Sách Ê-xơ-ra
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Bài 4
Bài 5
Bài 6
Bài 7
Bài 8
Bài 9
Bài 10
Giải Đáp

Sách Nê-hê-mi
Bài 1            Bài 15
Bài 2            Bài 16
Bài 3            Bài 17
Bài 4            Bài 18
Bài 5            Bài 19
Bài 6            Bài 20
Bài 7            Bài 21
Bài 8            Bài 22
Bài 9            Bài 23
Bài 10           Bài 24
Bài 11           Bài 25
Bài 12           Bài 26
Bài 13           Bài 27
Bài 14           Bài 28
Giải Đáp

Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Ê-xơ-ra
Giải Đáp Câu Hỏi Thảo Luận

Bài 1
Hồi Hương & Xây Đền Thờ
(Ê-xơ-ra1:1-2:70)
  1. Lời tiên tri về dân Do Thái bị lưu đày và hồi hương của Giê-rê-mi chứng tỏ rằng Kinh Thánh là chân lý và là Lời của Đức Chúa Trời. Tất cả những lời tiên tri của Kinh Thánh đều đã đúng và sẽ ứng nghiệm. Những lời tiên tri về Chúa Cứu Thế đều đã ứng nghiệm cho nên những lời tiên tri về Chúa tái lâm và ngày tận thế cũng sẽ ứng nghiệm
    .
  2. Đức Chúa Trời đã cảm động lòng vua Si-ru, một vị vua của đế quốc ngoại đạo Ba-by-lôn để cho phép dân Do Thái bị lưu đày trở về để xây dựng lại đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.

  3. Đức Chúa Trời cũng có thể cảm động lòng những giới cầm quyền ngoại đạo ngày nay giúp con dân Chúa xây dựng hội thánh Ngài. Vì Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời toàn năng, Chủ Tể vũ trụ, ngài có quyền làm tất cả mọi sự theo ý chỉ thánh Ngài.

  4. Đức Chúa Trời đã kêu gọi tất cả mọi người Do Thái (cả Y-sơ-ra-ên lẫn Giu-đa) trở về xây dựng đền thờ Chúa.
    Nguyên tắc áp dụng cho con dân Chúa người Việt chúng ta là Chúa kêu gọi mọi người (Bắc, Trung, Nam), con dân Chúa ở trong nước lẫn ở hải ngoại. Chúa kêu gọi mọi tín hữu, không phân biệt giáo phái trở về xây dựng hội thánh Chúa chung.

  5. Những người Do Thái không trở về Do Thái thì họ đóng góp tài vật để xây dựng đền thờ Chúa. Con dân Chúa người Việt ở hải ngoại cũng có thể đóng góp tài vật để xây dựng hội thánh Chúa tại quê nhà.

  6. Ngay cảnhững người nô lệ ngoại quốc bị lưu đày cùng với chủ của họ trước kia cũng muốn trở về cho thấy chủ của họ đã sống một đời sống nhân từ và đời sống đạo của họ đã chiếu sáng Chúa cho những người nô lệ này nên họ mới muốn trở về xây dựng đền thờ Chúa của chủ họ.

  7. Đức Chúa Trời của chúng ta không thay đổi; Ngài vẫn là Đức Chúa Trời toàn năng và Chúa vẫn là Chủ Tể muôn loài vũ trụ, kể cả mọi chính quyền trên thế giới. Ngài cũng là Đức Chúa Trời đầy ân huệ và tình yêu thương cho nên Ngài muốn cứu rỗi mọi người trong đó có dân tộc Việt Nam chúng ta.

    Tôi có thể ham gia, đóng góp công sức, thì giờ, tài năng để xây dựng hội thánh Chúa ngay tại nơi tôi cư ngụ và cùng hội thánh hải ngoại giúp đỡ việc xây dựng hội thánh Chúa tại quê nhà. Tôi cũng có thể được Chúa cảm động trở về xây dựng hội thánh Chúa tại quê hương.
Bài 2
Định Chế Tế Lễ
(Êxơ 3:1-6)
  1. Những người Do Thái hồi hương đoàn kết, hợp lại như một vì họ có cùng một mục đích chung, về quê hương xây lại đền thờ Chúa, tái tạo một cộng đồng dân Chúa tại vùng đất hứa. Họ cũng đoàn kết vì họ phải chống với số đông những người Sa-ma-ri cũng như những người ngoại quốc ở tại địa phương không muốn sự hiện diện cũng như sự phồn thịnh của họ tại Giê-ru-sa-lem và Giu-đa.

  2. Dù Xô-rô-ba-bên là lãnh tụ chính trị nhưng việc xây đền thờ và xây dựng đơì sống tâm linh cho cộng đồng dân Chúa là việc tâm linh nên thầy tế lễ Giê-sua đứng đầu và lãnh đạo công việc này với sự hỗ trợ của thống đốc Xô-rô-ba-bên. Hai nhà lãnh đạo này đã ý thức đúng vai rò và trách nhiệm của mình, đã hợp tác hoà hợp và chặc chẻ nên họ đã hoạt động hữu hiệu và hoàn thành mục tiêu .

    Trong hội thánh ngày nay nếu mỗi người tín hữu và mục sư đều ý thức, biết rõ ân tứ, tài năng của mình và hợp tác, đoàn kết trong nổ lực phục vụ Chúa đúng với mục đích của cá nhân và hội thánh Chúa thì công việc Chúa sẽ đạt được kết qủa tốt đẹp.

  3. Người Do Thái hồi hương đã ý thức đúng thứ tự ưu tiên trong quan hệ cá nhân với Chúa và sự thờ phượng Chúa. Tấm lòng thờ phượng là quan trọng và trước tiên, cơ sở, phương tiện vật chất là thứ yếu.

    Khi hội thánh dành nổ lực và chú trọng vào việc xây dựng đời sống đức tin cho tín hữu và đào tạo môn đệ thì hội thánh đó sẽ phát triển và sẽ có đủ nhân lực, tài lực xây dựng cơ sở, nhà thờ.

  4. Đại đa số người Việt chúng ta tin có Trời và cho rằng tin trong lòng hay thờ Trời theo cách tỗ tiên mình để lại (bàn Ông Thiên trước nhà) là được rồi.

    Nhưng Kinh Thánh cho thấy người thật sự tin Đức Chúa Trời cũng phải thờ phượng Chúa đúng theo ý chỉ thánh của Ngài.

  5. Khi đời sống đức tin của cá nhân cũng như mối quan hệ với Chúa của mỗi người con dân Chúa đều thân thiết, mạnh mẽ thì đời sống cộng đồng dân Chúa (hội thánh) cũng sẽ mạnh mẽ, tốt đẹp. Khi mỗi cá nhân tín hữu ý thức đúng mục đích của Chúa cho mình thì sẽ nổ lực, hợp tác xây dựng mục đích của hội thánh Chúa.

    Mục đích của mỗi tín hữu:
    “Vậy thì, hoặc ăn, hoặc uống hay làm việc gì hãy vì vinh quang của Chúa mà làm.” 1Côr 10:31 Mục đích của hội thánh: Ma-thi-ơ 28:18-20; Êph 4:7-16 (Mục đích cá nhân và mục đích của hội thánh không còn bị trái ngược và công kích lẫn nhau).
Bài 3
Cung hiến nền đền thờ
  1. Sau khi về đến Giê-ru-sa-lem người Do Thái đã để một thời gian để định cư và ổn định. Họ cũng đã chuẩn bị tiền bạc, thực phẩm, nhân lực và vật liệu tại địa phương và nhập cảng gỗ từ Li-ban để xây nền đền thờ.

  2. Xô-rô-ba-bênh, thống đốc Giu-đa là người đứng đầu chỉ huy cuộc xây cất. Thầy tế lễ và những người Lê-vi đóng vai trò giám sát và kiểm định công việc cho đúng và hợp với luật lệ tôn giáo. Đay là một sự hợp tác hợp lý và hợp với vai trò và trách nhiệm Chúa giao phó cho mỗi tầng lớp để xây dựng nhà Chúa. Các Sứ Đồ và những chấp sự hội thánh đầu tiên cũng theo nguyên tắc này (Công Vụ 6:1-4)

  3. Từ thống đốc, thầy tế lễ, người lê-vi, các trưởng lão và dân chúng đều đồng tâm hiệp ý xây dựng nền đền thờ. Tinh thần đoàn kết này đã giúp họ hoàn thành nhanh chóng nền đền thờ.

  4. Ngày nay nếu muốn hội thánh phục hưng chúng ta phải đồng tâm, hiệp ý xây dựng lại nền tảng tâm linh của con dân Chúa và của hội thánh Chúa.

  5. Nền tảng tâm linh của mỗi môn đệ Chúa gồm có:
    • Mối quan hệ với Chúa:
      1. Tinh thần thờ phượng Chúa
      2. Tinh thần cầu nguyện: cá nhân hàng ngày, tập thể với hội thánh.

    • Mối quan hệ với thế nhân:
      1. Tương thông với anh chị em trong Chúa
      2. Chứng nhân cho Chúa trong xã hội.

    • Hiểu biết Chúa: Học hỏi Lời Chúa
    • Đạo đức giống Chúa Cứu Thế (Thánh hóa)
    • Quản trị đơì sống sung mãn, đúng mục đích.
    • Nhờ cậy quyền năng và sự hướng dẫn của Thánh Linh.
    • Sống vì sự vinh hiển Chúa trong ngành, nghề, mục vụ Chúa kêu gọi mình.

  6. Nền tảng căn bản của hội thánh Chúa: Hội thánh là cộng đồng dân Chúa tụ họp lại để:
    • Thờ phượng Chúa xứng đáng, sinh động
    • Tương thông chân thật, yêu thương lẫn nhau.
    • Đào tạo môn đệ để đi ra sống và phục vụ Chúa ngay trong nơi mình sinh sống, làm việc ngoài xã hội. (Không phải chỉ hoạt động trong nhà thờ vào ngày Chúa Nhật).

  7. Giới lãnh đạo chính trị, tâm linh và dân chúng Do Thái hồi hương đã hiểu rõ mục đích của họ là xây lại đền thờ cho Chúa. Những người này đã hiệp nhất trong mục đích đó nên họ hoàn thành nhanh chóng nền móng đền thờ và long trọng, vui mừng cung hiến nó cho Chúa.

    Ngày nay mục sư quản nhiệm, ban chấp hành và con dân Chúa cần hiểu rõ rằng họ được kêu gọi, họp nhau lại, hợp tác với nhau tùy theo vai trò, ân tứ, tài năng, trách nhiệm để xây dựng hội thánh Chúa. Hội thánh không phải là hội thánh của mục sư hay của một nhóm tín hữu hội thánh của Đức Chúa Trời. Mục sư và ban chấp hành không nên tranh dành quyền hành nhưng hợp tác tùy theo ân tứ, vai trò, trách nhiệm và sự kêu gọi của Chúa để thực hiện một mục đích chung: xây dựng, phát triển hội thánh Chúa.

    Tín hữu và ban chấp hành không phải trả lương để mướn mục sư làm tất cả mục vụ cho tín đồ, nhưng là hướng dẫn, huấn luyện tín hữu làm những mục vụ xây dựng hội thánh Chúa. Tinh thần của ban chấp hành với mục sư là hợp tác, đồng công xây dựng nhà Chúa chung.
Bài 4
(Ê-xơ-ra 4:1-24)
  1. Giới lãnh đạo Do Thái không cho dân địa phương tham gia hợp tác xây đền thờ vì những người Sa-ma-ri không còn thờ phượng Đức Chúa Trời đúng như Kinh Thánh dạy nhưng họ đã pha trộn với nhiều niềm tin của các thần khác. Cho nên nếu cho họ hợp tác xây đền thờ thì cũng sẽ phải cho họ tham gia thờ phượng tại đền thờ. Mối nguy cơ pha trộn giống dân Do Thái, thỏa hiệp về văn hóa và niềm tin là những nguyên nhân sâu xa khiến người Do Thái không cho dân địa phương tham gia xây đền thờ Chúa.

  2. Các giáo phái Tin Lành tự do cấp tiến (Liberal) không phát triển và nhiều giáo phái còn bị mất hàng triệu tín hữu hội viên (lìa bỏ giáo phái) vì họ đã thỏa hiệp hay không còn tin tưởng các giáo lý căn bản trong Kinh Thánh như:
    • Không còn tin Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời vô ngộ.
    • Không tin rằng Đức Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời giáng thế làm người, hy sinh chịu chết vì tội lỗi nhân loại và đã sống lại, thăng thiên và sẽ tái lâm.

    Họ chỉ tin rằng Chúa Giê-su là một người, một vị thầy gương mẫu, vĩ đại, hãy noi gương Ngài, thế thôi. Những người lãnh đạo các giáo phái này chỉ khoác lớp áo truyền thống Cơ Đốc giáo nhưng hoàn toàn sống theo quan niệm nhân bản hoài nghi, thế tục, vật chất, khoa học thực nghiệm và một số ít theo nhân bản vô thần hay phi Thượng Đế ( theo triết lý thiền, Phật giáo Tiểu Thừa).

  3. Những người Do Thái hồi hương sợ người địa phương và ngưng công việc xây cất đền thờ vì họ là nhóm người mới trở về định cư, chưa ổn định. Họ là nhóm người thiểu số, ít người, lực lượng phòng thủ yếu kém. Nói chung nhìn trên phương diện nhân lực, kinh tế, chính trị, quân sự, tất cả đều trong tình trạng thô sơ, bắt đầu. Những người Do Thái hồi hương quên rằng Đấng sai họ về là Đức Chúa Trời toàn năng, cai trị cả thế giới nhân loại. Chính Ngài đã đưa họ trở về Giê-ru-sa-lem bình an.

  4. Khi con dân Chúa qúa chú trọng vào việc xây dựng nhà riêng và sự nghiệp cá nhân thì việc xây dựng nhà Chúa (hội thánh Chúa) sẽ bị xao lãng, đình trệ. Chúa đã sai tiên tri Ha-gai truyền giảng cho dân Do Thái hồi hương: “Đây là đều CHÚA Vạn Quân phán: Hãy suy xét kỹ đường lối của các ngươi. Chúa phán: Hãy lên núi, đem gỗ về và xây nhà này để Ta vui lòng và được tôn vinh. Các ngươi mong nhiều nhưng chẳng được bao nhiêu, khi các ngươi đem về nhà, ta thổi bay đi hết. Tại sao vậy? CHÚA Vạn Quân phán: Vì nhà của Ta còn hoang tàn trong khi đó các ngươi mỗi người lại bận bịu với nhà riêng mình.” Ha-gai 1:7-9

  5. Tại một vài nước ngày nay dù bị chính quyền ngăn cấm, đàn áp nhưng các hội thánh Chúa tại đó vẫn sống động và phát triển mạnh mẽ. Sau đây là một vài đặc tính được thể hiện trong các hội thánh này:
    1. Đức tin nơi một Đức Chúa Trời sống và quyền năng, chủ tể cả thế giới.
    2. Tin tưởng và khao khát học hỏi Lời Chúa (Kinh Thánh).
    3. Đời sống cầu nguyện tự nhiên, nhiều và thường xuyên. Cầu nguyện cá nhân tại nhà riêng và cầu nguyện tập thể.
    4. Vâng phục Chúa, sống theo Lời Chúa và sống đạo mỗi ngày, ngay trong công việc hàng ngày của mình.
    5. Biết nhờ cậy quyền năng và sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh trong đơì sống, việc làm và mục vụ.
    6. Mỗi người đều cố gắng sống cho sự vinh quang của Chúa, xây dựng nhà (hội thánh) Chúa, không phải quyền lợi cá nhân.
Bài 5
Tiếp Tục Xạy Đền Thờ
(Ê-xơ-ra 5:1-6:12)
  1. Qua việc xây cất đền thờ Chúa tại Giê-ru-sa-lem dưới thời đế quốc Ba-by-lôn , một đế quốc ngoại đạo cho thấy Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng và Ngài dang cai trị toàn thể thế giới này. Đức Chúa Trời đã sử dụng các tôi tớ Chúa trong việc rao giảng Lời Ngài. Ngài đã sử dụng các viên chức địa phương để đem đến việc hỗ trợ công việc xây cất nhà Chúa. Ngài đã sử dụng con dân Chúa trong mọi ngành trong xã hội, chính trị, tôn giáo để hoàn thành mục đích Ngài. Chúa đã sử dụng vua của một đế quốc ngoại đạo để hoàn thành mục đích Chúa.

  2. Tiên tri Ha-gai và Xa-cha-ri đã nghe tiếng Chúa và trung tín rao truyền Lời Chúa dù hoàn cảnh có vẻ không thuận lợi và nguy hiểm cho họ.

  3. Cuộc xây cất đền thờ và cuộc phục hưng lớn lao của dân Chúa từ lúc này kéo dài cho đến thời Chúa Giê-su hoàn thành chức vụ được bắt đầu bằng việc tin tưởng, đáp ứng và vâng phục Lời Chúa.

  4. Những nguyên nhân làm cho dân Chúa ngưng việc xây cất đền thờ Chúa lúc bấy giờ là:
    1. Sợ dân địa phương.
    2. Thấy mình nhỏ bé, yếu kém về lực lượng vũ trang, nhân lực.
    3. Chú trọng vào việc ưu tiên xây dựng nhà riêng, sự nghiệp hơn là xây dựng nhà Chúa.
    4. Không thấy và không tin quyết rằng Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng và đang cai trị cả thế giới này. Ngày nay hội thánh Chúa củng sẽ không phát triển khi con dân Chúa củng có những thái độ và hành động trên cọng thêm với sự thỏa hiệp về niêm tin với thế gian nhân bản, vô tín, vật chất, thế tục và hoài nghi.

  5. Tin tưởng Lời Chúa, vâng lời Chúa, hợp tác hành động để hoàn thành mục đích Chúa giao phó dù hoàn cảnh không thuận tiện là những yếu tố về phía giới lãnh đạo chính trị lẫn tôn giáo giữa vòng con dân Chúa. Đức Chúa Trời đã tạo hoàn cảnh và thúc đẩy giới cầm quyền ngoại đạo từ địa phương đến trung ương hỗ trợ dân Chúa để hoàn thành mục đích của Ngài.

  6. Ngày nay con dân Chúa cần trở về với Lời Chúa. Tin tưởng, vâng phục Lời Chúa. Mục sư và giới lãnh đạo hội thánh (ban chấp hành) và con dân Chúa cần hợp tác, hành động để thực hiện Đại Mạng Lệnh của Chúa(Mat 28:18-20) dù đang ở hoàn cảnh nào. Khi con dân, Chúa tin tưởng và vâng Lời Chúa, quyết tâm thực hiện, hoàn thành mục đích Chúa thì Ngài sẽ giúp tạo hoàn cảnh thuận tiện và sử dụng ngay cả vua chúa, chính quyền ngoại đạo hỗ trợ con dân Chúa hoàn thành sứ mệnh của Ngài.
Bài 6
Hoàn Thành Đền Thờ
(Ê-xơ-ra 6:13-22)
  1. Những lý do giúp dân Do Thái hồi hương hoàn thành việc xây cất đền thờ :
    1. Lời Chúa được rao giảng để khuyến khích dân Chúa.
    2. Dân Chúa đáp ứng và vâng Lời Chúa thi hành sứ mệnh Ngài kêu gọi họ làm.
    3. Giới lãnh đạo chính trị và tôn giáo hợp tác hướng dẫn dân chúng thực thi sứ mệnh của Chúa.
    4. Dân Chúa đặt ưu tiên đúng cho công việc xây nhà Chúa.
    5. Giới lãnh đạo và dân Chúa vâng lời Chúa dù hoàn cảnh không thuận lợi và nguy hiểm cho họ.
    6. Chúa hành động và sử dụng con dân Chúa lẫn vua chúa, chính quyền ngoại đạo để thực hiện việc xây nhà Chúa.

  2. Theo trước gỉa Ê-xơ-ra chính Đức Chúa Trời là Đấng ra lệnh xây đền thờ Chúa và Ngài đã sử dụng các vua Ba-by-lôn để giúp thi hành mục đích của Ngài. Điều này cho thấy người Do Thái tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng và đang tể trị cả hoàn cầu.

  3. Qua biến cố lịch sử này, chúng ta thấy loài người không thể ngăn cản chương trình và mục đích của Đức Chúa Trời. Ngài có quyền sử dụng tất cả mọi người kể cả những vua chúa,, chính quyền ngoại đạo để thực hiện mục đích Ngài đã định.

  4. Trước gỉa dùng tên giao ước Y-sơ-ra-ên để nói lên Đức Chúa Trời là của toàn thể dân Chúa chứ không phải của một nhóm nhỏ miền Giu-đa. Mạc dù Nước y-sơ-ra-ên đã bị lưu đày trước dân Giu-đa nhưng Chúa vẫn có quyền cứu họ và sử dụng họ trong mục đích của Ngài. Ngoài ra Chúa cho phép xây cất đền thờ Chúa với mục đích cho toàn dân Chúa và nhân loại.

  5. Đền thờ thứ hai dù nhỏ hơn đền thờ đầu tiên nhưng có Đấng Mê-si-a đến và giảng dạy tại đó vì thế vinh quang của Đấng Mê-si-a làm cho đền thờ này vinh quang hơn đền thờ trước. Hội thánh Đức Chúa Trời ngày nay vinh quang hơn cả vì có Đức Thánh Linh (Đức Chúa Trời Ngôi Ba) ngự trị và hội thánh hiện diện khắp nơi trên thế giới. Ngoài ra hội thánh sẽ tồn tại đời đời vàsẽ không bao giờ bị hủy diệt .

  6. Thờ phượng Chúa trong tinh thần tìm kiếm Chúa là sự thờ phượng đẹp lòng Chúa. Chúa Giê-su dạy rằng Đức Chúa Trời tìm kiếm những người: “thờ phượng Chúa bằng tâm linh và lẽ thật” (Giăng 4:23).

  7. Con dân Chúa nên tìm kiếm mục đích và sứ mệnh của Chúa; nhờ cậy quyền năng của Chúa để hoàn thành mục đích hay sứ mệnh ấy và Chúa sẽ ban cho niềm vui lớn.
Bài 7
Ê-xơ-ra Trở về Giê-ru-sa-lem
(Ê-xơ-ra 7:1-8:36)
  1. Ê-xơ-ra là người chuyên tâm:
    • tìm kiếm Lời Chúa, nghĩa là ông đã chuyên tâm học hỏi, nghiên cứu Kinh Thánh.
    • thực hành Lời Chúa: Ê-xơ-ra không phải chỉ học cho biết hay thu thập những thông tin và kiến thức suông nhưng ông đã thực hành những điều mình học được. Nói một cách nôm na, Ê-xơ-ra không phải chỉ biết suông nhưng vâng Lời Chúa và thực hành những nguyên tắc sống đạo.
    • và dạy dỗ dân chúng về Lời Chúa: Ê-xơ-ra không phải chỉ biết và hành động cho mình nhưng cũng dạy dỗ dân chúng những điều mình học được và thực hành.

  2. Người thật lòng tìm kiếm Lời Chúa sẽ để ưu tiên trong việc quản trị thì giờ hầu có thì giờ để học hỏi Lời Chúa cách nghiêm túc tại nhà cũng như tại hội thánh hay trường học. Những người thật lòng tìm kiếm Lời Chúa sẽ tìm mọi dịp tiện và cơ hội để học hỏi, nghiên cứu Lời Chúa. Người thật lòng tìm kiếm Lời Chúa sẽ tra cứu tìm kiếm sự cố vấn về mọi vấn đề trong đơì sống xem có hợp với ý Chúa và hợp với Lời Chúa không.

  3. Chúa không thể sử dụng những người chỉ tìm kiếm văn bằng, kiến thức suông hoặc những người chỉ tìm kiếm danh vọng, sự nghiệp hơn là Lời Chúa, ý Chúa và chương trình của Chúa.

  4. Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng, Ngài có quyền sử dụng bất cứ ai trên thế giới để thực hiện mục đích của Ngài. Chúa đã sử dụng vua và chính quyền Ba-by-lôn để giúp Ê-xơ-ra và nhóm người Do Thái hồi hương thực hiện chương trình của Ngài.

  5. Đức Chúa Trời có thể và có quyền sử dụng tôi tớ và con dân Chúa ở hải ngoại để giúp thực hiện chương trình cứu rỗi của Ngài tại Việt Nam. Chúa có thể sử dụng một số tôi tớ, con dân Chúa tại hải ngoại để truyền giảng, dạy dỗ tín hữu VN trong công tác truyền bá Phúc Âm và môn đệ hóa dân chúng VN. Ngài cũng có thể cảm động tất cả con dân Chúa hỗ trợ tài chánh, tài năng, ảnh hưởng để hỗ trợ việc truyền giảng Phúc Âm và môn đệ hóa toàn dân VN. Đức Chúa Trời có thể sử dụng một số nhà kinh doanh Mỹ gốc Việt tín hữu để giúp đỡ nền kinh tế-tài chính và thương mại cho VN và từ đó tạo ảnh hưởng thuận lợi và làm vinh hiển danh Chúa.

  6. Có, Chúa đang sử dụng một vài tôi tớ, con dân Chúa để thực hiện sứ mệnh cứu rỗi cho VN nhưng vẫn còn rất ít và giới hạn. Tôi nghĩ rằng Chúa chưa thấy người hết lòng tìm kiếm Lời Chúa, tìm kiếm Chân Lý của Chúa cho dân tộc, cho hội thánh VN, (không phải người tìm kiếm bằng cấp, chức vụ, nghề nghiệp và danh vọng), tận hiến đời sống để thực hành Lời Chúa, thực hiện sứ mệnh của Chúa và hết sức dạy dỗ Lời Chúa cho dân tộc VN.

  7. Xin Chúa giúp tôi hết lòng tìm kiếm Lời Chúa cho đời dống cá nhân lẫn cho hội thánh Chúa để có thể hoàn thành sứ mệnh (Môn đệ hóa toàn dân Việt Nam ‘Mat 28:18-20’) mà Chúa đã giao cho mỗi con dân Chúa giữa vòng chúng ta. Tôi sẽ để thì giờ ưu tiên và thường xuyên cho việc học hỏi Lời Chúa tại nhà riêng và tại hội thánh (trường Chúa Nhật, nhóm nhỏ tư gia). Tôi sẽ tìm đủ mọi dịp tiện, cơ hội học hỏi Lời Chúa tại các buổi huấn luyện, khóa hội thảo, tại các trường Kinh Thánh v.v. Tôi sẽ nổ lực nghiên cứu, học hỏi để tìm ra đường lối, phương pháp, mô hình tốt đẹp, hữu hiệu nhất Chúa muốn chúng ta sử dụng để truyền bá Phúc Âm và môn đệ hóa toàn thể dân tộc VN.
Bài 8
Nan Đề Hôn Nhân
(Ê-xơ-ra 9:1-4)
  1. Đi lễ, tuân hành những nghi lễ tôn giáo là điều tốt nhưng nếu người tín hữu đó không sống theo những nguyên tắc đạo đức và giá trị tâm linh trong Lời Chúa (Luật pháp của Chúa) thì việc đi lễ, giữ lễ nghi cũng chỉ là hình thức bề ngoài vô ích vì Chúa muốn chúng ta tin và thờ phượng Chúa bằng tấm lòng, tâm linh và lẽ thật (1 Sa-mu-ên 15:22-23; Giăng4:23-24).

  2. Người Do Thái kết hôn với người địa phương là phạm tội vì Lời Chúa đã cảnh cáo họ từ khi mới vào đất hứa (Xuất 34:15-16). Ê-xơ-ra không chủ trương kỳ thị chủng tộc vì ông biết rõ vợ Môi-se và tổ mẫu của vua Đa-vít là người ngoại quốc. Vấn đề ở đây là vấn đề thoả hiệp niềm tin và hậu qủa suy đồi tâm linh, bị lôi cuốn trở lại thờ thần tượng và tà thần thay vì người Do Thái được chọn làm một dân đặc biệt để dạy cho nhân loại biết về Chúa là chân thần duy nhất con người nên thờ phượng.

  3. Thầy tế lễ là người được Chúa biệt riêng ra để làm thầy giáo dạy dỗ dân chúng chân lý và người lãnh đạo bao giờ cũng có ảnh hưởng lớn trên dân chúng nên khi giới lãnh đạo phạm tội thì dân chúng cũng sẽ phạm tội.

  4. Kinh Thánh Tân Ước dạy rõ con dân Chúa không nên kết hôn với người ngoại đạo vì nhiều lý do đem đến hậu qủa nghiêm trọng cho đời sống đức tin. (2Côr 6:14-18)

  5. Khi vợ chồng có hai niềm tin khác nhau sẽ có nhiều khác biệt và ngay cả xung khắc trong cuộc sống:
    1. Vợ chồng sẽ có hai quan niệm sống khác nhau nên có thể đem đến nhiều tranh cãi. Gia đình thiếu sự hòa thuận, êm ấm.
    2. Vợ chồng sẽ theo đuổi hai mục đích khác nhau và đưa đến xung đột.
    3. Vợ chồng sẽ gặp khó khăn khi dạy dỗ con cái, nên theo ai? Quan điểm, đường lối sống của cha hay mẹ?
    4. Vì sự xung khắc của cha mẹ, con cái thường bị lúng túng và mất tự tin trong cuộc sống.
    5. Con cái có thể lợi dụng theo phe của cha hay mẹ để vòi vỉnh một số điều và tập thành thói quen gian trá.

  6. Chúng ta cũng là người có tội nên chúng ta nên cảm thông với những người phạm tội và tránh lên án, đoán xét họ. Chúa là Đấng đoán xét tội nhân. Chúng ta nên khuyên họ trong tình thương và với tinh thần xây dựng.

  7. Hãy có thái độ như Ê-xơ-ra, ông coi tội lỗi của dân ông như là tội lỗi của chính mình. Ông cảm thấy đau khổ nhưng không tức giận, đoán xét, hình phạt họ nhưng cầu nguyện cho dân tộc mình.
Bài 9
Lời Cầu Nguyện Đẹp Lòng Chúa
(Ê-xơ-ra 9:5-15)
  1. Ê-xơ-ra đã đến đền thờ Chúa để cầu nguyện. Kinh Thánh Cựu Ước lẫn Tân Ước đều xác nhận rằng một trong những mục đích của nhà Chúa là để mọi người đến đó cầu nguyện. (I-sa 56:7; Mat 21:13) Tôi đã thăm và chứng kiến một hội thánh Hàn Quốc có nhiều ngàn tín hữu và đã có thể gởi hàng trăm giáo sĩ đi truyền bá Phúc Âm vì hàng ngày có hàng trăm con dân Chúa đến nhà thờ vào sáng sớm để cầu nguyện trước khi đi làm.

  2. Một trong những thước đo tình trạng tâm linh của con dân Chúa và hội thánh Chúa là sự cầu nguyện cá nhân hàng ngày với Chúa. Một hội thánh có nhiều con dân Chúa cầu nguyện thường xuyên sẽ là một hội thánh mạnh mẽ.

  3. Ê-xơ-ra đã cầu nguyện khẩn thiết với Chúa. Sự cầu nguyện chiếu lệ, lơ là sẽ không có hiệu qủa vì Chúa muốn thấy chúng ta thành thật nhận thức được tình trạng tội lỗi và sự bất lực của chúng ta trước tình trạng này. Chúng ta phải khẩn thiết nhờ cậy Chúa phục hồi đơì sống tâm linh của mình và cộng đồng dân Chúa.

  4. Ê-xơ-ra thấy rõ tình trạng tội lỗi của dân chúng nhưng ông cũng cảm thông và đồng hóa mình với dân tộc thay vì tức giận, lên án, chỉ trích hay trừng phạt dù ông có quyền làm điều đó.

  5. Ê-xơ-ra đã khẩn thiết xưng tội, cầu nguyện cho dân tộc mình.

  6. Ê-xơ-ra đã xưng tội với Chúa cho dân tộc mình và nương cậy vào tình yêu thương, lòng thương xót và ân huệ lớn lao của Chúa để cứu vớt và phục hưng đời sống tâm linh cho dân tộc mình.

  7. Chúng ta ai cũng biết đa số dân tộc chúng ta chưa biết Đức Chúa Trời, chưa tin Chúa Cứu Thế và còn thờ lạy đủ mọi thứ thần thánh cho nên hậu qủa đương nhiên là tai họa, đau khổ và sự chết đời đời. Chúng ta là con dân Chúa chỉ biết cầu khẩn Chúa yêu thương, thương xót và gia ân huệ cứu vớt dân tộc mình; không có cách nào khác.
    • Tôi sẽ để thì giờ tĩnh nguyện cá nhân mỗi ngày.
    • Tôi sẽ để thì giờ đến hội thánh hoặc nhóm nhỏ tư gia cùng các con dân Chúa khác khẩn thiết cầu nguyện xin Chúa phấn hưng hội thánh, ban ân huệ cứu rỗi cho dân tộc chúng ta.
Bài 10
(Ê-xơ-ra 10:1-44)
  1. Tấm lòng ăn năn, thống hối và khẩn thiết cầu nguyện của Ê-xơ-ra đã làm nhiều người Do Thái xúc động và thấy rõ tình trạng tội lỗi trong cộng đồng dân Chúa. Chúa đã dùng sự cầu nguyện của Ê-xơ-ra để phát động một phong trào phục hưng cho dân Chúa.

  2. Tội lỗi của một số người, dù là thiểu số nhưng bao gồm đủ mọi thành phần trong cộng đồng, nên đã làm cho toàn thể cộng đồng bị suy đồi, mất đi những phúc lành của Chúa.

  3. Tuy nhiên khi một số người Do Thái thấy rõ, ăn năn và giải quyết những tội lỗi kia thì họ thấy ân huệ, tình yêu thương và phúc lành của Chúa vì Chúa luôn luôn muốn ban cho dân Ngài sự bình an thịnh vượng (Giê-rê-mi 29:11). Cộng đồng tín hữu Việt Nam cũng là con dân Chúa vì thế chúng ta cũng có cùng các hy vọng như những người Do Thái thời Ê-xơ-ra nếu chúng ta có cùng một thái độ ăn năn, hối cãi, khẩn thiết đến với Chúa và cũng đồng lòng giải quyết mọi tội lỗi đang vấn vươn chúng ta.

  4. Ê-xơ-ra và người Do Thái đã cầu nguyện tìm kiếm giải pháp tốt đẹp và đúng với Lời Chúa để thanh tẩy mọi tội lỗi, ô uế khỏi cộng đồng.

  5. Bạn nên xét chính mình trước. Cầu nguyện xin Chúa chỉ cho bạn tất cả những tội lỗi của mình. Ghi nhận những vi phạm, tội lỗi của mình. Ăn năn, xưng tội cùng Chúa và xin Chúa tha thứ cho bạn .(1Giăng 1:9)

  6. Bạn phải hành động giải quyết những tội lỗi trong đời sống mình; xin Chúa thêm sức để từ bỏ, thay đổi hay đủ can đảm xin lỗi người mình đã làm tổn thương hoặc bồi thường những thiệt hại do tội lỗi của bạn gây ra.

  7. Hội thánh cần khuyến khích tất cả con dân Chúa cầu nguyện, phấn hưng chính cá nhân mình và tổ chức cầu nguyện phấn hưng tập thể cả cộng đồng.