Bài 30
Vấn Đề Quản Trị Tiền Bạc, Cơ Hội, Nhân Sự
1Cor 16:1-24
I. Bối Cảnh và Lược Giải.
Trong cuộc gặp mặt các Sứ Đồ và Gia-cơ tại Giê-ru-sa-lem (Công Vụ 15:1-35 ; Ga-la-ti 2:1-10) Phao-lô được công nhận là Sứ Đồ cho người ngoại quốc và được nhắc nhở nên quyên góp tiền bạc giúp các tín hữu nghèo ở Giê-ru-sa-lem và Giu-đê. Điều này Phao-lô đã làm khi ông lập các hội thánh ở ngoại quốc (Cô-rinh-tô Hy Lạp, Ga-la-ti Tiểu Á, Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay).
Dâng hiến để tương trợ.
Phao-lô đã dùng nhiều từ ngữ để chỉ số tiền dâng cho Chúa dùng vào nhiều mục đích khác nhau:
-“Cứu trợ hay thông công” 2Côr 8:4
-“Việc ân phúc” 2Côr 8:6
-“Phục vụ” 2Côr 8:4; 9:1
-“Việc từ thiện, Phúc lành” 2Côr 9:5
-“Dịch vụ thiêng liêng” 2Côr 9:12
Thật ra Phao-lô quan niệm viêïc dâng hiến tiền bạc cho Chúa là sự đáp ứng lại những ân phúc Chúa ban cho con dân Ngài (2Côr 8:1). Trong trường hợp của hội thánh Cô-rinh-tô và Ga-la-ti, các tín hữu người ngoại dâng hiến tiền bạc cho Chúa để dùng giúp đỡ những tín hữu tại các hội thánh nghèo ở Giê-ru-sa-lem. Đây là sự tương trợ, tương thông giữa tín hữu người Do Thái và tín hữu người ngoại quốc. Ngoài ra qua việc cứu trợ và giúp đỡ vật chất này nhiều người sẽ ca ngợi và cảm tạ Đức Chúa Trời.(2Côr 9:11) Vì thế vấn đề dâng hiến tiền bạc cho Chúa là một “việc phụng vụ thiêng liêng” của tín hữu.
Tiền dâng của hội thánh Phi-líp giúp Phao-lô truyền giáo được coi như hương thơm, như lễ vật dâng hiến đẹp lòng Chúa. (Phi-líp 4:15-18).
Qua lời dặn dò này chúng ta thấy một điểm khác nữa, dâng hiến là một phần của thờ phượng trong hội thánh đầu tiên.
Tín hữu tại hội thánh Cô-rinh-tô tụ họp thờ phượng vào ngày thứ nhất trong tuần lễ, tức là ngày Chúa Nhật. (Xem thêm Công Vụ 20:7 và Khải 1:10). Đây là một trong số những bằng chứng cho thấy tín hữu người ngoại quốc đã bắt đầu dùng ngày thứ nhất trong tuần lễ, ngày Chúa Nhật, ngày Chúa Giê-su phục sinh, để thờ phượng Chúa từ thời các hội thánh đầu tiên.
Phao-lô cũng nhắc nhở tín hữu dâng hiến “tùy khả năng”. Trong hoàn cảnh thời bấy giờ có rất nhiều nô lệ là tín hữu; có lẽ họ không có gì nhiều, nhưng Phao-lô khuyên tất cả tín hữu dâng hiến tùy theo khả năng của họ; nghĩa là mỗi tín hữu dâng hiến tùy theo nguồn lợi mình kiếm được. Nhiều người cho rằng Phao-lô muốn nói đến việc dâng hiến tùy theo tỷ lệ lợi tức hay tiền lời một người kiếm được. Vì tín hữu Cô-rinh-tô đa số có lẽ là nguời ngoại quốc nên Phao-lô không nói đến “phần mười” nhưng chỉ nói đến tùy khả năng.
Vấn đề tiền bạc là vấn đề quan trọng và dễ bị hiểu lầm cũng như vì sử dụng không minh bạch. Phao-lô đề nghị mỗi hội thánh nên có đại diện để đem tiền bạc và giao tận tay hội thánh Giê-ru-sa-lem. Hội thánh và các cơ quan truyền giáo hay từ thiện cần ủy ban tài chánh gồm có nhiều người khác nhau để quản trị tiền bạc một cách minh bạch, ngay thẳng. Vấn đề tiền bạc không minh bạch có thể gây chia rẽ trong hội thánh và làm hổ danh Chúa.
Đồng công tận dụng cơ hội để truyền giáo.
Phao-lô cho hội thánh Cô-rinh-tô biết chương trình ông dự định ghé thăm họ và đi truyền giáo. Khi Phao-lô nói: “để anh chị em đưa tôi đi đến nơi tôi muốn đi.” Có nghĩa là ông muốn tín hữu hội thánh Cô-rinh-tô hỗ trợ tài chính và vật chất cho ông đi truyền giáo. Trước đây khi thành lập và xây dựng hội thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô không nhận thù lao hay tài trợ của họ; nay là lúc họ nên tài trợ ông để đem Phúc Âm đến cho người khác; như thế họ sẽ đồng công cộng tác với Phao-lô trong việc phục vụ Chúa.
Phao-lô muốn ở lại Ê-phê-sô lâu hơn vì cơ hội truyền giảng Phúc Âm đang mở rộng taiï đó nhưng đồng thời cũng có sự chống đối. (Êph 19:1-41) Điều này cho thấy ngay từ thời đại đầu tiên, trong cuộc đời truyền giáo của Phao-lô cơ hội truyền bá Phúc Âm luôn luôn đi kèm với sự chống đối của ma qủy. Nhưng không phải vì có chống đối mà ông không tận dụng cơ hội hay không bước vào cánh cửa đang mở rộng.
Những người cộng sự
Phao-lô nhắn nhủ hội thánh Cô-rinh-tô nên tiếp đãi Ti-mô-thê, một mục sư trẻ phụ tá cho ông, cũng như chính ông vậy. Phao-lô quan niệm người phục vụ Chúa là người cũng làm việc Chúa như chính ông vậy. Hội thánh nên khuyến khích những người trẻ tuổi phục vụ Chúa và nên cho họ cơ hội để phát triển tiềm năng trong chức vụ. Hội thánh không nên mong mỏi mục sư trẻ Ti-mô-thy sẽ có đủ mọi ân tứ, kinh nghiệm như Sứ Đồ Phao-lô.
A-bô-lô là một người có tài hùng biện và đã phục vụ Chúa tại Cô-rinh-tô. Một số người tại Cô-rinh-tô theo người chống lại Phao-lô, nhưng rõ ràng Phao-lô và A-bô-lô không có ý tưởng phân biệt hay kéo bè, kéo đảng cho mình. Phao-lô gọi A-bô-lô “anh em chúng ta” và khuyên A-bô-lô về thăm Cô-rinh-tô dù lúc đó người chưa muốn đi. Người lãnh đạo trưởng thành và kính sợ Chúa không nên kéo bè, kéo đảng chia rẽ, chống đối nhau. Những người làm như thế sẽ phá hủy hội thánh thay vì xây dựng hội thánh. Nhờ sự trưởng thành và hiệp nhất của Phao-lô và A-bô-lô, hội thánh Cô-rinh-tô vượt qua được nạn chia rẽ trong hội thánh và trường tồn cho đến ngày nay.
Phao-lô đã ca ngợi gia đình Sê-pha-na, gia đình tin Chúa đầu tiên tại A-chai; họ tận tâm phục vụ Chúa và đáng được kính trọng. Thật là phước hạnh khi cả gia đình cùng tận tâm phục vụ Chúa. Kính trọng, hỗ trợ những người tận tâm phục vụ Chúa là một điều tốt, xây dựng hội thánh và làm vinh hiển Chúa.
Hội thánh Cô-rinh-tô có những gia đình trung kiên, kính sợ Chúa và tận tâm phục vụ Chúa và hỗ trợ tôi tớ Chúa (Phao-lô hoặc những người đến sau ông) như gia đình Sê-pha-na nên Phao-lô được an ủi, khích lệ nhiều. Ngày nay số người đi vào chức vụ trọn thì giờ đã ít và số người từ bỏ chức vụ lại cao vì nhiều tôi tớ Chúa qúa cô đơn, không được tín hữu trong hội thánh an uỉ, khuyến khích trong chức vụ.
Hai vợ chồng A-qui-la và Bê-rit-sin cùng hội thánh họp trong nhà họ tại Ê-phê-sô (Ở Tiểu Á, Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay) gởi lời thăm hội thánh Cô-rinh-tô. Đây là hai tín hữu tại Cô-rinh-tô đã phục vụ Chúa với Phao-lô. Thật là phước hạnh khi thấy những người trung tín dù đi đâu cũng trung tín dùng nhà của mình phục vụ Chúa và hỗ trợ tôi tớ Chúa. Hai vợ chồng này khi đến Rô-ma (Rô 16:5) cũng dùng nhà mình làm hội thánh. Một điều đáng chú ý là bà Bê-rit-sin có lẽ là một phụ nữ rất xuất sắc trong công tác nhà Chúa cho nên hai vợ cồng đã được nhắc đến sáu lần trong Tân Ước và trong bốn lần tên bà Bê-rit-sin được nhắc đến trước. Điều này cũng cho thấy phụ nữ đóng một vai trò rất quan trọng và năng động trong công việïc nhà Chúa ngay từ thời các hội thánh đầu tiên.
Hội thánh phát triển, trường tồn
Hội thánh Cô-rinh-tô cũng như hầu hết những hội thánh khắp nơi khi mới được thành lập cũng như đã thành lập lâu đời đều đã có rất nhiều nan đề khó khăn và trầm trọng. Điều chúng ta đáng học từ hội thánh Cô-rinh-tô là họ đã ý thức được những nan đề, lầm lỗi của mình và thay đổi theo lời Chúa dùng Phao-lô dạy dỗ để đắc thắng, phát triển và trường tồn cho đến ngày nay.
Trong lời kết thúc Phao-lô đã khuyên hội thánh Cô-rinh-tô:
1/ Hãy tỉnh thức hay cảnh tĩnh trước mọi âm mưu, hoạt động của kẻ thù, tức là ma qủy và thế gian.
Hội thánh Cô-rinh-tô đã phải cảnh tỉnh trước những nan đề chia rẽ, đạo đức, kiêu ngạo thuộc linh (các ân tứ), tà giáo, thần học về sự phục sinh và ngày tậïn thế.
Hội thánh Cô-rinh-tô đã nghe lời khuyên dạy của Phao-lô để điều chỉnh, sửa sai những nan đề và sai lầm của mình.
2/ Vững vàng trong đức tin.
Khi đã hiểu rõ những tín lý, những giá trị đạo đức và thái độ, hành vi trong Chúa, tín hữu và giới lãnh đạo Cô-rinh-tô đã điều chỉnh và tin tưởng với lòng thuyết phục.
3/ Hãy can đảm.
Công nhận mình sai, mình có lỗi cần sự can đảm. Người có qúa nhiều tự ái thường không đủ can đảm nhận lỗi. Ngoài ra tín hữu Cô-rinh-tô cũng cần can đảm đôí diện với những khó khăn, thách thức từ thế giới ngoại đạo thù nghịch.
4/ Mạnh mẽ.
Tín hữu Cô-rinh-tô đã mạnh mẽ hành động và sống cho Chúa nên họ được Chúa thêm sức để hoàn thành sứ mệnh.
5/ Động lực tối cao của mọi hành động là “tình yêu thương” mà Phao-lô đã mô tả ở chương 1Côr 13. Yêu kính Chúa, yêu thương nhau và yêu thương người khác như mình.
a/ Yêu kính Chúa. Đây là điều răn trọng đại mà chính Chúa Giê-su cũng đã tóm tắt và nhắc nhở con dân Chúa. Phao-lô nhấn mạnh rằng người tin Chúa tức là yêu mến Chúa, “ai không yêu mến Chúa, người ấy đáng bị nguyền rủa.” Người không yêu mến Chúa là người không tin Chúa và là người vẫn còn bị đoán phạt như người ngoại đạo.
b/ Tín hữu cùng chung đức tin, chung dòng huyết của Chúa Giê-su hãy yêu thương nhau. Tình yêu thương sẽ xoá bỏ vô số tội lỗi và đoàn kết gia đình Chúa. Phao-lô xác nhận một lần nữa rằng ông yêu mến họ trong Chúa Cứu Thế Giê-su.
c/ Yêu thương người khác hay nhân loại vì Chúa Giê-su đã chết để cứu rỗi mọi người. Chúa đã yêu chúng ta, con dân Ngài, để chúng ta đem tình thương của Ngài đến cho nhân loại.
II.Câu Hỏi Thảo Luận
- Tại sao Phao-lô cho rằng dâng hiến là một phần của thờ phượng?
- Mục đích của việc quyên góp tại hội thánh Cô-rinh-tô (Hy Lạp) để giúp hội thánh Giê-ru-sa-lem là gì?
- Hội thánh của bạn (tại hải ngoại) có một phần nào để giúp các hội thánh nghèo tại quê nhà không? Tại sao?
- Ai là người nên dâng hiến trong hội thánh? Và dâng hiến theo cách nào? Theo bạn tại sao Phao-lô không bắt buộc tín hữu Cô-rinh-tô phải dâng phần mười? Ngày nay hội thánh có nên đòi hỏi tín hữu phải dâng một phần mười cho Chúa không? Tại sao có; tại sao không?
- Hãy nêu lên những bằng chứng cho thấy hội thánh người ngoại quốc từ ban đầu đã thờ phượng Chúa vào ngày thứ nhất, tức là ngày Chúa Nhật.
- Phao-lô đã quản trị và chuyển tiền dâng hiến như thế nào để khỏi bị mang tiếng?
- Phao-lô truyền cho hội thánh Cô-rinh-tô (hội thánh do ông lập) hỗ trợ tài chánh và vật chất cho cuộc truyền giáo của ông?
Hội thánh bạn có ngân sách để hỗ trợ việc truyền giáo không? Tại sao có, tại sao không?
- Đối với Phao-lô, thế nào là “cơ hội tốt” để truyền giáo và lập hội thánh? (xem thêm Công Vụ 19)
- Phao-lô coi mục sư trẻ và mong hội thánh cũng đối xử với mục sư trẻ như thế nào?
Tại sao ngày nay chúng ta thiếu qúa nhiều người trẻ đi vào chức vụ phục vụ Chúa trọn thì giờ?
- Tại sao Phao-lô được an uỉ, tươi tĩnh và vui vẻ trở lại sau những căng thẳng, tranh luận với tín hữu hội thánh Cô-rinh-tô?
- Hội thánh Cô-rinh-tô đã theo những nguyên tắc nào để khắc phục các nan đề, lầm lẫn và tà giáo và phát triển, trường tồn?