Bài 1
Tín Hữu, Những Người Được Đức Chúa Trời Kêu Gọi
1Côr 1:1-3
I.Bối Cảnh và Lược Giải.
Mở đầu thư Phao-lô nói rõ ngay rằng ông là Phao-lô. Vậy Phao-lô là ai và ông có liên hệ gì với hội thánh Cô-rinh-tô?
Phao-lô trước khi gặp Chúa Giê-su và tin Chúa, là một người Do Thái tên Sau-lơ, sinh trưởng tại Tạc-sơ, thủ phủ của tỉnh Cilicia thuộc vùng Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay. Dù sinh trưởng và sống như những người Do Thái tha hương ở ngoại quốc, gia đình Sau-lơ thuộc những người Do Thái truyền thống, vẫn giữ ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo Do Thái (Phil 3:5). Tuy ở trong một gia đình truyền thống Do Thái, Phao-lô sinh ra và mang quốc tịch La Mã (Công 22:28).
Phao-lô đã sử dụng quyền công dân La Mã của ông nhiều lần để tránh tù tội, tra tấn (Công 16:27; 22:25; 25:11).
Phao-lô sinh ra ở một trung tâm văn hóa Hy lạp (Tạc-sơ chỉ kém A-then và A-lex-xăn-đơ-ria), nhưng ông đã được gởi về Giê-ru-sa-lem để thọ giáo với giáo sư Ga-ma-li-ên, lãnh đạo một trường phái Do Thái giáo do ra-bai Hillel sáng lập trước đó một thế hệ. Phao-lô tuyên bố rằng ông đã tiến bộ vượt bực trong cương vị của một người Pha-ri-si (Gal 1:14) tuân giữ Kinh Luật (được phân chia thành 613 nguyên tắc) cũng như những truyền thống truyền khẩu của Do Thái giáo.
Rất có thể Phao-lô đã có mặt tại Giê-ru-sa-lem trong giai đoạn cuối chức vụ của Chúa Giê-su. Tuy nhiên Phao-lô có bao giờ tiếp xúc hay nghe Chúa Giê-su giảng dạy không thì không thể biết được. Điều rõ ràng là Phao-lô chống đối mạnh mẽ phong trào những người cho rằng Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a của người Do Thái. Phao-lô là người giữ áo của tín hữu Sê-tiên khi ông này bị ném đá xử tử vì theo Chúa Cứu Thế.(Công 7:58;8:1)
Phao-lô không những bách hại tín hữu của Chúa Giê-su ở Giê-ru-sa-lem và vùng Palestine nhưng ông cũng truy lùng họ ở những nước láng giềng và cùng ở dưới quyền đô hộ của La Mã. Trên đường đi Đa-mách, thủ phủ của Sy-ri, Phao-lô gặp Chúa Giê-su phục sinh và được kêu gọi để trở thành môn đệ của Ngài. (Công 9:1-19) Phao-lô đã tin Chúa Giê-su trong một trường hợp đặc biệt. Kinh Thánh đã ghi lại nhiều trường hợp tin Chúa bình thường, nghĩa là một người nghe giảng hay làm chứng về Phúc Âm của Chúa Giê-su và tin nhận Ngài làm Chúa Cứu Thế của đời mình “Mỗi ngày Chúa tăng thêm số người được cứu”. (Công 2:47)
Sau khi tin Chúa, Phao-lô đi A-ra-bia và để nhiều thì giờ suy tư về Chúa Giê-su và Đạo Ngài. Sau đó ba năm Phao-lô lên Giê-ru-sa-lem và gặp Sứ Đồ Phê-rơ và Gia-cơ, em Chúa Giê-su. Phao-lô cho biết ông được Chúa Giê-su phục sinh kêu gọi trực tiếp không những để cứu rỗi nhưng cũng kêu gọi ông làm Sứ Đồ. (1Côr 1:1)
Từ “apostolos” có nghĩa là “người được sai đi với một sứ mệnh”. Theo tiếng Hy Lạp ngoài xã hội ngoại đạo từ này cũng thường có nghĩa là “đoàn thuyền”.
Trong Kinh Thánh Tân Ước từ Sứ Đồ thường để chỉ mười hai người do chính Chúa Giê-su chọn để ở bên cạnh Ngài, giảng dạy, chữa bệnh, đuổi quỉ (Mác 3:14..). Một trong những điều kiện để được gọi là Sứ Đồ của Chúa Giê-su là nhân chứng về sự chết và sự sống lại của Ngài. Trong ý nghĩa này Phao-lô thấy Chúa Giê-su phục sinh và được gọi là Sứ Đồ của Chúa Cứu Thế Giê-su. Con số 12 là con số biểu tượng; ngoài ra nhiều người khác cũng được gọi là Sứ Đồ như Phao-lô, Gia-cơ em của Chúa (Gal:19); Ba-na-ba (Công 14:4, 14); Si-la (1Têsa 2:6).
Sốt-then là người đồng công với Phao-lô và đang hiện diện với ông mà tín hữu Cô-rinh-tô cũng biết nên Phao-lô nhắc đến. Sốt-then có thể là người quản lý hội đường tại Cô-rinh-tô trước đây (Công 18:17). Phao-lô gọi Sốt-then là “anh em chúng ta”. Trong hội thánh của Chúa tất cả tín hữu đều là anh chị em với nhau trong Chúa Cứu Thế và Đức Chúa Trời là Cha thiêng liêng. (2Côr 6:18)
Phao-lô cũng là người đã đến giảng đạo và thành lập hội thánh Cô-rinh-tô (Công 18). Nhưng Phao-lô gọi hội thánh Cô-rinh-tô là “Hội thánh của Đức Chúa Trời”. Đây là một ý niệm hết sức quan trọng; trên phương diện lịch sử và tổ chức, hội thánh Cô-rinh-tô là hội thánh do Phao-lô lập và xây dựng từ đầu. Nhưng những người tin Chúa Giê-su liên kết với nhau, tụ họp lại để thờ phượng và phục vụ Chúa, tạo nên hội thánh Chúa tại thành Cô-rinh-tô. Phao-lô ý thức rõ ông được Chúa sử dụng để đem người ta đến với Chúa và lập hội thánh Ngài; không phải hội thánh của Phao-lô hay của một cá nhân hay tập thể nào cả mà là của Đức Chúa Trời. Phao-lô là Sứ Đồ của Chúa Cứu Thế và tín hữu là con dân của Chúa. Như thế người lập hội thánh cũng như con dân Chúa trong hội thánh đều có trách nhiệm trước mặt Chúa. Khi một người ý thức rõ hội thánh là hội thánh của Chúa thì người đó sẽ cố gắng sống đúng theo Lời Chúa và nổ lực xây dựng hội thánh Chúa chứ không làm điều gì gây tiếng tăm xấu cho hội thánh Chúa hay làm nguy hại cho hội thánh Chúa.
Theo thư Cô-rinh-tô hội thánh của Đức Chúa Trời được Phao-lô mô tả như là cộng đồng của những người được thánh hóa trong Chúa Cứu Thế tại thành Cô-rinh-tô cũng như tất cả mọi người cầu khẩn danh Chúa Giê-su Ky-tôn ở khắp nơi. Ngày nay người ta hay lầm lẫn hội thánh của Chúa với một tổ chức hay là với một ngôi nhà thờ. Hội thánh của Chúa chủ yếu là những con người đã được Chúa kêu gọi ra khỏi thế giới tối tăm, gian ác này và chuyển đưa vào Vương Quốc Đức Chúa Trời tại thế gian (Cô-lô-se 1:13). Nếu ý thức như thế chúng ta nên chú trọng vào những điều cứu vớt, xây dựng, giúp ích tín hữu hay con người nói chung hơn là quá chú trọng đến những nguyên tắc hành chánh, những luật lệ nặng nề, rắc rối; những cách làm việc khác nhau và vô tình làm thương tổn anh chị em chúng ta hay gây ra tình trạng chia rẽ, chống đối lẫn nhau.
Nhiều người khi xây dựng được một ngôi nhà thờ khang trang, đẹp đẽ và những cơ sở của hội thánh đã chú trọng quá nhiều đến tài sản, coi trọng cơ sở vật chất hơn là những con người, dù là những người ngoại đạo sử dụng cơ sở đó.
Thế nào là một người được thánh hóa? Thánh hóa là hoạt động của Đức Chúa Trời và con người trong tiến trình biến đổi con người ngày càng được tự do thoát khỏi quyền lực của tội lỗi và ngày càng được giống Chúa Giê-su hơn trong đời sống.
Thánh cũng có nghĩa là được biệt riêng ra cho Chúa, thuộc về Chúa. Tất cả những người tin Chúa Giê-su đều được Phao-lô gọi là các ‘thánh’ (Êph 1:1; Phil 1:1; Côl 1:2) vì họ thuộc về Chúa và được Chúa thánh hóa bởi đức tin trong Chúa Giê-su Ky-tôn chứ không phải vì công đức riêng hay phép lạ họ làm theo như qui định hay tiêu chuẩn của một giáo hội Cơ Đốc giáo sau này lập ra và phong cho.
“Những người cầu khẩn danh Đức Giê-su Ky-tôn, Chúa chúng ta”.
Đây là một thành ngữ để chỉ những người tin cậy Chúa Giê-su làm Chúa Cứu Thế và Chủ Tể đời sống mình. Vào thời đó hoàng đế La Mã được xưng là Chúa và được tôn thờ trong đền thờ; vì thế người nào tuyên xưng một ai khác là Chúa bị kể như phạm thượng và phản lại đế quốc La Mã mà hậu quả có thể bị kết tội tử hình. Cho nên một người cầu khẩn danh Chúa Giê-su Ky-tôn là người hoàn toàn tin cậy Chúa, tuyên xưng Chúa Giê-su và tận hiến sống cho Chúa; không phải một người chỉ kêu tên Chúa ngoài môi miệng.
Hội thánh của Đức Chúa Trời là cộng đồng những người tín hữu của Chúa Giê-su ở tại thành phố Cô-rinh-tô, Hy Lạp, tức là ở tại một địa phương, nhưng đồng thời cũng là cộng đồng của “tất cả những người ở khắp mọi nơi cầu khẩn danh Chúa Giê-su Ky-tôn.” Ở đây Phao-lô không những nói đến hội thánh địa phương (Cô-rinh-tô) nhưng ông cũng nói đến hội thánh phổ quát, toàn cầu. Một điểm khác chúng ta cũng cần chú ý về hội thánh của Đức Chúa Trời; cộng đồng các tín hữu tại Cô-rinh-tô là hội thánh của Đức Chúa Trời và tất cả những người kêu cầu danh Chúa Giê-su Ky-tôn ở khắp mọi nơi cũng là hội thánh của Đức Chúa Trời. Như thế hội thánh phổ quát của Đức Chúa Trời đồng thời bao gồm tất cả tín hữu trên thế giới nhưng không nhất thiết là sự kết hợp hành chánh và tổ chức của tất cả các hội thánh địa phương trên thế giới.
Một người tin Chúa Giê-su làm Chúa Cứu Thế và Chủ Tể đời sống mình, người đó sẽ được tái sinh làm con cái Đức Chúa Trời (Giăng 1:12), vì thế Phao-lô xưng Đức Chúa Trời là Cha chúng ta. Trước khi tin Chúa Giê-su, chúng ta đều là tử tội trước mặt Đức Chúa Trời, vị thẩm phán tối cao; sau khi tin Chúa chúng ta trở thành con cái Đức Chúa Trời. Như vậy chúng ta nên đến gần với Cha chúng ta và xây dựng mối liên hệ cha con thân thiết. Những cách để xây dựng mối tương giao gần gủi, thân thiết với Cha chúng ta là để thì giờ đọc Lời dạy dỗ của Cha (học Kinh Thánh), trò chuyện với Cha (cầu nguyện), thờ phượng Cha và phục vụ Cha chúng ta.
Ân sủng là từ Phao-lô thường dùng để chào và chúc lành cho tín hữu. Ân sủng là đặc ân và sự nhân từ, phúc lành Chúa ban cho một người mà không phải vì người đó công đức hay xứng đáng để nhận lãnh. Ân sủng là một trong nhiều mỹ đức của Đức Chúa Trời như lòng thương xót, nhân từ, chậm giận, đầy tình yêu thương và thành tín.( Xuất 34:6-7) Ân sủng lớn lao nhất của Đức Chúa Trời là Con Ngài, Chúa Giê-su Ky-tôn mà Ngài đã sai xuống trần để cứu rỗi nhân loại.
Bình an trong Cựu Ước bao gồm ý niệm an khang thịnh vượng, trọn vẹn; trong Tân Ước từ này mang thêm ý nghĩa sự bình an nội tâm của tín hữu của Chúa Giê-su nhờ tin cậy Đức Chúa Trời.
II. Câu Hỏi Thảo Luận.
- Hãy nêu lên một điểm đặc biệt về Phao-lô?
- Tại sao Phao-lô xưng mình là một Sứ Đồ?
- Phao-lô có liên hệ gì đến hội thánh Cô-rinh-tô?
- Theo Phao-lô và theo thư Cô-rinh-tô, hội thánh là gì?
Hãy nêu lên một vài đặc tính của hội thánh làm nó khác hơn là một hội đoàn hay công ty thương mại hay kỹ nghệ trong xã hội.
- Mối liên hệ căn bản của tất cả tín hữu trong một hội thánh là gì?
- Phao-lô xem hội thánh Cô-rinh-tô là hội thánh của ai?
- Chúng ta nên có thái độ nào và làm gì cho hội thánh của Đức Chúa Trời?
- Thế nào là thánh hóa?
Thánh hóa khác với “tu hành” ở điểm nào?
- Tại sao Phao-lô gọi những tín hữu tại hội thánh Cô-rinh-tô là “các thánh”.
Nếu chúng ta được Kinh Thánh gọi là “thánh”, chúng ta nên sống như thế nào?
- Hãy so sánh hội thánh địa phương và hội thánh phổ quát?
Chúng ta có cần hợp nhất về phương diện hành chánh, tổ chức để tạo nên một hội thánh phổ quát không? Tại sao?