Bài 22
Thân Thể Chúa
1Côr 12:1-11
I. Bối Cảnh và Lược Giải.
Chương 12 Phao-lô nhấn mạnh đến sự hiệp nhất, hỗ tương giữa các bộ phận khác biệt của thân thể Chúa, đặc biệt là các ân tứ khác nhau cho cùng một mục đích.
Tuyên xưng Chúa Giê-su.
Phao-lô nhắc lại cho các tín hữu Cô-rinh-tô biết rằng họ đang sống trong một nền văn hóa ngoại giáo mà trước đây họ cũng đã là một thành phần. Vào thời này tại các đền thần hùng biện Hy Lạp người ta cũng nói tiên tri khi được thần nhập (tương tự như lên đồng tại các đền miếu đồng cốt tại các nước Á Phi ngày nay ). Như thế không phải tất cả người nói tiên tri hay nói tiếng lạ đều là do Đức Thánh Linh.
Những người tuyên bố rằng họ nói tiên tri hay tiếng lạ hay làm những phép lạ khác phải được thử bằng nội dung lời tiên tri (giáo lý) và bằng đức tin tận hiến cho Chúa Giê-su. Trong đời sống vào thời ấy một người phải thật sự tin Chúa và được Đức Thánh Linh ngự vào lòng và kiểm soát mới dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế và Chúa Tể của họ. Vì người Do Thái không tin Chúa Giê-su thường trưng dẫn “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ”( Phục 21:23) để bài bác Chúa Giê-su. Và rất có thể họ cũng dùng lời rủa tên Chúa Giê-su để chứng minh sự trung thành của mình với Do Thái giáo và để khỏi bị trục xuất khỏi hội đường Do Thái.
Về sau này, trong thời gian bắt bớ Đạo Chúa, chính quyền La Mã đã bắt những người tình nghi theo Đạo Chúa phải công khai rủa sả tên Chúa. Người nào không chịu rủa tên Chúa chứng tỏ rằng họ là tín hữu của Chúa và sẽ bị hành hình.
Trên một phương diện khác khi một người tin Chúa Giê-su làm Chúa Cứu Thế người đó cũng nhận Chúa Giê-su là vua, là Hoàng Đế, Chúa Tể của đời sống mình trên cả hoàng đế La Mã vì thời đó người ta thường tuyên xưng “Sê-sa là Chúa”. Hội thánh cũng đã dùng câu tuyên xưng “Đức Giê-su là Chúa Tể” để bày tỏ lòng tin tuyệt đối và tối cao nơi Chúa Giê su.
Sự hiệp nhất trong thân thể (hội thánh) của Chúa.
Phao-lô cho tín hữu Cô-rinh-tô thấy đặc tính “hiệp nhất trong đa dạng” cũng là đặc tính của Đức Chúa Trời Ba Ngôi hiệp nhất. Chúng ta thấy chỉ có một Đức Thánh Linh ban cho và sử dụng nhiều ân tứ khác nhau trong hội thánh. Chúa Giê-su cũng dùng nhiều phương cách phục vụ khác nhau giữa vòng các tín hữu trong hội thánh. Đức Chúa Trời hành động trong hội thánh bằng nhiều hoạt động khác nhau.
Mỗi tín hữu trong hội thánh đều được Đức Thánh Linh ban cho ân tứ riêng. Điều này nói đến năm vấn đề:
-Mỗi tín hữu đều có ít nhất là một ân tứ của Đức Thánh Linh. Mỗi tín hữu cần tìm kiếm xem mình có ân tứ nào để sử dụng cho chính mình và cho lợi ích chung của hội thánh và của Chúa.
- Chúng ta cũng cần lưu ý rằng cách Phao-lô liệt kê các ân tứ và chức vụ trong đoạn này cũng như trong Rô-ma 12 và Ê-phê-sô 4 cho thấy đây không phải là tất cả ân tứ mà chỉ là một số ân tứ phổ thông trong hội thánh Cô-rinh-tô lúc ấy mà thôi.
- Đức Thánh Linh thể hiện mỗi ân tứ bằng nhiều cách khác nhau như việc phục vụ, hoạt động khác nhau trong hội thánh.
-Mỗi tín hữu đều có một ân tứ khác nhau. Không phải tất cả tín hữu đều có cùng một ân tứ giống nhau và phải hành động giống nhau. Chúng ta thấy hội thánh có sự hiệp nhất trong Chúa Cứu Thế, trong đức tin, trong một mục đích nhưng không bắt buộc mọi người phải sống và hành động giống nhau .(Đa dạng không phải “đồng dạng”; unity in diversity not uniformity)
-Các ân tứ được ban cho tín hữu để sử dụng cho “lợi ích chung” của hội thánh, tức là cho cộng đồng con dân Chúa chứ không phải cho lợi ích cá nhân.
Các ân tứ:
1/ Lời nói khôn ngoan.
Đức Thánh Linh ban cho một số người ân tứ biết áp dụng những tri thức thuộc linh và siêu nhiên hoặc có những quyết định khôn ngoan về một số sự kiện để giải quyết một vấn đề.
2/ Lời nói tri thức.
Phao-lô có thể muốn nói đến tri thức thuộc linh và siêu nhiên. Một số cho rằng Phao-lô nói về tri thức huyền bí liên quan đến mạc khải và triên tri.
Một số học giả ân tứ ( Dennis & Rita Bennett ) giải thích lời khôn ngoan là “sự mạc khải siêu nhiên về các sự kiện trong quá khứ, hiện tại, tương lai không do sự học hỏi của trí óc tự nhiên.”
3/ Đức tin.
Đức tin ở đây không nói đến đức tin nơi Chúa Giê-su để được cứu rỗi nhưng đức tin nơi Chúa để thực hiện những điều khó khăn, lớn lao.
4/ Ân tứ chữa bệnh. Từ này ở số nhiều nên có thể nói đến các loại bệnh khác nhau.
5/ Ân tứ phép lạ. Làm những việc siêu nhiên.
6/ Tiên tri. Nói lời của Chúa khải thị cho họ để truyền lại cho con dân Chúa. Tiên tri có thể bao gồm cả tiên đoán tương lai nhưng không nhất thiết lúc nào cũng chỉ tiên đoán tương lai; trái lại tiên tri nhằm mục đích xây dựng, khuyến khích, an uỉ. (1 Cor 14:3)
7/ Phân biệt các thần linh.
Ân tứ này giúp tín hữu phân biệt giữa Đức Thánh Linh và các tà thần có thể đang ám một người.
8/ Nói tiếng lạ.
Một số người cho rằng “tiếng lạ” chỉ về ngôn ngữ ngoại quốc như ở lễ Ngũ Tuần (Công Vụ 2). Tuy nhiên ở đây Phao-lô nói rõ rằng không ai hiểu “tiếng lạ” và người nói tiếng lạ nói với Đức Chúa Trời (1Côr 14:2)
Leon Morris viết: “Lời nói xuất thần bằng ngôn ngữ không ai hiểu do ảnh hưởng của Chúa Thánh Linh có vẻ như là điều Phao-lô muốn nói đến ở đây.”
9/ Thông dịch tiếng lạ.
Chính người nói tiếng lạ hay người khác có ân tứ thông dịch tiếng lạ chuyển ra ngôn ngữ người ta hiểu được.
Ngày nay giữa vòng những tín hữu Phúc Âm Thuần Túy (Evangelical Christians) có hai quan niệm về các ân tứ thuộc linh:
1/Một số các ân tứ siêu nhiên như nói tiếng lạ, chữa bệnh, phép lạ, tiên tri đã ngưng, không còn hoạt động nữa. Những người này cho rằng các ân tứ phép lạ là những dấu hiệu của Chúa Cứu Thế và các Sứ Đồ để thiết lập và xây dựng hội thánh lúc ban đầu. Sau thời các Sứ Đồ, hội thánh đã được thiết lập nên các ân tứ này cũng chấm dứt. (1Côr 13:8)
2/ Các tín hữu Phúc Âm Thuần Túy theo ân tứ cho rằng các ân tứ trên được ban cho để xây dựng hội thánh và hội thánh lúc nào cũng cần được xây dựng cho đến khi Chúa Giê-su tái lâm cho nên các ân tứ này vẫn còn và đang thịnh hành.
Phao-lô nói đến các ân tứ nói tiếng lạ, tiên tri, tri thức sẽ chấm dứt vào thời tận thế và vào ngày phán xét chứ không phải khi hội thánh đã dược thiết lập vững vàng.
Xét về bối cảnh, văn mạch thư Cô-rinh-tô người ta thấy rằng Phao-lô không có ý cấm đoán việc nói tiếng lạ: “ đừng ngăn cấm việc nói tiếng lạ”. (1Côr 14:39) Và cũng không có dấu hiệu gì cho thấy rằng các ân tứ này sẽ chấm dứt khi hội thánh được thành lập vững vàng.
Tuy nhiên Phao-lô cho thấy rõ các ân tứ nói tiếng lạ, phép lạ có vai trò kém quan trọng và kém hữu ích hơn trong việc xây dựng đức tin, đời sống đạo đức tín hữu và truyền giáo cho người ngoại đạo.
Nan đề chúng ta thấy ngày nay:
1/ Một số tín hữu theo khuynh hướng ân tứ đã quá chú trọng đến các ân tứ nói tiếng lạ, chữa bệnh, tiên tri… và một số rơi vào tình trạng lạm dụng các ân tứ này để tìm lợi ích cá nhân và thủ lợi làm cho nhiều người ngoại đạo bất mãn, vi phạm đến Danh Chúa.
2/ Đức Thánh Linh phân phối các ân tứ cho mỗi người tùy ý Ngài. (1Côr 12:11) Không phải tất cả tín hữu đều có ân tứ nói tiếng lạ. Cho nên đòi hỏi tất cả tín hữu đều nói tiếng lạ hay tổ chức huấn luyện tín hữu nói tiếng lạ là một áp dụng sai lầm.
3/ Lễ Ngũ Tuần là một biến cố tiên khởi, xảy ra chỉ một lần khi Đức Thánh Linh giáng lâm, khai trương thời đại mới cho nên tất cả những người tín hữu hiện diện đều đầy dẫy Đức Thánh Linh và nói tiếng lạ.
Sách Công Vụ cho thấy các Sứ Đồ và tín hữu sau đó cũng được đầy dẫy Thánh Linh nhiều lần khác nhau và trong những lần này người tín hữu được đầy sự vui mừng, đầy đức tin, đầy can đảm rao giảng Lời Chúa, hết lòng ca ngợi Chúa… chứ không nhất thiết là nói tiếng lạ. Vì thế ngày nay việc đòi hỏi mọi người phải nói tiếng lạ là một áp dụng lầm lẫn.
4/ “Vì người nói tiếng lạ không phải nói với người nhưng nói với Đức Chúa Trời.” 1Côr 14:2
Như thế một tín hữu có ân tứ nói tiếng lạ nên nói với Chúa riêng tư hay trong lúc cầu nguyện riêng tư.
Cấm nói tiếng lạ là một hành động cực đoan, sai lầm vì Phao-lô nói rõ: “Đừng ngăn cấm việc nói tiếng lạ.” (1Côr 14:39)
Nhưng khuyến khích nói tiếng lạ ồn ào, náo nhiệt trong khi thờ phượng cũng là một áp dụng cực đoan, lầm lẫn.
II.Câu Hỏi Thảo Luận
- Bạn đã thấy người lên đồng cốt, xiêng (đâm xuyên qua tay, mặt) mà không bị thương hay chảy máu; người cho bùa, tàn nhang, nước thải chữa bệnh chưa? Những người này nhờ ai để làm những việc đó?
- Nói tiếng lạ, làm phép lạ, chữa bệnh có phải là một bằng chứng chắc chắn rằng người này có Đức Thánh Linh không? Tại sao?
- Phao-lô khuyên tín hữu phải dùng những điều gì để thử và xét xem một người có thật có các ân tứ của Chúa Thánh Linh không?
- Lời tuyên xưng “Đức Giê-su là Chúa” có nghĩa là gì?
- Vào thời hội thánh đầu tiên, một người có thể phải trả gía bằng gì nếu họ công khai tuyên xưng: “Chúa Giê-su là CHÚA của tôi”.
- Hãy xét xem Chúa Giê-su có phải là Chủ Tể, là Vua tối cao của bạn không?
- Về vấn đề tình cảm: Bạn chọn người bạn đời theo lời Chúa dạy (tin Chúa) hay theo con tim của mình?
- Về vấn đề “huyết mạch” (tài chánh) của đời sống: Bạn có dâng phần mười cho Chúa như một công dân trong một vương quốc phải dâng cho vua của họ không? (Không phải dâng một phần mười mơí được cứu rỗi.)
- Về vấn đề làm ăn: Bạn có làm ăn theo Lời (luật đạo đức) của Chúa không?
- Chúng ta phải có thái độ nào và hành động gì trong hội thánh theo nguyên tắc:
“Hiệp Nhất Trong Đa Dạng”
để xây dựng hội thánh Chúa và làm vinh hiển Danh Chúa.