Bài 23
Một Thân Thể
1Côr 12:12-31
I. Bối Cảnh và Lược Giải.
Phao-lô nhắc lại chủ đề hiệp nhất của tất cả tín hữu trong một Thân Thể của Chúa Cứu Thế dù mỗi tín hữu có thể có một ân tứ khác nhau như một thân thể gồm có nhiều chi thể (tay, chân, mắt, muĩ...). Lễ Báp-tem cũng nói lên chân lý hiệp nhất này.
Nguyên tắc hiệp nhất trong lễ báp-tem.
Điều làm cho tín hữu Cô-rinh-tô hiệp nhất là họ có cùng một kinh nghiệm trong Chúa Thánh Linh. Tất cả tín hữu không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp đều nhận cùng một Thánh Linh khi họ tin nhận Chúa Giê-su làm Chúa Cứu Thế và trở thành tín hữu của Chúa.
Một số người theo khuynh hướng ân tứ cho rằng Phao-lô muốn nói đến một kinh nghiệm mới sau khi tin Chúa, “phép Báp-tem bằng Đức Thánh Linh”. Tuy nhiên cú pháp và văn mạch của câu này lẫn chương này không nói đến một phép Báp-tem khác hay một phép “Báp-tem bằng Đức Thánh Linh” mà là nhận cùng một Thánh Linh. Nhà giải kinh Gordon Fee cho rằng từ “Linh” ở thể chỉ định cách (Dative) chỉ về chất liệu (element) chứ không phải tác nhân (agent). “Không có nơi nào từ này đi với động từ báp-tem chỉ về “tác nhân” (nghĩa là Đức Thánh Linh là Đấng làm phép báp tem cho tín hữu một lần nữa), nhưng nó luôn luôn chỉ về yếu tố mà một người được làm lễ báp-tem ở trong đó.”
Phao-lô cũng giải thích thêm về mục đích của phép báp-tem (tức là kinh nghiệm tiếp nhận Đức Thánh Linh) là để tín hữu dù khác màu da, chủng tộc hay giai cấp đều được sát nhập vào cùng một thân thể của Chúa.
Mệnh đề “uống cùng một Thánh Linh” được dùng như mệnh đề đối ( Semitic paralellism) với mệnh đề trên, cho nên cả hai mệnh đề đều nói đến cùng một điểm, tức là sự tiếp nhận Đức Thánh Linh. Như thế những câu này không nói đến một kinh nghiệm mới sau khi được cứu rỗi, hay không nói đến “ phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”.
Nguyên tắc hiệp nhất trong một thân thể (hội thánh).
Thân thể có nhiều chi thể và mỗi chi thể đều là cần yếu cho thân thể. Mỗi tín hữu là một phần của hội thánh và là một phần cần yếu của hội thánh. Mỗi chi thể làm một việc khác nhau nhưng đều làm cho thân thể chung; không phải vì công việc và phận sự khác nhau mà không làm cho thân thể và không thuộc về cùng một thân thể. Thân thể cũng không đòi hỏi tất cả các chi thể đều cùng làm một việc giống nhau, nhưng phải làm những việc và có những phận sự khác nhau trong thân thể.
Đức Chúa Trời đã định cho mỗi chi thể một phận sự theo ý Ngài. Minh họa này xác nhận lại nguyên tắc đã nói đến ở phần trên, mỗi người có một ân tứ riêng tùy theo Đức Thánh Linh ban cho.
Người tín hữu trong hội thánh phải tôn trọng mọi người và tôn trọng lẫn nhau. Các tín hữu tại Cô-rinh-tô cũng như ngày nay thường tìm kiếm và ngưỡng mộ một số ân tứ siêu nhiên nổi bật. Phao-lô khuyên tín hữu trong hội thánh phải chú ý đến những chi thể hay tín hữu có các ân tứ âm thầm, thường hoạt động phía sau hậu trường và cũng có thể bị coi là kém quan trọng.
Khi các chi thể hay tín hữu trong một thân thể đều quan tâm, đồng chăm sóc cho nhau, hội thánh đó sẽ không bị chia rẽ. Phao-lô nói đến tinh thần chia sẻ sự đau khổ và vui mừng của nhau trong hội thánh.
Mỗi tín hữu có một ân tứ riêng và là một phần của hội thánh. Đức Chúa Trời đã đặt mỗi người với vai trò và phận sự của họ trong hội thánh tùy theo ân tứ Ngài đã ban cho họ; không phải mọi người đều có cùng một vai trò hay phận sự. Phao-lô đặt câu hỏi, “có phải tất cả là Sứ Đồ sao? Có phải tất cả đều là tiên tri sao?...” và không cần trả lời vì cấu trúc của câu hỏi cho biết câu trả lời là “không”.
Phao-lô nêu lên một số chức vụ trong hội thánh:
Sứ Đồ: Chức vụ này thường chỉ về mười hai người do Chúa Giê-su chọn và ban cho họ chức vụ này. (Mat 10:1-4) Phao-lô cũng được gọi là Sứ Đồ của Chúa Giê-su dù ông gặp Chúa Giê-su sau khi Ngài sống lại. Ngoài ra một số người khác cũng được gọi là sứ đồ có thể với ý nghĩa “người được sai đi” hay giáo sĩ ngày nay. (Ga-la-ti 1:15 Gia-cơ ; Ba-na-ba Công Vụ 14 v.v.)
Giáo sư: Người dạy Kinh Thánh và các giáo lý của các Sứ Đồ (Công Vụ 2:42).
Phao-lô cũng nói đến chức vụ mục sư-giáo sư (Ê-phê-sô 4:11) tức là không phải chỉ dạy dỗ nhưng cũng chăn giữ, nuôi nấng như người chăn bầy chiên.
Người giúp đỡ: Người có tâm tình và khả năng sẵn sàng giúp đỡ về vật chất lẫn tâm linh cho những người có nhu cầu, thiếu thốn.
Người quản trị: Người co ùkhả năng hướng dẫn, chỉ huy cộng đồng.
Như thế Đức Chúa Trời là Đấng thiết lập hội thánh của Ngài và Ngài đã thiết kế theo những nguyên tắc nhất định:
1. Hội thánh là một cộng đồng có trật tự, không phải hổn độn. (1Côr 14:33)
2. Chúa đặt những chức vụ khác nhau trong hội thánh.
3. Chúa ban cho mỗi tín hữu một ân tứ khác nhau, không phải tất cả mọi người đều có cùng một ân tứ giống nhau.
Ngày nay có nhiều hội thánh chủ trương mọi người phải “nói tiếng lạ” là một áp dụng sai lầm. Một số hội thánh lại đi đến chỗ cực đoan sai lầm khác là cấm nói tiếng lạ. Phao-lô dạy rõ:
“đừng ngăn cấm việc nói tiếng lạ.” (1 Côr 14:39)
4. Các ân tứ là do Đức Thánh Linh ban cho mỗi người tùy theo ý Ngài.
(1 Côr 12:11) như thế tín hữu nên cầu xin Chúa ban cho mình ân tứ Ngài đã định sẵn là tốt nhất cho mình và cho lợi ích chung của hội thánh chứ không phải những ân tứ mình thích. Ngoài ra chúng ta cũng không nên dự các buổi “huấn luyện ân tứ” để được huấn luyện và nhận các ân tứ mình muốn.
II. Câu Hỏi Thảo Luận:
- Tất cả tín hữu khi tin Chúa đều có chung một kinh nghiệm, kinh nghiệm đó là gì?
- “Chúng ta chịu phép báp-tem trong cùng một Thánh Linh” nói đến điều gì?
- Hãy nêu lên những lý do cho thấy câu 1 Cor 12:13 không có ý nói đến một kinh nghiệm mới sau khi tin Chúa mà một số người thường gọi là “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”.
- Khi nào thì một người được sát nhập vào thân thể (hội thánh) của Chúa Cứu Thế?
- Hãy nêu lên một vài ý kiến để áp dụng nguyên tắc “Hiệp nhất trong đa dạng” hay “Một thân nhiều chi thể” trong hội thánh chúng ta.
- Bạn sẽ giải quyết thế nào nếu có người đòi hỏi tất cả tín hữu trong hội thánh phải “nói tiếng lạ”.
- Bạn sẽ giải thích thế nào cho những người mời bạn tham gia những khóa huấn luyện “nói tiếng lạ” hay “chữa bệnh”?
- Mọi tín hữu trong hội thánh nên hành xử với nhau như thế nào để khỏi xảy ra tình trạng chia rẽ?