Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.

Bài 24

Tình Yêu Thương
1 Côr 13:1-13


I. Bối Cảnh và Luợc Giải
Chương mười hai nói về các ân tứ khác nhau hoạt động trong một thân thể (hội thánh). Để chuyển qua chương mười ba, tình yêu thương là nền tảng đạo đức cần yếu của tín hữu trong hội thánh và của Cơ Đốc giáo.

Sự cần thiết  của tình yêu thương.
Các tín hữu ở Cô-rinh-tô nhấn mạnh đến các ân tứ và một số người trở nên kiêu hảnh vì các ân tứ đó. Phao-lô không phủ nhận những ân tứ trong hội thánh nhưng nhắc nhở họ về mục đích hiệp nhất trong thân thể (hội thánh) Chúa và cách sử dụng thích đáng và hữu hiệu các ân tứ là vì tình yêu thương.

Dù một người có ân tứ nói tiếng lạ, tiếng thiên sứ nhưng cư xử thiếu tình yêu thương thì cũng sẽ không ích lợi cho hội thánh Chúa và cũng không có giá trị gì trước mặt  Đức Chúa Trời.
Người Do Thái tin rằng thiên sứ có thể nói tiếng người nhưng cũng có ngôn ngữ riêng của thiên sứ.

Tiếng cồng và chập chỏa tự nó chỉ là những tiếng kêu trống rỗng, ồn ào. Người Cô-rinh-tô cho rằng nói tiếng lạ là dấu hiệu của con người thiêng liêng. Phao-lô cho thấy cư xử và hành động trong tình yêu thương mới là dấu hiệu của trưởng thành thiêng liêng. Người ngoại trong một vài đạo giáo thời ấy cũng nói tiếng lạ, tiên tri và dùng chập chỏa trong khi thờ cúng các thần khác.
Ngày nay tại các nước Á Phi người ta cũng có các buổi cúng tế, lên đồng, nói tiên tri, nói tiếng ngoại quốc..

Mênh đề “dù” thứ hai bao gồm các ân tứ quan trọng, nói tiên tri, hiểu biết hay tri thức về những huyền nhiệm của Chúa và đức tin để làm những việc vĩ đại, những phép lạ nhưng không có tình yêu thương của Chúa thì người đó cũng kể như con số không trước mặt Đức Chúa Trời.

Mệnh đề thứ ba nói đến công đức từ thiện lớn lao và sự hy sinh bị thiêu đốt như một số người Do Thái thà chịu chết chứ không để bị ô uế đều là những hành động tốt và cao cả. Nhưng nếu làm vì công đức riêng, không phải vì tình yêu thương người khác như Chúa dạy thì những điều đó cũng không giúp ích gì cho người đó để được cứu rỗi.

Phao-lô không so sánh và đối chiếu các ân tứ với tình yêu thương nhưng nói đến điều kiện tiên quyết và tuyệt đối cần thiết của tình yêu thương trong đời sống một tín hữu của Chúa Cứu Thế. Không có tình yêu thương của Chúa trong lòng thì chưa phải là một tín hữu thật và trưởng thành thuộc linh; dù người đó có bao nhiêu ân tứ khác đi nữa cũng vô ích đối với cộng đồng con dân Chúa (hội thánh) và trước mặt Chúa.

Bản chất  của tình yêu thương thiêng thượng
Đây là tình yêu thương của Đức Chúa Trời được thể hiện qua đời sống và hành động của Chúa Giê-su. Tình yêu này cũng được đổ vào đơì sống của những người được tái sinh làm con dân Chúa Cứu Thế. Tín hữu có tình yêu thương thiên thượng sẽ xây dựng đời sống những người khác và hội thánh. Tri thức suông sẽ trở nên kiêu ngạo; có các ân tứ mà không có tình yêu thương cũng không ích lợi gì cho hội thánh Chúa.

Tình yêu thương luôn luôn kiên nhẫn (nhẫn nhục) đối với người khác, (không phải kiên trì chịu đựng trong nghịch cảnh) chờ đợi cho tội nhân có dịp ăn năn; không trừng phạt ngay những kẻ tội lỗi, phản loạn như Phê-rơ đã mô tả (2 Phê-rơ 3:9).

Tình yêu thương là nhân từ. Chúa cư xử bằng ân huệ và với lòng thương xót đối với những kẻ đáng phải bị hình phạt.
Năm đức tính tiêu cực phản ánh hành vi của người không có Chúa mà những tín hữu Cô-rinh-tô vẫn còn.

Tình yêu thương thiên thượng không ghen ghét; nghĩa là không có tinh thần tranh cạnh, không vui vì người khác được phúc lợi hay may mắn hơn mình.
Tình yêu thương không khoe khoang; không phô trương để gây chú ý đến cái tôi. Một số tín hữu và giới lãnh đạo hội thánh Cô-rinh-tô khoe khoang về các ân tứ tri thức, khôn ngoan và thiêng liêng để lôi cuốn tín hữu ngưỡng mộ, theo họ chống lại Phao-lô.

Tình yêu thương không kiêu ngạo; không tự coi mình là rất quan trọng và đòi hỏi mọi người phải tôn trọng mình. Thật ra Kinh Thánh cho thấy kiêu ngạo là một tội trọng trước mặt Đức Chúa Trời. Sa-tan vì kiêu ngạo mà sa ngã (Ê-xê-chi-ên 28:12-17); thủy tổ loài người vì muốn khôn ngoan như Đức Chúa Trời mà sa ngã (Sáng 3:5).

Tình yêu thương không khiếm nhã; không đối xử xẵng xớm, không nhẹ nhàng, không lịch sự với người dưới quyền hay kém hơn mình. Những người tín hữu Cô-rinh-tô giàu có đã hành động khiếm nhã đối với những tín hữu nghèo, nô lệ trong bữa ăn yêu thương tại hội thánh. 

Tình yêu thương không tìm tư lợi; không luôn luôn đòi hỏi cho được đầy đủ quyền lợi của mình nhưng nghĩ đến quyền lợi của người khác. Những người không có tình yêu thương thiên thượng chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình và đòi quyền lợi của mình như Chúa và thế giới mắc nợ họ. Người có tình yêu thương thật hài lòng với ân huệ Chúa ban cho mình và nghĩ đến trách nhiệm của mình trước mặt Chúa đôí với người khác.

Tình yêu thương thiên thượng không dễ nóng giận. Người có qúa nhiều tự ái, dễ tức giận là người chưa có tình yêu thương thiên thượng trong lòng; chưa kinh nghiệm được tình yêu thương vô đối của Chúa Giê-su ban cho mình dù mình cũng có vô số tội lỗi, khiếm khuyết trong đời sống, để bỏ qua những thương tổn người khác xúc phạm.

Tình yêu thương không ghi nhớ việc ác. Tình yêu của Chúa trong lòng tín hữu giúp họ tha thứ những việc ác người khác làm cho mình vì mình đã được Chúa tha thứ cho hết  tất cả những điều ác mình đã làm.

Tình yêu thương thật thích giúp đỡ, làm lợi ích cho người khác nên không thể vui về những việc bất chính, gian ác. Về phương diện tích cực, tình yêu thương sẽ chia vui với sự thật, tức là Phúc Âm cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế. Người có tình yêu thương của Chúa trong lòng sẽ vui mừng khi thấy một linh hồn được giải thoát khỏi tội lỗi và điều ác.

Tình yêu thương dung thứ mọi sự. Tình yêu thương thiên thượng có thể đối diện với tất cả mọi sự, mọi hoàn cảnh.
Tình yêu thương tin tưởng mọi sự. Tình yêu thương tin vào điều thiện và tốt lành trong mọi sự và mọi hoàn cảnh. Tình yêu thương cũng hy vọng vào ân huệ và quyền năng của Chúa trong việc phục hồi điều thiện, điều tốt nơi con người qua Con Ngài là Chúa Cứu Thế. Nhờ tình yêu thương của Chúa trong lòng người tín hữu có thể chịu đựng moị sự, mọi hoàn cảnh cho đến thời vinh quang của Chúa khi Ngài quang lâm.

Bản chất vĩnh cửu và vĩ đại của tình yêu thương.
Phao-lô so sánh các ân tứ tiên tri, nói tiếng lạ và tri thức mà người Cô-rinh-tô kiêu hãnh nhất với tình yêu thương thật. Các ân tứ quan trọng theo người Cô-rinh-tô nhưng thiếu tình yêu thương không những không xây dựng thân thể Chúa (hội thánh) và cũng chỉ là những ân tứ tạm thời; tình yêu thương thật mới tồn tại vĩnh cửu. Bản chất của tình yêu thương thật mới đáng là tiêu chuẩn để đo lường mức độ  trưởng thành thuộc linh.

Tín đồ Cô-rinh-tô đã chú trọng đến những ân tứ tạm thời của đời này nhưng xao lãng hay không chú trọng đến  ân tứ vĩnh cửu, tình yêu thương, là điều lợi ích cho cá nhân và hội thánh trong cả đời này lẫn đời đời.

Tín đồ Cô-rinh-tô đã nhấn mạnh đến những điều bất toàn như xem hình mình trong gương bằng đồng thau đánh bóng. Người Cô-rinh-tô nổi tiếng về những tấm gương soi bằng đồng đánh bóng vì thời đó chưa có gương bằng kính như ngày nay. Tuy nhiên những tấm đồng đánh bóng chỉ có thể phản ảnh mập mờ hình người soi, không rõ ràng như mặt giáp mặt.

Tri thức của chúng ta ngày nay, nhất là tri thức về Chúa và chương trình của Ngài chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ tri thức về Chúa và vũ trụ. Trí óc của con người là hữu hạn so với Đức Chúa Trời vô hạn.

Để kết luận về sự trưởng thành thuộc linh thật sự và vĩnh cửu Phao-lô so sánh tình yêu thương với đức tin và hy vọng. Đức tin và hy vọng là hai mỹ đức lớn nhưng tình yêu thương vẫn là mỹ đức lớn lao nhất và vĩnh cửu.

Đời sống tín hữu mẫu mực và trưởng thành là đời sống đầy tình yêu thương của Chúa. Đời sống yêu thương sẽ không bao giờ thất bại và sẽ không chấm dứt.

II. Câu hỏi thảo luận.

  1. Nói tiếng lạ có phải là dấu hiệu của một tín hữu trưởng thành không? Tại sao?
  2. Những người qúa nhấn mạnh đến các ân tứ nói tiếng lạ, tiên tri và tri thức sẽ gây nên những hậu qủa gì trong hội thánh?
  3. Tại sao Phao-lô cho rằng tín hữu Cô-rinh-tô là ấu trĩ , trẻ con?
  4. Hãy nêu lên một vài rường hợp của những người có ân tứ nói tiếng lạ, chữa bệnh, tiên tri… nhưng bị ngã nặng làm hổ danh Chúa trong thơì hiện đại ?
  5. Chúng ta nên dùng điều gì để làm tiêu chuẩn, mẫu mực cho sự trưởng thành của một tín hữu?
  6. Lấy bản chất của tình yêu thương thiên thượng (câu 4-7) làm tiêu chuẩn và mẫu mực, hãy tự lượng giá chính mình bạn là người tín hữu loại nào: (không nên so sánh với ai khác)
    ---- trẻ sơ sinh
    ---- con trẻ
    ---- thanh niên
    ---- trưởng thành
  7. Đặc tính của các ân tứ như nói tiếng lạ, tiên tri, tri thức…là tạm thời; chúng sẽ chấm dứt vào khi nào?
  8. Tại sao tín hữu nên chú tâm xây dựng tình yêu thương trong đơì sống mình?


Giải Nghĩa Kinh Thánh
Sách I Cô-rinh-tô

Chọn Bài

01   02   03 
04   05   06 

07   08   09 
10   11   12 

13   14   15 
16   17   18 

19   20   21 
22   23   24 

25   26   27 
28   29   30 

Bài Giải Đáp