![]() Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Lời Chứng của Giăng Báp-tít về Chúa Cứu Thế Giăng 1:19-28 I.Lược Giải Bối cảnh Giê-ru-sa-lem: Thủ đô chính trị lẫn tôn giáo của Nước Do Thái trong nhiều thời đại; đặc biệt tại đây có đền thờ là trung tâm thờ phượng Đức Chúa Trời, là trungtâm tôn giáo và văn hóa của người Do Thái khắp mọi nơi. Thầy tế lễ và người Lê-vi: Thầy tế lễ là những người thuộc dòng dõi thầy tế lễ đầu tiên do Đức chúa Trời chọn lựa, tức là A-rôn, để phụng vụ Chúa qua những việc tế lễ. Người lê-vi là những người thuộc dòng dõi tộc Lê-vi có trách nhiệm phụ tá cho các thầy tế lễ, lo việc bảo trì đền tạm và sau này đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Chúa Cứu Thế: Tiếng Do Thái là “Mê-si-a”, tiếng Hy Lạp là “Ky-tôn”(Christ). Công giáo phiên âm danh hiệu này là Ky-tô. Nghĩa đen là Đấng được xức dầu, phong chức, ủy nhiệm, sai phái đến để truyền bá sứ điệp, thi hành một sứ mệnh và giải cứu dân Chúa, thành lập một thời đại mới . Tiên tri Ê-li: Một tiên tri trong thời Cựu ước, khoảng thế kỷ thứ 9 TCN; người được Đức Chúa Trời cất lên trời, không nếm sự chết. Người Do Thái tin rằng tiên tri Ê-li sẽ xuất hiện vào thời đại cuối cùng, trước khi Đấng Cứu Thế đến (Ma-la-chi 4:5). Vị tiên tri của Chúa: Vị tiên tri thay thế Môi-se được Chúa hứa trong Phục Truyền 18:15-18. “Ta là tiếng vang..”: Đây là lời tiên tri trong sách tiên tri I-sa 40:3. Phái Pha-ri-si: Một trường phái nghiên cứu và dạy dỗ Kinh Thánh Cựu Ước của người Do Thái có khuynh hướng bảo thủ và biệt lập với đại đa số dân chúng, đặc biệt là về một số nghi lễ thanh sạch. Lễ Báp-tem: Một nghi lễ tôn giáo tương tự như nghi lễ biểu tượng cho sự thanh tẩy mọi điều ôuế , được thanh sạch để gia nhập cộng đồng dân Chúa (trở thành người công dân Do Thái theo Do Thái giáo). Nghi thức lễ bao gồm việc nhận chìm người xuống dòng nước hay đổ nước xuống đầu một người. Lễ Báp-tem Giăng Báp-tít thi hành là để kêu gọi người ta ăn năn, xưng tội và chuẩn bị tấm lòng để đón tiếp Chúa Cứu Thế. (Ma-thi-ơ 3:1-6) Không đáng tháo quai dép Người: Vào thời cổ nô lệ là người theo hầu chủ mình trong việc xách dép, mang dép, tháo dép cho chủ. Giăng Báp-tít là người rất khiêm nhường trước mặt Chúa Cứu Thế; ông coi mình không xứng đáng bằng một người nô lệ của Chúa Cứu Thế. Bê-tha-ni: Địa điểm ở miền nam (Giu-đê), bờ phía đông sông Giô-đanh, đối diện với Giê-ri-cô thuộc vùng Perea do vua Hê-rốt An-ti-pa cai trị. Địa điểm Bê-tha-ni này khác với làng Bê-tha-ni ở tại núi Ô-liu, nằm về phía đông và đối diện với Giê-ru-sa-lem. Giăng Báp-tít xác nhận rằng mình là người tiền phong, mở đường cho Chúa Cứu Thế. Theo Phúc Âm Cọng Quan (Phúc Âm Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca) có rất nhiều người, kể cả một số người thuộc giới lãnh đạo tôn giáo và chính trị tại thủ đô Giê-ru-sa-lem, từ khắp nơi đến để nghe Giăng Báp-tít giảng và nhận lễ báp-tem. Vào lúc này, một số người Do Thái đang hy vọng một Đấng Mê-si-a (Cứu Thế) sẽ đến để giải phóng họ thoát ra khỏi tình trạng đô hộ của người La Mã và phục hồi nước Do Thái như thời hoàng kim của vua Đa-vít và Sa-lô-môn. Một số khác thuộc nhóm người sùng kính rút ra khỏi xã hội và thành thị để sống trong sa mạc như cộng đồng Qumran để chờ Đấng Aùnh sáng đến để thanh tẩy xã hội và phục hồi một nước Do Thái thánh thiện, sùng kính Chúa. Trong khi đó đa số giới thầy tế lễ, người Sa-đu-sê (giới hoàng gia và quan quyền)và một số ít người Pha-ri-si trong Hội Đồng Quốc Gia lại chủ trương thỏa hiệp với đế quốc La Mã để có hòa bình, thịnh vượng. Tất cả những người này đều chú ý muốn biết Giăng Báp-tít là ai, ông định làm gì vì có khá đông dân chúng ngưỡng mộ và theo ông. Giăng Báp-Tít xác nhận rằng ông không phải là Đấng Mê-si-a, không phải là tiên tri Ê-li trong thời Cựu Uớc và cũng không phải là vị tiên tri thay thế Môi-se nhưng ông là tiếng vang trong đồng hoang như tiên tri I-sa đã phán tiên tri (40:3). Như thế ông cũng là một nhân vật Chúa sử dụng để ứng nghiệm lời tiên tri I-sa. I-sa 40 là lời tiên tri cho thấy dân Chúa sắp được thư thái, sự lưu đày lao khổ sắp chấm dứt. Giăng Báp-tít là người tiên phong, mở đường cho Đấng Cứu Thế, Đấng Đầy Tớ Thống Khổ sẽ chịu chết, mang lấy tội lỗi của nhân loại được nói đến trong I-sa 53. Giăng Báp-tít đã chuẩn bị, mở đường bằng cách nào? Những Phúc Âm khác nói rõ sứ điệp của Giăng Báp-tít: “Hãy ăn năn vì Nước Đức Chúa Trời đã đến gần.” (Mat 3:2)Một trong những đặc điểm của Giăng Báp-tít là đối với ông tất cả người Do Thái thời bấy giờ đều cần ăn năn, quay trở lại với Đức Chúa Trời, xưng tội mình công khai bằng cách nhận lễ báp-tem dưới sông Giô-đanh. Đối với những người tự coi mình là bậc thầy, giới lãnh đạo tôn giáo và chính trị, Giăng Báp-tít nói rất nặng lời, ông gọi họ là loài rắn độc và đòi hỏi họ phải bày tỏ lòng ăn năn một cách cụ thể bằng hành động, qua kết quả của việc làm. Như thế Giăng Báp-tít cho rằng giữ những hình thức tế lễ tại đền thờ vẫn chưa đủ. Người Pha-ri-si rất hảnh diện vì cho rằng họ đã giữ tất cả các nghi lễ và những truyền thống của tổ tiên, nhưng đối với Giăng những điều này chưa đủ và vẫn bị mắng là” loài rắn độc”. Giăng Báp-tít không tuyên bố rằng ai ăn năn, xưng tội, nhận lễ báp-tem sẽ được tha tội nhưng ông giới thiệu một Đấng đến sau ông, đang ở giữa dân chúng nhưng họ không nhận biết Ngài; Đấng này sẽ làm phép Báp-tem bằng Thánh Linh; đây là Đấng sẽ tha tội cho người ăn năn vì Ngài vốn hiện hữu từ trước, cao cả, thiêng liêng và có đầy đủ thẩm quyền. Thật ra Giăng Báp-tít đã thú nhận rằng ông chỉ là một người phàm, không xứng đáng làm nô lệ xách dép cho Đấng Cứu Thế. Giăng Báp-tít giới thiệu Chúa Giê-su cho các môn đệ mình như là “Chiên Con của Đức Chúa Trời”. Giăng muốn chỉ về con cừu con Đức Chúa Trời cung cấp cho Áp-ra-ham để dâng tế lễ thay cho Y-sác (Sáng Thế 22) hay con cừu con của lễ Vượt Qua (Sáng Thế 12:22-28) bị giết thay cho các con đầu lòng của người Do Thái khi họ ra khỏi Ai-cập. Giăng Báp-tít cũng làm chứng trước dân chúng Do Thái rằng Chúa Giê-su chính là Con Đức Chúa Trời. (Xin xem phần chủ đề thần học: Con Đức Chúa Trời) Đấng mang thần tính như Đức Chúa Trời, tức là Đấng hiện hữu từ vĩnh hằng, Đấng sẽ làm phép Báp-tem bằng Đức Thánh Linh . II.Câu Hỏi Thảo Luận:
|