Sách Ê-xơ-ra
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Bài 4
Bài 5
Bài 6
Bài 7
Bài 8
Bài 9
Bài 10
Giải Đáp

Sách Nê-hê-mi
Bài 1            Bài 15
Bài 2            Bài 16
Bài 3            Bài 17
Bài 4            Bài 18
Bài 5            Bài 19
Bài 6            Bài 20
Bài 7            Bài 21
Bài 8            Bài 22
Bài 9            Bài 23
Bài 10           Bài 24
Bài 11           Bài 25
Bài 12           Bài 26
Bài 13           Bài 27
Bài 14           Bài 28
Giải Đáp

Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Bố Cục
  1. Dân Chúa hồi hương và xây dựng đền thờ Chúa

    1. Đáp ứng chỉ dụ của vua Si-ru 1:1-2:70
    2. Tái lập các định chế tế lễ 3:1-6
    3. Xây nền đền thờ 3:7-13
    4. Việc xây cất bị ngưng 4:1-24
    5. Việc tái thiết đền thờ được khuyến khích 5:1-2
    6. Tạt-tê-nai báo cáo vua Đa-ri-út 5:3-6:12
    7. Hoàn thành đền thờ  6:13-22

  2. Ê-xơ-ra trở về và phục hưng (Xây dựng đời sống tâm linh)

    1. Ê-xơ-ra trở về Giê-ru-sa-lem 7:1-8:36
    2. Cuộc phấn hưng 9:1-10:44

  3. Nê-hê-mi trở về và tái thiết tường thành Giê-ru-sa-lem (Xây dựng cộng đồng dân Chúa)

    1. Báo cáo và lời cầu nguyện của Nê-hê-mi Nêh 1:1-11
    2. Trở về và quan sát Giê-ru-sa-lem 2:1-20
    3. Xây lại tường thành 3:1-32
    4. Việc xây cất bị chống đối  4:1-14
    5. Kiên trì xây cất 4:15-23
    6. Tệ nạn xã hội 5:1-19
    7. Chiến dịch khủng bố 6:1-14; 6:17-19
    8. Hoàn tất tường thành 6:15-16
    9. Tái định cư tại Giê-ru-sa-lem 7:1-73
    10. Phấn hưng qua Lời Chúa 8:1-12
    11. Cử hành lễ Lều Tạm 8:13-18
    12. Lễ sám hối 9:1-38
    13. Giao Ước xác lập 10:1-39
    14. Tái định cư tại Giê-ru-sa-lem 11:1-12:26
    15. Lễ cung hiến tường thành 12:27-43
    16. Cung ứng cho người phục vụ tại đền thờ 12:44-47
    17. Các cãi tổ khác của Nê-hê-mi 13:1-31
    18. Hồi Hương và Xây Dựng Đền Thờ


I. Dân Chúa hồi hương và xây dựng đền thờ Chúa

Bài 1

Đáp Ứng Chỉ Dụ của Vua Si-ru
Ê-xơ-ra 1:1-2:70

  1. Bối Cảnh và Lược Giải

  2. Trước giả sách Ê-xơ-ra muốn trình bày những biến cố trong sách này như là sự tiếp nối lịch sử của dân Do Thái sau khi họ bị lưu đày qua Ba-by-lôn. Sách bắt đầu bằng năm thứ nhất triều đại vua Si-ru của đế quốc Ba-by-lôn, tức là khoảng năm 538 TCN. Vào thời gian này dân Do Thái đã bị lưu đày khắp đế quốc Ba-by-lôn gần 70 năm. Tiên tri Giê-rê-mi đã phán tiên tri:

    “CHÚA phán như vầy: Khi thời hạn trọn bảy mươi năm dành cho Ba-by-lôn kết thúc, Ta sẽ thăm viếng các ngươi và thực hiện lời hứa tốt lành Ta ban cho các ngươi: Ta sẽ đem các ngươi trở về nơi này.” (Giê 29:10) Trước đó tiên tri Giê-rê-mi đã cảnh cáo dân Giu-đa nhiều lần rằng Chúa sẽ phó dân Giu-đa cho vua Ba-by-lôn và vua sẽ đày chúng về Ba-by-lôn (Giê 20:4; 21:7). Các tiên tri khác như I-sa cũng đã cảnh cáo dân Chúa rằng nếu họ từ bỏ Chúa, thờ lạy các thần tượng khác hoặc tiếp tục phạm tội thì đất nước họ sẽ bị tấn công và chính họ sẽ không còn được ở trong quê hương Chúa ban cho họ nữa. (I-sa 39:6-7) Thật ra ngay khi ban cho họ vùng đất hứa làm quê hương Đức Chúa Trời đã cảnh cáo về cảnh lưu đày nếu dân Chúa bất trung, bội ước và phạm tội (Phục 29:25-30:1).

    Nếu tính từ năm 605 TCN khi vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt hoàng gia và lấy dụng cụ đền thờ đem về Ba-by-lôn, sau đó vào năm 586 quân Ba-by-lôn tàn phá Giê-ru-sa-lem và đền thờ, bắt lưu đày hầu hết dân Do Thái cho đến thời vua Si-ru ban chiếu chỉ hồi hương năm 537-536 TCN, lời tiên tri của Giê-rê-mi đã ứng nghiệm rất chính xác.

    Khi thời điểm đã đến và lòng dân Chúa đã sẳn sàng, Đức Chúa Trời thúc đẩy vua Si-ru, một vị vua ngoại đạo của đế quốc Ba-by-lôn truyền sắc chỉ cho phép dân Do Thái hồi hương xây dựng lại đền thờ ở Giê-ru-sa-lem.

    Qua những biến cố lịch sử này chúng ta thấy một vài điều quan trọng:
    1. Lời Chúa là chân lý.

    2. Những lời tiên tri trong Kinh Thánh đều ứng nghiệm, đúng y như Lời Chúa đã phán. “Lạy Chúa, Lời Ngài đứng vững đời đời trên trời.” Thi 119:89

      Chúa Giê-su đã phán:
      “Trời đất sẽ qua đi nhưng những lời Ta phán chẳng bao giờ qua đi.” Mat 24:35

    3. Lời hứa của Chúa cho con dân Chúa đều sẽ ứng nghiệm. Giô-suê đã minh xác điều này với dân Chúa: “Vậy, hãy hết lòng, hết linh hồn nhận thức rằng tất cả các lời hứa tốt lành mà Chúa, Đức Chúa Trời các ngươi đã phán cho các ngươi chẳng một lời nào sai hết; tất cả đều ứng nghiệm, không sót một điều nào.” Giôâ 23:14
    4. Chúa là Đấng công bình, thánh khiết.

    5. Chúa sẽ trừng phạt những kẻ phạm tội dù họ là những người được Chúa chọn làm con dân Ngài. Nhiều người dù đã tin Chúa Cứu Thế và có thể linh hồn đã được cứu rỗi, nhưng vẫn chưa sống trong bình an, vui vẻ, phúc lành vì còn vấn vương trong nhiều tội lỗi, sống theo quan niệm thế tục và dưới ảnh hưởng của ma quỷ, thế gian phàm tục.

    6. Chúa là Đấng thành tín, yêu thương và đầy ân huệ. Dù con dân Chúa bội tín, bất trung, phạm tội và Ngài phải trừng phạt họ theo bản tính công bình, thánh khiết của Ngài nhưng Chúa vẫn thành tín với giao ước Ngài; Ngài vẫn yêu thương con dân Chúa và đối xử với họ bằng ân huệ của Ngài. Đó là lý do Chúa không bỏ dân Ngài và ngay khi họ quay đầu ăn năn, hối cãi, Chúa hành động để cứu họ.

    7. Đức Chúa Trời là Chủ Tể, cai trị trên cả thế giới, cả dân Chúa lẫn tất cả các dân tộc, vương quốc trên quả địa cầu này. Ngài cai trị người tin thờ Ngài lẫn những kẻ không tin và không tôn thờ Ngài. Đức Chúa Trời đã hành động và sử dụng những vua chúa ngoại đạo như hoàng đế Ai-cập, vua Na-bu-cát-nết-sa, vua Si-ru của đế quốc Ba-by-lôn, vua Hê-rốt trong đế quốc La Mã v.v. để thi hành chương trình của Ngài theo ýchỉ thánh của Ngài.

    8. Đa-ni-ên đã cầu nguyện:

      “Chúc tụng danh Đức Chúa Trời đời đời mãi mãi,
      Vì sự khôn ngoan và quyền năng đều thuộc về Ngài.
      Chính Ngài thay đổi thời kỳ và mùa tiết,
      Phế và lập các vua.” Đa-ni-ên 2:20

    9. Đức Chúa Trời có một chương trình bình an thịnh vượng cho con dân Ngài, và Chúa sẽ thực hiện chương trình đó một cách nhanh chóng và mỹ mãn khi con dân Ngài tin tưởng và đáp ứng.

      Si-ru vốn là một vua chư hầu Ba-tư, nhưng ông đã chiến thắng, kết đồng minh với người Mê-đi và thu góp các nước trong đế quốc Ba-tư , rồi sau đó cả Ba-by-lôn để lập thành một đế quốc rộng lớn. Tuy vậy, vua Si-ru cũng đã công nhận rằng “Đức Chúa Trời trên trời cao”, Đấng tể trị thế giới loài người đã ban cho vua các vương quốc kia.

      Vua Ai-cập thời xưa cũng đã nói với Môi-se: “.. Các ông hãy đi thờ phượng CHÚA như điều hai ông đã xin.. và cũng cầu phước cho chúng tôi với.” Xuất 12:31-32

      Vua Nê-bu-cát-nết-sa của đế quốc Ba-by-lôn :
      “Ta chúc tụng Đấng Tối Cao,
      Ca ngợi và tôn vinh Đấng sống đời đời.
      Ngài tể trị mãi mãi,
      Vương quốc Ngài tồn tại đơì đời.
      ...........
      Ngài thi hành ý muốn Ngài đối với đạo binh trên trời,
      Cũng như loài người dưới đất.
      Không ai có quyền ngăn chận ý muốn Ngài.” Đa 4:34-35

      Nếu chúng ta, những con dân của Chúa hoàn toàn tin tưởng Chúa là Đấng chủ tể thế giới này, hãy tìm kiếm Ngài, tìm kiếm chương trình của Chúa, đáp ứng lại tiếng gọi của Ngài, tham gia vào chương trình Chúa đang hành động.

      Đức Chúa Trời thúc đẩy lòng vua Si-ru cho xây dựng lại đền thờ của Đức Chúa Trời ở Giê-ru-sa-lem. Vào thời bấy giờ đền thờ Đức Chúa Trời là trung tâm thờ phượng Chúa, là trung tâm của đời sống tâm linh của cộng đồng dân Chúa. Ngày nay Phao-lô trong Kinh Thánh Tân Ước dạy:

        “Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống như Đức Chúa Trời đã phán: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ, Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ là dân Ta.”
        2Côr 6:16

      Vua Si-ru cho phép tất cả những người Y-sơ-ra-ên bị lưu đày đều có thể trở về để xây dựng lại đền thờ cho Chúa của họ. Sắc chỉ của vua Si-ru nói đến “người Y-sơ-ra-ên” là một điều hết sức ý nghĩa, vì nó nói đến toàn thể mười hai chi tộc người Do Thái chứ không phải chỉ có người Giu-đa (và Bên-gia-min) ở một nữa nước Giu-đa miền nam mà thôi. Từ khi Do Thái bị chia làm hai, nửa phía bắc lấy tên là Y-sơ-ra-ên và nữa phía nam Giu-đa. Nước Y-sơ-ra-ên ở phía bắc và gồm đa số mười chi tộc phía bắc nhưng khi nước Y-sơ-ra-ên quay bỏ Chúa để thờ các thần khác thì nhiều người từ mười chi tộc kia đã xuống nam để thờ phượng Đức Chúa Trời của họ. Năm 722 TCN nước Y-sơ-ra-ên bị A-si-ri tấn công và chiếm cứ, họ cũng bắt lưu đày hầu hết những người Y-sơ-ra-ên ra khỏi nước.

      Nước Giu-đa còn tồn tại cho đến năm 586 TCN và cũng bị Ba-by-lôn tấn công, hủy phá Giê-ru-sa-lem, đền thờ và bắt lưu đày hầu hết giới hoàng gia, quan quân, giới thượng lưu và thương gia, chỉ để lại một số ít nông dân nghèo khó trong xứ. Nhưng sắc chỉ vua Si-ru cho phép mọi người Do Thái, không phải chỉ người Giu-đa trở về quê hương để xây dựng đền thờ Chúa.

      Dù vua Si-ru cho phép tất cả người Do Thái trong đế quốc đều có thể về nhưng không phải tất cả đều về; số người trở về khoảng 50,000 người. (2:64-65) Những người Do Thái khác không trở về nhưng họ dâng hiến của cải, tiền bạc để xây đền thờ Chúa. Ngoài ra những người ngoại quốc trong đế quốc cũng giúp đỡ tài vật để những người Do Thái trở về xây đền thờ Chúa. Điều đặc biệt là vua Si-ru cũng truyền lệnh trả lại tất cả những vật dụng trong đền thờ mà quân Ba-by-lôn đã chiếm đoạt và mang về nước họ và giao cho Sết-ba-xa, lãnh tụ Giu-đa đem về Giê-ru-sa-lem.

      Sết-ba-xa là tên Ba-by-lôn của Xô-rô-ba-bên. Vào thời đó nhiều người Do Thái ở trong đế quốc Ba-by-lôn mang hai tên. Lãnh tụ Giu-đa ở đây là thống đốc tỉnh Giu-đa, một tỉnh nhỏ trong đế quốc Ba-by-lôn. Một số người khác cho rằng Xô-rô-ba-bên là người kế tiếp Sết-ba-xa cai trị Giu-đa.

      Điều chúng ta thấy rõ rằng khi chương trình Chúa đã lập thì không những con dân Chúa đáp ứng, tham gia mà ngay cả người ngoại đạo cũng hưởng ứng, hỗ trợ chương trình của Ngài.

      Một điều khác chúng ta thấy rằng dù là chương trình Chúa cho phép nhưng Ngài không ép buộc một ai, ngay cả những con dân của Ngài. Nhưng ai nghe theo tiếng gọi, đáp ứng, tham gia thì người đó được phước.

      Vào thời Cựu Ước, chủng tộc Do Thái là một điều quan trọng vì Chúa kêu gọi và kết giao ước với dòng dõi Áp-ra-ham; ngoài ra vào thời đó chủng tộc, văn hóa và tôn giáo đều hòa lẫn với nhau cho nên muốn giữ giao ước thì cũng phải giữ chủng tộc thuần chủng.

      Ngày nay, sau khi Con Một Đức Chúa Trời đã đến thế gian hy sinh để cứu với toàn thể nhân loại, chủng tộc không còn đóng một vai trò quan trọng cho sự cứu rỗi nữa nhưng ân sủng và đức tin.

      Đối với thầy tế lễ vấn đề gia phả càng quan trọng hơn vì gia tộc A-rôn đã được Chúa biệt riêng ra để làm thầy tế lễ trong thời Cựu Ước. Ngày nay, mỗi tín hữu của Chúa Cứu Thế là một thầy tế lễ (1Phê-rơ 2:9-10) “Dùng U-rim và Thu-mim” là một cách bắt thăm bằng hai vật U-rim và Thu-mim thầy tế lễ đeo trước ngực.

      Trong số những người hồi hương có cả một số người nô lệ thời Sa-lô-môn, đây là những người tù bình ngoại quốc bị bắt làm nô lệ cho người Do Thái. Những người này theo chủ họ lưu đày ở Ba-by-lôn nhưng nay họ cũng muốn trở về Giê-ru-sa-lem với chủ của họ. Điều này nói lên ít nhất là hai điều về những người chủ Do Thái, thứ nhất là những người chủ Do Thái đã đối xử tốt với đám nô lệ của mình,thứ đến là niềm tin của họ nơi Đức Chúa Trời đã ảnh hưởng, đem ánh sáng của Chúa đến với đám nguời nô lệ này để khiến họ cũng muốn trở về xây dựng đền thờ Chúa của chủ mình.

    10. Câu Hỏi Thảo Luận:

      1. Lời tiên tri của Giê-rê-mi (Giê 29:10) ứng nghiệm chứng minh điều gì về Kinh Thánh?
      2. Đức Chúa Trời đã cảm động vua Si-ru, một vị vua ngoại đạo, để làm gì cho Chúa?
      3. Đức Chúa Trời có thể cảm động lòng giới cầm quyền ngoại đạo ngày nay để giúp con dân Chúa xây dựng hội thánh Ngài không ? Tại sao?
      4. Đức Chúa Trời đã kêu gọi những ai (người Y-sơ-ra-ên ở phía bắc hay ngưòi Giu-đa ở phía nam) để trở về xây dựng đền thờ Chúa?
        Nguyên tắc áp dụng cho tín hữu VN ngày nay trong việc xây dựng Hội Thánh Chúa là gì?
      5. Những người Do Thái ly hương không trở về thì họ đã làm gì trong nổ lực xây dựng đền thờ Chúa tại Giê-ru-sa-lem? Nguyên tắc áp dụng cho con dân Chúa người Việt hải ngoại là gì?
      6. Những người nô lệ ngoại quốc cũng muốn trở về để xây dựng đền thờ cho Chúa của chủ họ nói lên điều gì về những người chủ Do Thái?
      7. Bạn có tin rằng Đức Chúa Trời muốn cứu rỗi dân tộc Việt Nam và xây dựng Hội Thánh Chúa (Vương Quốc Chúa) giữa vòng người Việt Nam không? (Đọc 1Tim 2:4 và Ma-thi-ơ 28:18-20)
Bạn đã và đang làm những gì để đáp ứng lời kêu gọi và mạng lệnh của Chúa?