Bài 21
Lễ Tiệc Thánh
1Côr 11:17-34
I. Bối Cảnh và Lược Giải.
Vào thời các hội thánh đầu tiên tại Palestine (Do Thái) lễ tiệc thánh là một phần của bữa tiệc Lễ Vượt Qua của người Do Thái. (xem Ma-thi-ơ 26:17-30) Theo Kinh Thánh Cựu Ước bữa ăn lễ Vượt Qua gồm có thịt chiên con, bánh không men và rau đắng. Sau đó theo thời gian truyền thống Do Thái thêm vào một số biểu tượng khác trong bữa ăn lễ Vượt Qua như cái trứng nướng, cái ly Ê-li, rượu nho đỏ, hát Thánh Thi 115-118 để kết thúc…
Tín hữu tại Cô-rinh-tô trong thời gian khởi đầu có thể cũng theo phong tục Hy-La, tụ họp thờ phượng Chúa trong nhà một người khá gỉa. Theo phong tục của người Hy Lạp hay La Mã thời bấy giờ khách quí thuộc giới thượng lưu thường được ngồi trên phòng khách và được tiếp đãi chu đáo với những thức ăn ngon; những người khách khác ngồi ở nhà dưới và thức ăn cũng kém hơn. Những khách bị ngồi ở nhà dưới thường than phiền chủ nhà. Nan đề phân biệt giai cấp này có thể cũng xảy ra trong hội thánh Cô-rinh-tô thời ấy.
Nan đề phân chia giai cấp
Tín hữu Cô-rinh-tô trong giai đoạn đầu có thể nhóm họp tại tư gia để thờ phượng Chúa và dùng bữa ăn yêu thương (Công Vụ 2:42,46) mô phỏng theo bữa ăn lễ Vượt Qua. Có lẽ vào cuối bữa ăn người ta sẽ cử hành lễ Tiệc Thánh.
Mỗi tín hữu khi đi thờ phượng đem theo thức ăn của mình hay gia đình mình nhưng sẽ để chung với nhau và tất cả cùng ăn chung. Khi theo đúng nguyên tắc này như những tín hữu đầu tiên ( Công Vụ 2: 42-47) đã làm, hội thánh bày tỏ một tinh thần hiệp nhất, thông công, yêu thương lớn lao như Chúa Giê-su đã dạy. Nhưng tín hữu tại Cô-rinh-tô vẫn còn bị ảnh hưởng của xã hội ngoại đạo Hy-La; khi đến nhà một người (thường là giàu có, thượng lưu) để thờ phượng Chúa; người giàu, thượng lưu đem nhiều đồ ăn và ngồi chung với người giàu có thượng lưu trong phòng khách; những người nô lệ thường không có gì nhiều để đem theo và có lẽ phải ngồi ở nhà dưới. Hội thánh Cô-rinh-tô lúc bấy giờ có thể gồm đủ mọi giai cấp trong xã hôïi như công dân La Mã, người buôn bán, thợ thuyền, nô lệ, tự do nhưng không phải công dân La Mã…
Phao-lô trách tín hữu hội thánh Cô-rinh-tô vì họ đã làm hại tinh thần thông công, hiệp nhất và yêu thương khi nhóm họp thờ phượng Chúa. Tín hữu Cô-rinh-tô đã phân biệt giai cấp, phân biệt giàu nghèo, chia rẽ, ích kỷ, không có tinh thần chia sẻ, tương thông với nhau. Chúa Giê-su dạy tín hữu phải yêu thương nhau (Giăng 15:12). Phao-lô cho chúng ta biết chúng ta là anh chị em trong một gia đình của Chúa(Êph 2:19). Hành vi phân biệt giai cấp, ích kỷ, không hiệp nhất, không có tinh thần chia sẻ, tương thông với nhau trong khi dự bữa ăn yêu thương và dự lễ Tiệc Thánh trong hội thánh Chúa đều bị Phao-lô cho rằng “anh chị em khinh bỉ Hội Thánh của Đức Chúa Trời”.
Thờ phượng Chúa là hành động nhằm mục đích tôn vinh, ca ngợi và cảm tạ Chúa nhưng đồng thời cũng giúp cho đời sống đức tin, yêu thương, tinh thần thông công, tương trợ, hiệp nhất và yêu thương nhau tăng trưởng, lớn mạnh trong Chúa.
Dự lễ Tiệc Thánh một cách xứng đáng.
Lễ Tiệc Thánh do chính Chúa Giê-su thiết lập (Math 26:26-30) nên Phao-lô cho rằng mình đã nhận từ Chúa và truyền lại thánh lễ này cho tín hữu Cô-rinh-tô. Lễ tiệc thánh là một lễ cần được cử hành thường xuyên trong hội thánh. Lễ tiệc thánh chỉ dành cho tín hữu tham dự; người ngoại đạo hay chưa tin nhận Chúa không được tham dự.
Về ý nghĩa lễ tiệc thánh ngưòi ta thấy có vài quan niệm khác nhau trong vòng các nhánh của Đạo Chúa:
1/ Quan điểm Công Giáo:
Linh mục giáo sư Ludwig Ott viết “Phép Thánh Thể là một Bí Tích mà Đức Ky-tô, dưới dạng bánh và rượu nho, thực sự hiện diện với thân thể và máu của Ngài để dâng hiến chính mình Ngài bằng một cách không có máu cho Đức Chúa Cha thiên thượng, và ban chính mình Ngài làm thức ăn cho linh hồn tín hữu.”
Ba điểm quan trọng trong giáo lý Thánh Thể của Công giáo, thứ nhất, bản chất của bánh và rượu nho biến thành thân thể và máu của Chúa Giê-su dù bề ngoài hình thức của bánh và rượu nho không có gì thay đổi. Thứ hai, mỗi lần cử hành Bí tích Thánh Thể là mỗi lần thân thể và máu của Chúa lại được hy sinh cho tín hữu. Thứ ba, Bí tích Thánh Thể phải được linh mục chính thống cử hành mới có hiệu qủa; nếu không bánh và rượu nho vẫn chỉ là bánh và rượu nho.
Về điểm thứ nhất chúng ta thấy rằng Công giáo đã hiểu sai lời nói của ChúaGiê-su. Chúa đã nhiều lần tuyên bố về Ngài với ý nghĩa biểu tượng hay ýnghĩa thiêng liêng như, “Ta là cây nho thật.” (Giăng 15:1) ; “Chính Ta là cửa ra vào, ai qua Ta mà vào sẽ được cứu.” (Giăng 10:9) Ngoài ra khi tuyên bố điều này Chúa Giê-su chưa bị hy sinh trên thập tự gía; thân và huyết của Chúa đang hiện diện riêng rẽ với bánh và rượu nho Ngài cầm trên tay; không lẽ thịt và huyết của Ngài biến hóa thành bánh và rượu nho ngay lúc ấy; rõ ràng Chúa muốn nói đến ý nghĩa biểu tượng. Thứ hai Phao-lô trong Kinh Thánh Tân Ước nói rõ Chúa Giê-su chỉ chịu chết hy sinh mạng sống của mình một lần đầy đủ cả cho đến vĩnh cửu: “Bởi vì Ngài chết là chết cho tội lỗi một lần đầy đủ cả.” (Rô 6:10) Trước gỉa Hê-bơ-rơ cũng ghi: “Bên kia, một Đấng dâng chỉ một sinh tế chuộc tội cho đến đời đời, rồi ngự trị bên phải Đức Chúa Trời…Vì dâng một tế lễ duy nhất, Ngài làm hoàn hảo, vĩnh viễn những người được thánh hóa”. (Hê 10:12,14)
Về điểm thứ ba, lễ Tiệc Thánh được Chúa truyền cho các Sứ Đồ và cho hội thánh (1Côr 11:23-26), nên những người lãnh đạo trong hội thánh cử hành là hợp lẽ và không ai có thể có khả năng hay đủ điều kiện để biến bánh và rượu nho thành thân và huyết của Chúa.
2/ Quan điểm của Lu-tơ.
Quan điểm của nhà cải chánh Lu-tơ khác hơn quan điểm của Công giáo ở một vài điểm. Lu-tơ cho rằng thân thể và máu của Chúa Giê-su hiện diện “trong, với và dưới” bánh và rượu nho nhưng bánh và rượu nho không trở thành thân thể và máu của Chúa.
Lễ Tiệc Thánh không phải là một sự hy sinh mới Chúa dâng lên Chúa Cha vì Ngài chỉ dâng một lần đầy đủ tất cả. Lu-tơ chủ trương rằng lễ Tiệc Thánh nên được cử hành bởi một người được thụ phong thích đáng nhưng thân và máu của Chúa hiện diện là do quyền năng của Ngài chứ không do hành động của một ai hay bất cứ một điều gì khác.
Quan điểm này gặp sự khó khăn để giải thích sự hiện diện của bản chất thể chất của Chúa Giê-su. Chính Chúa Giê-su nói với các môn đệ rằng “Con không ở trong thế gian nữa, nhưng họ vẫn ở lại trong trần gian.” (Giăng 17:11) Quan niệm cho rằng Tiệc Thánh là biểu tượng thiêng liêng củasự hy sinh của Chúa là hợp lý nhất.
3/ Quan điểm của Calvin hay Cãi Chánh và của đa số người Tin Lành.
Calvin cho rằng sự hiện diện của Đức Ky-tôn trong Tiệc thánh là thuộc linh: “Để đạt đến mục đích đó, vì thế Chúa đã nhờ cánh tay của Con Một Ngài, ban cho hội thánh Ngài một thánh lễ khác, đó là một bữa tiệc thuộc linh, qua đó Đấng Ky-tôn tự mình trở thành bánh ban sự sống để linh hồn chúng ta được nuôi sống và được phước bất tử…Thứ nhất, những dấu hiệu là bánh và rượu nho đại diện cho thức ăn vô hình mà chúng ta nhận từ thân và máu của Đức Ky-tôn…Này, Đức Ky-tôn là thức ăn duy nhất cho linh hồn chúng ta.” Tiệc Thánh đóng ấn tình yêu thương của Chúa trong lòng người dự và xác chứng sự phong phú của Phúc Âm và tất cả những lời hứa của giao ước mới trong đời sống tín hữu.
Zwingli quan niệm rằng lễ Tiệc Thánh là một lễ kỷ niệm sự chết của Chúa Giê-su.
Đa số những người Tin Lành khác thuộc Phúc Âm Thuần Túy (Evangelical) tin rằng lễ Tiệc Thánh là một biểu tượng và có ý nghĩa thuộc linh. Chúa Giê-su hứa rằng : “Vì ở đâu có hai hay ba người nhân danh Ta họp nhau lại, Ta sẽ ở giữa họ.” (Math 18:20) vì thế Chúa Giê-su hiện diện một cách thuộc linh trong lễ Tiệc Thánh và trong lòng những người tin.
Phao-lô trách tín hữu Cô-rinh-tô vì họ đã dự Tiệc Thánh với thái độ và cung cách không thích hiệp cho nên một số người trong vòng họ đã bị Chúa phạt đau yếu, bệnh tật và ngay cả chết nữa. Đây là hình phạt về thể xác để khỏi phải bị đoán phạt đời đời chung với thế gian (câu 32).
Thứ nhất tín hữu Cô-rinh-tô đã dự Tiệïc Thánh trong tinh thần chia rẽ, kỳ thị. Một trong những ý nghĩa của lễ Tiệc Thánh là sự hiệp nhất trong Thân Thể (Hội Thánh) Chúa Cứu Thế. Tín hữu Cô-rinh-tô chia rẽ tức là phản lại tinh thần hiệp nhất trong thân thể của Chúa.
Thứ hai, một số tín hữu Cô-rinh-tô đã ăn uống no say, hoàn toàn thiếu ý thức đến sự hy sinh đền tội của Chúa cho họ và sự hiện diện thuộc linh của Chúa Cứu Thế giữa vòng họ.
Chúa dạy chúng ta dự Tiệc Thánh để nhớ đến sự hy sinh đền tội của Chúa cho chúng ta và chúng ta nhận được sự tha thứ tội lỗi cùng sự sống vĩnh phúc là nhờ đức tin nơi Ngài chứ không phải do công đức của chúng ta. Dự Tiệc Thánh là dịp để tín hữu xét mình, ăn năn, xưng tội cùng Chúa để được tha thứ, thánh hóa.
Chúa Cứu Thế là thực phẩm thiêng liêng cho linh hồn chúng ta, vì thế dự Tiệc Thánh là dịp xác chứng sự cứu rỗi, tình yêu thương và giao ước mới và đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta tiếp tục nhận thực phẩm thuộc linh từ Chúa Cứu Thế qua sự tương giao với Ngài.
Dự Tiệc Thánh để tái xác nhận sự hiệp nhất của tín hữu vào Thân Thể Chúa Cứu Thế và sự hiệp nhất của Thân Thể Chúa giữa vòng tín hữu với nhau.
Dự Tiệc Thánh là hành động biểu tượng để ghi nhớ và rao truyền sự hy sinh của Chúa cho mọi người cho đến khi Chúa tái lâm.
II. Câu Hỏi Thảo Luận.
- Theo bạn quan niệm nào về lễ Tiệc Thánh là hợp với Kinh Thánh nhất? Hãy nêu bằng chứng hỗ trợ cho lý luận của bạn.
- Tại sao dự Tiệc Thánh với tinh thần phân chia giai cấp và chia rẽ là một tội trọng?
- Một số người vì có những hành động tội lỗi, không đẹp lòng Chúa trong đời sống hàng ngày nên không dám dự tiệc thánh vào Chúa Nhật.
Bạn nên khuyên những người này như thế nào?
- Hội thánh nào có buổi ăn thông công cho mọi người trong hội thánh mỗi tuần là một thành công lớn (giống các hội thánh đầu tiên).
Theo bạn, tại sao nhiều hội thánh ngày nay không có được buổi ăn thông công hàng tuần cho mọi người trong hội thánh?
- Dự Tiệc Thánh cũng để nhắc nhở tín hữu nhớ đến trách nhiệm gì?
- Tại sao chúng ta không cần phải lập lại sự hy sinh của Chúa Cứu Thế?
- Điều gì trong Tiệïc Thánh nhắc nhở tín hữu rằng Chúa Cứu Thế đã sống lại và đang ngồi bên hữu Đức Chúa Cha?