từ Chúa Cứu Thế đều sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Sáu vại đá chứa khoảng 120 lít nước đã biến thành rượu ngon cho gia chủ là một số rượu lớn. Chúa Giê-su đã ban cho gia đình này ân huệ và ân huệ của Ngài thì lúc nào cũng dồi dào. Người trao phó đời sống mình cho Chúa Cứu Thế giúp đỡ sẽ nhận được ân phúc dồi dào hơn là mình mong ước. II.Câu Hỏi Thảo Luận
|