Copyright 2008-2009 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.

Bài 18

Sứ Đồ của Chúa
1 Côr 9:1-27


I. Bối Cảnh và Lược Giải.
Vì nhiều người Cô-rinh-tô cho rằng họ có đủ khôn ngoan và vì nạn bè phái trong hội thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô có thể bị phê bình, chỉ trích và có thể một số người cho rằng ông không phải là Sứ Đồ như Phê-rơ. Vì thế Phao-lô biện hộ cho chức Sứ Đồ của mình.

Những điều kiện của một Sứ Đồ của Chúa Giê-su.
Từ ngữ “sứ đồ” mang ý nghĩa “Một người được sai phái để thi hành một chức vụ”. Từ này thường được dùng để chỉ 12 người môn đệ được Chúa Giê-su chọn và sai phái đi truyền bá Phúc Âm.
Sau khi ChúaGiê-su đã thăng thiên, mười một Sứ Đồ còn lại đã đề nghị chọn một người trong vòng các môn đồ của Chúa để bổ sung cho Giu-đa, người phản Chúa đã chết. Những điều kiện để được chọn làm sứ đồ (Công Vụ 1:21-22):
1/ Một người tin và đi theo Chúa Giê-su ngay từ đầu, “từ khi Giăng làm phép Báp-tem cho đến ngày Đức Giê-su được tiếp lên trời khỏi chúng ta.”
2/ Một người chứng kiến sự sống lại của Chúa Giê-su.
3/ Một người được Chúa Giê-su chọn.

Phao-lô là Sứ Đồ cho người ngoại vì Chúa Giê-su phục sinh đã hiện ra và gặp ông trên đường đi Đa-mách. (Công Vụ 9:1-9; 1 Côr 15:1-11) Phao-lô coi biến cố này là sự gặp gỡ Chúa Giê-su phục sinh chứ không phải chỉ là một khải tượng. Và dĩ nhiên Chúa Giê-su đã chọn và kêu gọi Phao-lô làm Sứ Đồ cho người ngoại quốc.

Phao-lô cũng cho thấy dấu hiệu của Sứ Đồ là những dấu lạ, phép mầu ông đã thực hiện giữa vòng người Cô-rinh-tô khi truyền giảng Phúc Âm (2Côr 12:12).
Ngoài ra Phao-lô cũng nhắc nhở cho hội thánh Cô-rinh-tô biết rằng chính hội thánh Cô-rinh-tô là do Phao-lô thiết lập, là kết quả, là dấu ấn chứng thực chức sứ đồ của ông. Lý luận tiềm ẩn ở đây thật là mạnh mẽ và hùng hồn. Nếu những tín hữu Cô-rinh-tô tin rằng họ là hội thánh thật củaChúa Giê-su, và không có lý do gì để nghi ngờ điều này, thế thì chức Sứ Đồ của Phao-lô cũng phải thật, vì chính Chúa đã chọn, sai phái và giúp Phao-lô thành lập hội thánh Cô-rinh-tô.

Kết qủa thuộc linh là bằng chứng hùng hồn nhất của một người được Chúa chọn và sai phái phục vụ Ngài.

Quyền lợi của tôi tớ Chúa và trách nhiệm của hội thánh Chúa đối với tôi tớ Chúa.
Phao-lô mong rằng những tín hữu Cô-rinh-tô hiểu rõ trách nhiệm của họ là hỗ trợ những tôi tớ Chúa để trọn thì giờ phục vụ, dạy dỗ họ. Dù chính bản thân Phao-lô là người sáng lập hội thánh Cô-rinh-tô; ông đã làm việc để sinh sống trong khi phục vụ hội thánh mà không nhận thù lao. Điều này khiến cho một số người Cô-rinh-tô nghĩ rằng họ không có trách nhiệm chu cấp cho tôi tớ Chúa phục vụ hội thánh, hoặc gỉa Phao-lô và những người đồng lao với ông không có quyền nhận phụ cấp của hội thánh.

Phao-lô liệt kê một số những quyền lợi mà ông và những đồng lao của ông đáng lý phải được hội thánh chu cấp khi họ để trọn thì giờ để giảng dạy Lời Chúa.
1/ Phao-lô và đồng lao củaông có quyền được hội thánh chu cấp để sinh sống khi để trọn thì giờ giảng dạy, phục vụ hội thánh Chúa.
2/ Họ có quyền lập gia đình và cả gia đình của tôi tớ Chúa cũng được chu cấp để sinh sống.

Phao-lô nêu lên sự kiện sứ đồ Phê-rơ, các Sứ Đồ khác và các em của Chúa Giê-su đều có vợ và gia đình họ đều được các hội thánh chu cấp để sinh sống trong khi hầu việc Chúa. Như thế Phao-lô và Ba-na-ba cũng phải có đầy đủ những quyền lợi đó.

Phao-lô cho hội thánh Cô-rinh-tô thấy quyền này là một nguyên tắc tự nhiên từ xưa trong thiên nhiên, trong đời sống hàng ngày và trong thời Cựu Ước.
a/ Người lính trong thời ấy nhận lương của hoàng đế hay vua bản xứ.
b/ Người nông dân trồng nho sẽ được ăn qủa.
c/ Người nuôi súc vật mong sẽ lấy sữa để uống.
Nguyên tắc này đã được Kinh Thánh dạy dỗ và xác nhận. Phao-lô cũng cho thấy nguyên tắc này đã được thi hành trong hệ thống tế lễ của Do Thái giáo.
d/ Thầy tế lễ và người Lê-vi phục vụ trong  đền thờ sẽ nhận được một phần các sinh tế (thịt) và các phần dâng hiến khác trong đền thờ Chúa để sinh sống.
e/ Phao-lô trích dẫn lời Chúa Giê-su dạy (Mat 10:10; Lu-ca:7-8) về việc người  giảng Phúc Âm  đáng được những người tiếp nhận Phúc Âm (hội thánh) hỗ trợ.

Phao-lô cho hội thánh Cô-rinh-tô biết rằng ông và Ba-na-ba có đầy đủ điều kiện và quyền lợi chính đáng để nhận lãnh sự chu cấp của hội thánh như những tôi tớ Chúa khác. Những người “gieo điều thiêng liêng”, tức là rao truyền Phúc Âm cứu rỗi, dạy dỗ Lời Chúa nhận lãnh thù lao vật chất là điều hoàn toàn chính đáng và hợp lẽ.

Dù vậy Phao-lô và Ba-na-ba đã không nhận sự chu cấp của hội thánh Cô-rinh-tô vì :
1/ Ông không muốn gây rở ngại cho việc truyền giảng Phúc Âm.
Phao-lô truyền giảng một Phúc Âm của ân huệ và miễn phí vì thế ông không muốn những người ngoại đạo ở Cô-rinh-tô nghi ngờ về những động lực không ngay thẳng của nhiều giáo sư tôn giáo thời ấy. Thật ra từ xưa đến nay không bao giờ thiếu những người lợi dụng tôn giáo để thủ lợi. Ngày nay vì có nhiều vụ lường gạt, gian dối, cò mồi  để thủ lợi, làm tiền của nhiều người giảng đạo trên TV tại Hoa Kỳ nên nhiều cuộc thăm dò đại chúng cho thấy đa số dân chúng đã đánh gía rất thấp những người giảng đạo, chữa bệnh trên TV. 

Trong bối cảnh xã hội như thế, Phao-lô đã phải làm việc (nghề may trại) để tự túc sinh sống và không sử dụng quyền hưởng phụ cấp của mình khi ông thành lập hội thánh Cô-rinh-tô và phục vụ Chúa tại đó. Phao-lô cũng xác nhận với tín hữu hội thánh Cô-rinh-tô rằng ông không có ý định viết thơ này để nhắc nhở họ cái quyền trên,  nhưng ông muốn họ biết rằng ông và Ba-na-ba có quyền đó, và tín hữu Cô-rinh-tô nên nhận lấy trách nhiệm chu cấp cho tôi tớ Chúa đang phục vụ hội thánh nếu họ muốn chứng tỏ rằng họ khôn ngoan và trưởng thành.

2/ Phao-lô hy sinh sự tự do và quyền lợi của mình để tạo dịp tiẹân tốt cho nhiều người tin Chúa. Đây mới là dấu hiệu của tình yêu thương, sự trưởng thành trong Chúa và lòng tận hiến cho Chúa.
Lòng nhiệt thành và tận hiến của Phao-lô dẫn đến một nguyên tắc khác khá quan trọng trong ïchức vụ phục vụ Chúa và truyền bá Phúc Âm.

“Tôi trở nên mọi sự cho mọi người để bằng mọi cách cứu rỗi một vài người.”
Phao-lô là người Do Thái và ông khao khát thấy người Do Thái được cứu rỗi vì thế khi tiếp xúc và truyền giảng Phúc Âm cho người Do Thái ông phải hành xử như người Do Thái. Ông tuân giữ Kinh Luật và hành xử thích hợp với nền văn hóa của dân tộc mình. Phao-lô cũng là Sứ Đồ cho người ngoại quốc cho nên ông cũng hành xử thích hợp với nền văn hóa của dân tộc mà ông đang truyền bá Phúc Âm.

Đây là một điều khó khăn và rất tế nhị; nếu không nắm vững niềm tin và hiểu rõ vai trò cũng như mục đích của mình, người ta sẽ rơi vào tình trạng thỏa hiệp, sai lầm và có thể đi đến chỗ tà giáo nữa. Phao-lô không hề thay đổi hay thỏa hiệp niềm tin, giáo lý hay sứ điệp Phúc Âm nhưng ông sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và hành xử thích ứng với mỗi nền văn hóa và dân tộc khác nhau.
Phao-lô đã thường vào hội đường của người Do Thái và dùng Cựu Ước để giảng cho người Do Thái. Phao-lô đã làm lễ cắt bì cho Ti-mô-thê khi đem cậu này về Giê-ru-sa-lem vì Ti-mô-thê có cha là người ngoại quốc. (Công Vụ 16:1-5) Phao-lô đã giới thiệu Đức Chúa Trời như là Đấng Tạo Hóa cho người Hy Lạp tại A-then. (Công Vụ 17:24)
Ông trích văn thơ của các nhà thơ, triết gia của họ để làm nhịp cầu dẫn đến chân lý cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế duy nhất của nhân loại.

Đời sống kỷ luật để đạt mục đích thiên thượng vĩnh cửu
Hàng năm người Cô-rinh-tô có những lễ hội thể thao lớn. Nhiều người đã bỏ công, tập luyện khắc khổ để mong đạt được những vòng hoa chiến thắng vinh quang nhưng cũng chóng tàn. Phao-lô cho thấy tín hữu của Chúa có một giải thưởng vinh quang, vĩ đại và trường cửu trên trời dành cho họ; nhưng họ cũng phải siêng năng, tập luyện, sống một đời sống kỷ luật, hành động đúng theo nguyên tắc thiên thượng thì mới mong nhận được phần thưởng vinh quang vĩnh cửu đó.

II.Câu Hỏi Thảo Luận

  1. Phao-lô nêu lên những lý do nào chứng tỏ ông là một sứ đồ của Chúa?
  2. Điều gì chứng tõ rõ ràng nhất rằng một người đã được Chúa kêu gọi để phục vụ Chúa và hội thánh Ngài?
  3. Một mục sư Trung Hoa tại Mỹ cho rằng một trong những lý do khiến cho rất ít người thuộc giới trẻ, trí thức Trung Hoa đi vào chức vụ mục sư  vì tín hữu Trung Hoa không dâng hiến đầy đủ tài chánh để trợ cấp cho người phục vụ Chúa và không đối xử tốt đôí với người hầu việc Chúa. Tín hữu và hội thánh Việt Nam thì thế nào?
  4. Tại sao Phao-lô không nhận thù lao khi thành lập hội thánh Cô-rinh-tô?
  5. Chúng ta phải làm gì để truyền giáo cho người Việt mà không thỏa hiệp?


Giải Nghĩa Kinh Thánh
Sách I Cô-rinh-tô

Chọn Bài

01   02   03 
04   05   06 

07   08   09 
10   11   12 

13   14   15 
16   17   18 

19   20   21 
22   23   24 

25   26   27 
28   29   30 

Bài Giải Đáp