Bài Giải Đáp
Bài 1
1Côr 1:1-3
1.Phao-lô là người Do Thái chống đối Đạo Chúa và bách hại tín hữu của Chúa Giê-su cho đến khi ông gặp Chúa Giê-su phục sinh hiện ra với ông trên đường đến Đa-mách; sau cuộc gặp gỡ đó Phao-lô tin Chúa và phục vụ Chúa Giê-su.
2. Phao-lô được Chúa Giê-su kêu gọi và cử làm Sứ Đồ cho người ngoại đạo. Một trong những điều kiện của Sứ Đồ là người chứng kiến Chúa Giê-su sống lại; Phao-lô đã gặp Chúa Giê-su phục sinh (Công 9).
3. Phao-lô là người truyền giảng và sáng lập hội thánh Cô-rinh-tô (Công 18).
4. Theo thư Cô-rinh-tô, hội thánh là cộng đồng của những người đã tin nhận Chúa Giê-su, được thánh hóa trong Chúa Giê-su Ky-tôn; nhận Ngài làm Chúa Tể đời sống mình và Đức Chúa Trời là Cha. Hội thánh cũng là cộng đồng của tất cả những người tin nhận Chúa Giê-su( kêu cầu Danh Ngài) ở khắp mọi nơi, trong mọi thời đại.
Hội thánh là một cộng đồng thiêng liêng của những tín hữu của Chúa Giê-su, có Chúa Giê-su là đầu của hội thánh, Đức Chúa Trời là Cha, mỗi tín hữu hội viên đều là anh chị em. Hội thánh chủ yếu là những con người cùng đức tin nơi Chúa Giê-su Ky-tôn, không phải tổ chức thương mại, xã hội, hành chánh hay chính trị; mối liên hệ là tình yêu thương và mục đích là để thờ phượng, tôn vinh và phục vụ Chúa và tha nhân.
5.Mối liên hệ của tín hữu trong hội thánh là tình yêu thương anh chị em trong Chúa.
6. Phao-lô dù là người sáng lập hội thánh Cô-rinh-tô nhưng ông gọi hội thánh này là hội thánh của Đức Chúa Trời.
7. Vì hội thánh là hội thánh của Đức Chúa Trời, không phải của một ai hay củamột tổ chức giáo phái nào; mỗi hội viên phải chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời. Hãy tìm những hội thánh tin và làm theo Lời Chúa (Kinh Thánh). Bổn phận của tín hữu là tham gia, xây dựng hội thánh của Chúa, chu toàn bổn phận của mình đối với Chúa qua hội thánh; không làm điều gì gây chia rẽ, tổn hại đến hội thánh hay làm hội thánh Đức Chúa Trời bị mang tiếng hay tổn thương.
8. Thánh hóa là tiến trình biến đổi con người để trở nên ít phạm tội hơn và ngày càng giống Chúa Giê-su hơn trong đời sống. Tiến trình biến đổi được thực hiện nhờ ân sủng và quyền năng của Đức Chúa Trời phối hợp với đức tin và nổ lực vâng lời của tín hữu.
Tu hành là ý niệm tự mình cố gắng để thay đổi và giải thoát chính mình. Kinh Thánh cho biết con người không đủ khả năng hay công đức để tự thay đổi và giải thoát chính mình ra khỏi tội lỗi và sự chết. (Rôm 3: 9-12,23)
9. Phao-lô gọi các tín hữu tại Cô-rinh-tô là “các thánh” vì họ nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su Ky-tôn đã được biệt riêng ra, thuộc riêng về Đức Chúa Trời. Vì tín hữu của Chúa là con dân Nước Trời, thuộc riêng về Ngài nên chúng ta phải sống xứng đáng với địa vị cao quí mà Chúa đã ban cho chúng ta.
10. Những tín hữu của Chúa Giê-su tại một địa phương họp nhau lại để thờ phượng , tương giao và phục vụ Chúa là hội thánh địa phương; cộng đồng tín hữu của Chúa Giê-su ở khắp mọi nơi và trong mọi thời đại là hội thánh phổ quát của Chúa. Hội thánh địa phương thật đương nhiên là hội thánh phổ quát, không cần phải hiệp nhất tổ chức.
Bài 2
Các Ân Phúc của Tín Hữu (1 Côr 1:4-9)
1/ Ngoài sự cứu rỗi, Chúa cũng đã ban cho con dân Chúa sự bình an, vui mừng, hy vọng. Chúa cũng đã ban cho một số con dân Chúa tự do, thịnh vượng.
2/ Trong phạm vi các ân tứ về lời nói: Tiên tri, dạy dỗ, hiểu biết, khôn ngoan, khuyên bảo, an ủi, chứng đạo…
Trong phạm vi các ân tứ phục vụ: Quản trị, việc từ thiện, dâng hiến, giúp đỡ…
Những tài năng thiên phú nhưng sử dụng cho sự vinhhiển Chúa: Âm nhạc, thể thao, nghề nghiệp chuyên môn...
3/ Tín hữu của Chúa có thể sử dụng ân tứ và tài năng của mình để xây dựng hội thánh Chúa qua các công tác:
a/ Xây dựng đời sống tín hữu mạnh mẽ, tốt đẹp jơn.
b/ Truyền bá Phúc Âm cho người ngoại.
c/ Thi hành những dịch vụ tình thương, bác ái, xã hội…
4/ Tín hữu có đầy những ân sủng, ân tứ của Chúa; hội thánh Cô-rinh-tô đã lớn mạnh và cùng với những hội thánh khác trong vùng đem cả nước Hy Lạp về với Chúa.
Ngày nay Hy Lạp có trên 90 % dân số là tín hữu theo Chính Thống Hy Lạp.
5/ Người tín hữu được thiết lập vững vàng khi người đó thích thờ phượng Chúa, cầu nguyện thường xuyên và tham gia phục vụ Chúa trong khả năng của mình.
6/ Chúa Giê-su sẽ trở lại thế gian là đều chắc chắn, nhiều câu Kinh Thánh đã xác định rõ điều này.
Tín hữu cũng được xét để được thưởng, chứ không bị xét xử để hình phạt như người ngoại đạo; nhưng có một số sẽ mất tất cả phần thưởng và bị khiển trách.
7/ Vì Chúa là thành tín, Ngài không bao giờ thất hứa.
8/ Một số sẽ được cứu nhưng “dường như qua lửa” ; sẽ bị mất hết phần thưởng và bị khiển trách.
9/ Không. Vì người đó chưa thực sự tin nhận Chúa làm Chúa Cứu Thế và Chủ đời mình. Người đó chưa có mối tương giao cá nhân với Chúa Cứu Thế; chỉ theo đạo và theo một số ngi thức tôn giáo mà thôi.
Một số người nêu lên minh họa: Một con ngựa dù có ở trong garage xe hơi suốt đời nó cũng không thể thành chiếc xe hơi. Nó phải được chế tạo như một chiếc xe hơi.
10/ Người có mối tương giao thân thiết với Chúa Giê-su sẽ thích thờ phượng Ngài, cầu nguyện cùng Ngài, học hỏi Lời Ngài và thích làm theo ý Chúa.
Bài 3
Nan Đề Chia Rẽ (1Côr 1:10-17)
1/ Tín hữu của Chúa trong hội thánh đều là anh chị em trong Chúa, trong gia đình của Chúa. Đây là một động lực lớn và mạnh để đoàn kết.
2/ Khi chúng ta tin nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu Rỗi, chúng ta cũng công nhận Ngài là Chủ Tể trên đời sống mình và hội thánh Ngài. Tức là chúng ta phải tuân phục những chỉ thị của Chúa và sống theo ý chỉ và mạng lệnh của Chúa chứ không nên theo chương trình và ý định của một người nào.
3/ Khi mọi người tín hữu đều vâng phục và làm theo một vị lãnh đạo là Chúa Cứu Thế và theo lời dạy cũng như mạng lệnh của Ngài thì nạn chia rẽ sẽ biến mất .
4/ Phao-lô khuyên tín hữu nên có cùng một lời nói, nghĩa là cùng bàn về một vấn đề, cùng một quan niệm và không nên xé rách, chia rẽ Chúa Giê-su thành nhiều phần khác nhau.
5/ Những nan đề căn bản tại hội thánh Cô-rinh-tô gồm có:
a/ Coi tri thức khôn ngoan thế tục cũng như Phúc Âm của Chúa Giê-su.
b/ Nâng những người lãnh đạo trong hội thánh lên ngang hàng với Chúa Giê-su.
c/ Theo những người lãnh đạo trong hội thánh thay vì theo Chúa Giê-su.
6/ Xem Rô 6:1-14. Lễ Báp-tem là hành động công khai đồng hóa mình với sự chết và sự sống lại với Chúa Giê-su và để đượckết hiệp vào thân thể của Ngài.
7/ Một tôi tớ thật của Chúa Giê-su sẽ trung tín truyền bá Phúc âm của Chúa Cứu Thế và đem người về với Chúa và với hội thánh của Chúa, không hải đem người theo về với cá nhân mình.
8/ Hội thánh thật của Chúa Giê-su sẽ bác bỏ giáo lý “Đồng Cứu Rỗi” và “Đồng Trung Bảo” vì Lời Chúa dạy chỉ có một Đấng Cứu Rỗi trên thế gian là Chúa Giê-su (Công Vụ 4:12); một Đấng Trung Bảo giữa loài người và Đức Chúa Trời (1Tim 2:5).
9/ Vì những người này dùng trí thức phàm tục để thay thế cho đức tin, sự sống và năng lực siêu nhiên, thay cho Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời và tình yêu thương của Chúa Giê-su để điều hành và phát triển hội thánh như là một công ty thương mại, nên sẽ thất bại.
10/ Mọi tín hữu nên tìm kiếm Chúa thay vì cái tôi, danh vọng, tiền tài, quyền thế.
Mọi tín hữu nên tìm kiếm, học hỏi Lời Chúa để biết Chúa, ý Chúa và mục đích của Chúa cho mình, cho hội thánh Chúa trên đất.
Mọi người nên tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự vinh hiển củaNgài.
Bài 4
Chúa là Quyền Năng và Sự Khôn Ngoan (1Côr 1:18-25)
1/ Sứ điệp của thập tự giá là sự hy sinh chết thế tội nhân của Chúa Giê-su trên cây thập tự và sự sống lại của Ngài để cứu những người tin. Năm chân lý của Phúc Âm cứu khổ như sau: 1. Chúa Giê-su chính là Ông Trời đã giáng thế làm người để cứu rỗi loài người ra khỏi cuộc đời đau khổ và sự chết đời đời nơi hỏa ngục. Giăng 1:1, 14
2. Đời sống con người đầy đau khổ.( Gióp 14:1-2) 3. Tội lỗi là nguyên nhân gây ra đau khổ trên trần thế. (Gia-cơ 1:14-15) 4. Chúa Giê-su đã đến thế gian để chịu khổ, chịu chết để giải cứu nhân loại thoát khỏi đau khổ và sự chết đời đời.( Rô 5:8) 5. Tin Chúa Giê-su làm Đấng cứu rỗi và Chủ Tể đời sống mình là giải pháp cứu khổ và giải thoát khỏi sự chết đời đời nơi hỏa ngục. Giăng 3:16
2/ Người Do Thái khó tin Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a của họ vì Ngài đã chết như một tử tội nhục nhả, yếu đuối. Người Do Thái hy vọng Đấng Cứu Thế của họ sẽ đến với quyền năng và trong vinh quang. Kinh Thánh (I-sa 53 và Thi 22) đã nói rõ Đấng Mê-si-a sẽ phải chịu khổ hình, chết rồi mới đến giai đoạn đắc thắng vinh quang nhưng đa số những giáo sư Do Thái giáo đã không thấy và không hiểu nổi điều này.
3/ Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng và Chủ Tể của vũ trụ này; Ngài là Đấng ban ân huệ cứu rỗi và chữa bệnh; Ngài không phải là một người cần một tội nhân đáng bị hình phạt và đáng bị bỏ vào hỏa ngục; cho nên không ai có thể đòi hỏi hay đặt điều kiện cho Ngài để cứu rỗi hay chữa bệnh cho họ. Đức Chúa Trời có thể bày tỏ ân phúc của Ngài để chữa bệnh cho một người và Ngài cũng đã bày tỏ ân huệ và tình thương của Ngài trong Chúa Cứu Thế để cứu rỗi những người tin. Thách thức Chúa là một hành động kiêu ngạo ngu xuẩn và phạm thượng; người làm như thế sẽ phải nhận những hậu qủa đáng tiếc mà thôi.
4/ Người tin Chúa vì thấy phép lạ (Xem Giăng 2:23-24) sẽ thất vọng khi Chúa không làm phép lạ cho cá nhân hay gia đình họ và cũng có thể thất vọng vì Chúa không chứng tỏ là Đấng quyền năng trong chương trình cứu rỗi của Ngài (Ngài chết ). Khi Chúa Giê-su hóa bánh, làm phép lạ, có đến mười ngàn người (kể cả đàn bà, trẻ em) theo Ngài (Lu-ca 9:10-17) Nhưng khi Chúa chết và sống lại chỉ còn 120 người theo Ngài cầu nguyện (Công Vụ 1:15).
5/ Người chuộng triết học cao siêu sẽ khó chấp nhận sứ điệp đơn sơ và đau khổ của thập tự giá, một hình phạt đau đớn, nhục hình dành cho những tử tội thấp kém. Một người không được kêu gọi, không được mở mắt tâm linh sẽ không thấy được sự hy sinh cao cả, thấy tình yêu thương vô điều kiện của Đức Chúa Trời qua cái chết của Con Một yêu dấu của Ngài.
6/ Sự cứu rỗi là do đức tin nơi Chúa Giê-su, tức là mối liên hệ cá nhân và trực tiếp với Chúa Cứu Thế chứ không phải qua kiến thức về Ngài, kiến thức về Kinh Thánh hay về Cơ Đốc giáo.
7/ Ngoài đức tin người tín hữu cần Lời Chúa (Mat 4:4), cần thờ phượng Chúa, cầu nguyện và vâng lời, thực hành và truyền bá danh Ngài cho nhân loại (Thi 100).
Bài 5
Hãy Tự Hào Trong Chúa
1/ Không, tôi được cứu rỗi là nhờ ân huệ của Đức Chúa Trời.
2/ Do tình yêu thương và ân huệ của Đức Chúa Trời mà Ngài kêu gọi và chọn chúng ta để nhận ân cứu rỗi của Ngài trong Chúa Cứu Thế.
3/ Một số người ngoại đạo cho rằng những tín hữu cố sống theo tiêu chuẩn đạo đức của Chúa Giê-su và Kinh Thánh là dại vì không chịu gian dối để thủ lợi, không chời bời lêu lỏng…như mọi người khác.
4/ Nhờ ơn Chúa và sức Chúa tôi sống thánh thiện nên khỏe mạnh và bình an, vui vẻ trong tâm hồn.
5/ Chúa đã kêu gọi tôi để được cứu rỗi và Ngài cũng muốn tôi dùng đời sống tôi để làm vinh hiển danh Ngài trong nghề nghiệp tôi đang làm (Kỷ sư, thương mại, công nhân, công chức, giáo sư…)
6/ Vì tất cả những người khôn ngoan, giàu sang, quyền thế hay danh gia vọng tộc trên thế giới đều không thể nhờ những điều đó để cứu rỗi mình khỏi tội lỗi và sự chết đời đời nơi hỏa ngục nên họ không có điều gì để khoe khoan trước mặt Chúa được.
7/ Chúa Giê-su là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời vì Ngài là Đấng duy nhất có thể giải quyết nan đề tội lỗi của nhân loại bằng cái chết của Ngài trên cây thập tự. Ngoài ra Chúa Giê-su là Đấng duy nhất có thể ban cho loài người một sự sống sung mãn và vĩnh phúc.
8/ Phải, tôi là người tin Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của tôi, nên được tuyên xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời.
9/ Nhờ ân phúc và quyền năng của Chúa ban cho tôi khi tôi tin cậy Ngài nên tôi đã được giải thoát khỏi con người cũ, nhưng thỉnh thoảng, khi yếu đuối, xa cách Chúa tôi cũng bị cám dỗ và vấp ngã trong một vài phương diện.
10/ Tôi tin cậy Chúa và nhờ Lời Ngài qua sự tỉnh nguyện (Đọc Kinh Thánh và cầu nguyện mỗi ngày) nên được gỉai thoát khỏi khuynh hướng tội lỗi cũ nhưng trong cuộc sống thỉnh thoảng cũng bị cám dỗ, yếu đuối nên vấp ngã. Tuy nhiên mỗi khi vấp ngã, tôi ăn năn và quay trở lại với Chúa để xin Ngài tha thứ và thêm sức để chiến thắng.
Bài 6
Sự Khôn Ngoan Huyền Bí của Đức Chúa Trời (1Côr 2:1-16)
1/Sự khôn ngoan huyền bí của Đức Chúa Trời là Phúc Âm cứu rỗi, là sự chết của Chúa Giê-su trên thập tự giá để cứu chuộc nhân loại.
2/ Những triết thuyết và khoa học thực nghiệm trên thế gian không thể cứu rỗi con người thoát khỏi tội lỗi và sự chết đời đời vì thế chúng ta không nên thay đổi Phúc Âm cứu rỗi thành những điều không thể cứu rỗi và thành điều ngu dại, vô ích trước mặt Chúa.
3/ Hai hậu quả nguy hại: a/ Giảng dạy một nhân vật phàm tục, khác hơn là Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời, một thần nhân , Chúa Cứu Thế duy nhất của Kinh Thánh.
b/ Biến mạc khải siêu nhiên và sống của Đức Chúa Trời thành một số tri thức chết.
Bằng chứng là những hội thánh tin và giảng dạy những kiến thức chết này không phát triển và tăng trưởng nhưng đang đi vào sự suy tàn.
4/ Phao-lô không có ý nói chúng ta chỉ nên biết Phúc Âm và Kinh Thánh mà thôi. Phúc Âm và Kinh Thánh là chân lý duy nhất để cứu rỗi con người. Đời sống cũng cần những kiến thức và kỷ năng khác; Phao-lô đã học và biết triết học, văn chương Hy Lạp và ông đã trích dẫn trong khi giảng dạy Phúc Âm. (Công Vụ 17:16-34) Sứ đồ Giăng dùng từ “Logos” một từ triết học thời bấy giờ để chỉ Chúa Cứu Thế.
5/ Sự thể hiện Đức Thánh Linh: Đức Thánh Linh soi dẫn và hướng dẫn Phao-lô để trình bày bằng chứng về sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế. “Quyền năng” ở đây nói về quyền năng cứu rỗi và thay đồi đời sống người tin Chúa.
6/ Những người lãnh đạo trên thế gian không biết Chúa Cứu Thế và không hiểu Phúc Âm cứu rỗi của Đức Chúa Trời nên họ mới giết Chúa Cứu Thế vinh quang.
7/ Tín hữu mới có thể thấy và hiểu Phúc Âm vì họ có Đức Thánh Linh trong lòng.
8/ Đức Thánh Linh biết tất cả mọi sự, tức là Đấng toàn tri. Đức Thánh Linh biết tư tưởng sâu xa của Đức Chúa Trời nên Ngài phải là Đức Chúa Trời.
9/ Người thiên nhiên không có khả năng, dù là qua trực giác hay thiền định, để tiếp nhận ân phúc cứu rỗi của Chúa và biết đầy đủ Đức Chúa Trời để được cứu rỗi.
10/ Người tín hữu trưởng thành là người có Đức Thánh Linh trong lòng, có thế giới quan và giá trị của Chúa; biết và tích cực tham gia vào chương trình và mục đích của Chúa cho cá nhân mình và cho thế giới.
Bài 7
Tín Hữu Trưởng Thành và Ấu Nhi (1Côr 3:1-4)
1/ Phao-lô đề cập đến tín hữu trưởng thành, ấu nhi và xác thịt hay thế gian.
2/ Tín hữu ấu nhi là người mới tin Chúa Giê-su làm Cứu Chúa và Chủ Tể đời sống của mình chưa quá ba năm nên chưa trưởng thành về sự hiểu biết Chúa, Đạo Chúa và về hành động, tư cách đẹp lòng Chúa.
3/ Một tín hữu như tín hữu Cô-rinh-tô, xuất thân từ một nền văn hóa ngoại giáo cũng chỉ cần ba năm để trưởng thành.
4/ Một tín hữu xác thịt là người đã tin Chúa lâu năm nhưng sự hiểu biết về Chúa và hành vi tư cách vẫn còn như một ấu nhi. Tín hữu xác thịt lười biếng học hỏi Lời Chúa và không thích học hỏi về Chúa và những điều thuộc về Chúa và Vương Quốc Đức Chúa Trời.
5/ Hai hậu quả tai hại nghiêm trọng cho một tín hữu xác thịt :
a/ Tình trạng đạo đức thấp kém, không khác gì thế gian tội lỗi.
b/ Không tham gia, phục vụ Chúa và không đóng góp xây dựng hội thánh Chúa và Nước Đức Chúa Trời.
6/ Tín hữu Cô-rinh-tô vì còn xác thịt nên đã bày tỏ các dấu hiệu sau:
a/ Ganh tị lẫn nhau.
b/ Xung đột lẫn nhau.
c/ Chia rẽ, bè phái trong hội thánh.
7/ Phao-lô trách tín hữu trong hội thánh Cô-rinh-tô là “thế gian” vì họ muốn có những người lãnh đạo thuộclinh đầy sự khôn ngoan, hùng biện như các triết gia trong xã hội thời bấy giờ. Người tín hữu Cô-rinh-tô bị gọi là “thế gian” vì họ muốn thỏahiệp với thế gian, thích được thế gian chấp nhận và khen ngợi hơn là được Chúa chấp nhận và khen ngợi.
8/ Con dân Chúa phải học hỏi Lời Chúa để biết ý chỉ, chương trình, mục đích của Chúa mà làm theo. Phải tin tưởng và nhờ quyền năng của Phúc Âm để sống và phục vụ chứ không phải tìm kiếm và nhờ cậy sự khôn ngoan và quyền thế của thế gian hư mất này.
9/ Phao-lô và A-bô-lô đã không ngã theo ý phàm của tín hữu Cô-rinh-tô nhưng tiếp tục đoàn kết, hợp tác phục vụ Chúa vì hai ông đều biết rõ vai trò của mình và có cùng mục đích chung trong Chúa.
10/ Hội thánh Cô-rinh-tô ý thức được điều ấu trĩ, sai lầm của mình. Khiêm nhường chấp nhận và thay đổi. Họ làm theo lời khuyên của Sứ Đồ Phao-lô nên tiến bộ và thành công mỹ mãn cho đến ngày nay.
Bài 8
Sửa Chữa Quan Niệm Sai Lầm về Hội thánh và Mục Vụ (1Côr 3:5-23)
1/ Phao lô dùng hình ảnh đồng ruộng và đền thờ Đức Chúa Trời để chỉ về hội thánh.
2/ Phao-lô là giáo sĩ thành lập hội thánh và A-bô-lô là mục sư giảng dạy hội thánh .
3/ Công tác đem người về cùng Chúa và xây dựng đời sống của họ trong Chúa đòi hỏi nhiều người khác nhau, nhiều ân tứ khác nhau và nhiều công việc khác nhau để cùng xây dựng tín hữu và hội thánh Chúa.
4/ Tín hữu Cô-rinh-tô muốn những người lãnh đạo của họ cũng giống như những người thông thái thế tục; họ muốn dùng triết học thế tục để xây dựng hội thánh. Họ chạy theo những người lãnh đạo hội thánh (nhưng thật ra những người này chỉ là tôi tớ của hội thánh) thay vì chú tâm vào Chúa và mục đích của Chúa.
5/ Phao-lô và A-bô-lô là những người lãnh đạo trưởng thành, biết rõ vai trò của mình trong hội thánh Chúa, chỉ chú tâm vào việc xây dựng nhà Chúa, không chạy theo những nhóm người ủng hộ mình.
6/ Tín hữu Cô-rinh-tô nghe lời Phao-lô, biết rõ thái độ chia rẽ, bè phái là sai và bằng lòng đoàn kết xây dựng nhà Chúa, chú tâm vào công việc nhà Chúa, nương cậy vào Phúc Âm cứu rỗi của Chúa Giê-su và các giáo lý chân chính của Lời Chúa.
7/ Nền tảng bất biến của hội thánh Chúa là Phúc Âm cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế, Đấng đã chết trên cây thập tự và sống lại.
8/ Các triết lý thế tục và kiến thức khoa học thực nghiệm có thể giúp một người có đời sống vật chất tốt và nghề nghiệp vững vàng nhưng không có sự sống và quyền năng thiêng liêng để cứu rỗi tội nhân và xây dựng đời sống đạo đức , tâm linh của một con dân Chúa.
9/ Khi những giáo hội Tin Lành Âu Châu và Hoa Kỳ bác bỏ thần tính của Chúa Giê-su; Phúc Âm của Chúa Giê-su không phải là con đường duy nhất để được cứu rỗi, và từ bỏ nhiều giáo lý căn bản của Kinh Thánh như Kinh Thánh không phải là Lời Đức Chúa Trời; đồng tính luyến ái là bản tính tự nhiên v.v. giáo hội bị suy đồi, số người tín hữu sút giảm thê thảm; nhiều đại giáo đường bị bán cho các tôn giáo khác. Số người Âu Châu đi thờ phượng Chúa mỗi tuần chỉ còn vài phần trăm dân số.
10/ Chúng ta phải sắp xếp thứ tự ưu tiên trong đời sống, dùng thì giờ, tài năng, tài chánh để truyền giảng Phúc Âm cứu rỗi của Chúa Cứu Thế cho mọi người và dạy dỗ những chân lý Kinh Thánh hầu có thể xây dựng đời sống của con dân Chúa thành những con người hữu dụng cho nhà Chúa và mở mang Nước Đức Chúa Trời nơi mình sinh sống và khắp thế giới. Chỉ có những con người được cứu rỗi mới còn lại trong ngày phán xét cuối cùng.
Bài 9
Tín Hữu và Tôi Tớ Chúa (1Côr 4:1-7)
1/ Tín hữu và những người lãnh đạo (như Phao-lô, A-bô-lô ) của Chúa đều là tôi tớ của Chúa vì thế họ không có quyền đoán xét những tôi tớ khác của Chúa. Chính họ và những tôi tớ kia của Chúa sẽ được Chúa xét.
2/ Tất cả con dân và tôi tớ Chúa đều sẽ chịu trách nhiệm trước mặt Chúa.
3/ Người quản gia là người đầy tớ hay làm công được trao quyền quản trị tài sản, công việc của nhà chủ nhưng không phải là người sở hữu tài sản hay nhà cửa của chủ.
4/Điều cần yếu của một người quản gia là trung tín đối với tài sản và với chủ của mình. Như thế người quản gia nên chú trọng đến việc làm đẹp lòng chủ, được chủ khen thưởng, điều hành công việc để đem lại kết quả tốt cho chủ; chứ không phải làm đẹp lòng những người tôi tớ khác hay được những tôi tớ khác trong nhà khen ngợi.
5/ Con dân Chúa không nên đoán xét người khác vì tất cả chúng ta đều là tôi tớ của Chúa, không phải chủ nên không có quyền đoán xét. Người phàm đoán xét sẽ sai lầm vì không thể biết hết hoàn cảnh cùng mưu mô, động lực trong lòng người ta. Ngoài ra chúng ta cũng không nên đoán xét trước ngày phán xét của Chúa.
6/ Tiêu chuẩn duy nhất chúng ta cần dựa vào để xem xét đời sống, tư cách và công việc của một con dân, tôi tớ Chúa là Lời Chúa hay Kinh Thánh. Tín hữu Cô-rinh-tô đã sai lầm vì họ dùng sự khôn ngoan thế tục để làm tiêu chuẩn và xét người khác.
7/ Một tín hữu thật và trưởng thành biết rõ tất cả sự cứu rỗi cũng như các tài năng, ân tứ, tiền bạc, địa vị của họ đều là ân huệ và quà tặng của Chúa cho họ chứ không phải do họ tự tạo cho nên họ sẽ khiêm nhường, biết ơn và trung tín với Chúa.
8/ Chúa chắc chắn sẽ xét và tưởng thưởng con dân và tôi tớ Ngài trong ngày đoán xét vì thế họ trung tín phục vụ Chúa dù được thế gian biết hay không biết.
9/ Tất cả đều do Chúa chúngta ban cho như chủ giao cho quản gia để quản trị và làm lợi cho Ngài; như thế con dânChúa nên khiêm nhường, biết ơn và hăng hái trung tín phục vụ chúa.
10/ Tôi tin chắc rằng Chúa Giê-su sẽ tái lâm trong vinh quang vì Chúa và các Sứ Đồ đã nói nhiều lần trong Kinh Thánh. Ngoài ra nhiều điều tiên tri về ngày Chúa tái lâm và tận thế đã ứng nghiệm cho nên chúng ta đang sống trong thời đại cuối cùng.
Bài 10
Vua Chúa hay Cha Thuộc Linh (1Cor 4:8-21)
1/ Người Cô-rinh-tô nghĩ rằng họ đã no đủ, giàu có và là những người lãnh đạo như vua chuá trên đời này. Nhưng đây không phải là điều để xây dựng đời sống tín hữu và xây dựng, phát triển hội thánh (thân thể) Chúa và Nước Đức Chúa Trời.
Tình yêu thương, quyền năng của Chúa Thánh Linh và sự dạy dỗ, kiến thức về Lời Chúa mới là những điều xây dựng đơì sống tín hữu và hội thánh cũng như Vương Quốc Đức Chúa Trời.
2/ Trí thức, giàu có, khôn ngoan, quyềnthế tự nó không có gì sai nếu sử dụng để xây dựng và phát triển Nước Chúa. Điều sailầm là người ta chỉ ỷ lại vào những điều này mà không nhờ cậy quyền năng của Đức Thánh Linh, những nguyên lý trong Lời Chúa và nguyêntắc đạo đức theoLời Chúa.
Tín hữu Cô-rinh-tô khi trở nên giàu có , quyềnthế đã trở nên kiêu ngạo vì họ tưởng rằng họ không cần Phao-lô và những quyền năng thuộc linh và kién thức sống của Chúa nữa. Phao-lô thấy trước rằng nếu họ theo con đường này , hội thánh Chúa sẽ đi đến chổ chết và hủy diệt.
3/ Những hội thánh theo thần học tự do cấp tiến không có sự sống thiêng liêng và quyền năng thiêng liêng để cứu rỗi người hư mất vì thế họ đang đi đến chỗ chết.
4/ Người tín hữu được Chúa ban phước, có nhiều tài năng, ân tứ nhưng không sử dụng cho Chúa và cho hội thánh, cho Nước Đức Chúa Trời sẽ trở nên kiêu ngạo, thiếu quyền năng thuộclinh và sẽ đi đến chỗ diệt vong như thế gian phàm tục.
5/ Phao-lô chấp nhận như thế vì ông muốn sống cho Chúa Giê-su và làm đầy tớ của Đức Chúa Trời, xây dựng Nước Đức Chúa Trời chứ không phải làm hài lòng con người và phục vụ thế gian phàm tục.
6/ Người tín hữu Cô-rinh-tô dù đã được Chúa ban phước giàu có, trí thức nhưng họ vẫn không ý thức được sự quan trọng của việc rao truyền, dạy dỗ Đạo Chúa và không cung cấp, hỗ trợ đầy đủ tài chính cho những tôi tớ của Chúa đang rao truyền, dạy dỗ Phúc Âm. Phao-lô vẫn phải làm việc để sinh sống và giảng đạo; ngay cả giảng dạy cho tín hữu giàu có ở Cô-rinh-tô.
7/ Ngườidạy đạo lý của Chúa để đem người ta về cùng Chúa, vào trong Nước Thiên Đàng, để xây dựng đơì sống tínhữu trở nên trưởng thành và hữu hiệu cho Nước Chúa.
8/ Thái độ của tín hữu Cô-rinh-tô cóvẻ như họ đã đạt được vinh quang, phúc lành trong Nước Chúa nên họ lo thụ hưởng. Trong khi đó thái độ đúng phải là Nước Chúa đã đến với Chúa Cứu Thế nhưng Ngài cũng đã truyền mệnh cho con dân Ngài thi hành cho đến khi Ngài trở lại để hoàn tất vào thời tận thế. (Mat 28:18-20)
9/ Tín hữu Cô-rinh-tô nên theo gương Phao-lô vì ông theo gương Chúa Giê-su.
10/ Phao-lô đã yêu thương nhưng cũng sẵnsàng dùng kỷ luật đối với tín hữu Cô-rinh-tô như cha thương con.
Bài 11
Vua Chúa hay Cha Thuộc Linh (1Côr 4:8-21)
1/ Ba hình ảnh đó là no đủ, giàu có và cai trị như vua chúa.
Khi những người tín hữu cho mình đầy đủ mọi ân tứ nên không cần học hỏi và sử dụng các ân tứ đó cho Chúa; khi họ nghĩ rằng họ cũng giàu có và khôn ngoan theo trần tục để cai trị hội thánh mà không cần Sứ Dồ và sự dạy dỗ của Chúa là một sai lầm nguy hại vì những điều này: giàu có, quyền thế. Khôn ngoan thế tục không cứu rỗi được ai và không xây dựng đời sống tín hữu trưởng thành.
2/ Trí thức, giàu có, quyền thế, khôn ngoan không có gì sai lầm trong việc xây dựng đời sống vật chất, kinh tế nhưng những điều này không có quyền năng để cứu rỗi tội nhân và xây dựng đời sống tín hữu.
3/ Những người lãnh đạo các giáo hội này vì không tin Phúc Âm của Con Đức Chúa Trời và Lời Đức Chúa Trời nên không có quyền năng thiêng liêng để đem người về cùng Chúa và xây dựng đời sống thuộc linh của tín hữu.
4/ Những người có nhiều tài năng, ân tứ nhưng không sử dụng đúng mục đích sẽ trở nên kiêu ngạo, khoe khoang và có thể đưa đến việc phạm tội, thỏa hiệp về giáo lý, đạo đức và phá hoại hội thánh thay vì xây dựng.
5/ Phao-lô chịu tất cả những điều đó vì ông là một tôi tớ của Chúa Cứu Thế và muốn rao truyền Phúc Âm của Chúa Cứu Thế, phục vụ hội thánh của Ngài.
6/ Dù hội thánh Cô-rinh-tô đã khoe là giàu có, mạnh mẽ nhưng họ vẫn không thấy rằng việc cấp dưỡng cho Phao-lô khi ông hầu việc Ngài giữa họ là một điều đúng và cần phải làm như Chúa dạy trong khi đó Phao-lô vẫn phải tự túc làm việc để sinh sống khi ông phục vụ Chúa tại Cô-rinh-tô.
7/ Người dạy đạo Chúa không những chỉ truyền bá kiến thức mà thôi nhưng phải sống đạo và làm gương cho người khác.
8/ Người Cô-rinh-tô có thái độ thụ hưởng vì họ đã vào Nước Đức Chúa Trời. Phao-lô có quan niệm rằng Nước Đức Chúa Trời đã đến với Chúa Cứu Thế nhưng chưa hoàn tất. Tín hữu của Chúa Cứu Thế phải tiếp tục và hoàn tất sứ mệnh của Chúa cho đến khi Chúa Giê-su tái lâm.
9/ Phao-lô mạnh dạn khuyên tín hữu theo gương mình vì chính ông đã theo gương Chúa Giê-su.
10/ Phao-lô đã yêu thương , chăm sóc hội thánh như một người cha thuộc linh nhưng ông cũng sẵn sàng dùng kỷ luật khi họ không ăn năn hối cãi.
Bài 12
Đạo Đức Cơ Đốc (1Côr 5:1-5)
1/ Một người tin theo Chúa Giê-su phải sống theo giá trị đạo đức của Chúa Cứu Thế vì đó là một phần của đức tin nơi Chúa Cứu Thế.
2/ Hôn nhân theo lời Chúa dạy là sự phối hợp để thành một gia đình giữa một người tín hữu nam và một người tín hữu nữ. Hai người phải sống thánh khiết và gìn giữtrinh tiết cho đến ngày kết hôn; không được có quan hệ tình dục với nhau trước ngày hôn lễ.
Hôn nhân trong Chúa là chung sống suốt đời.
3/ Khi một tín hữu phạm tội công khai và không ăn năn; hội thánh phải tthi hành biện pháp kỷ lậut để sữa sai và phục hồi tín hữu đó; không để tội lỗi lan rộng và đồng thời cũng thanh tẩy tiếng xấu và giữ hội thánh Chúa không bị ô nhiểm.
4/ Một vài nguyên tắc khi thi hành hình phạt:
a/ tội nhân không ăn năn.
b/ mục đích của hình phạt là để phục hồi không phải để hủy diệt.
c/ Nhân danh Chúa hình phạt, tức là bởi thẩm quyền của Chúa và theo sự dạy dỗ, giá trị đạo đức của chúa chứ không phải ý kiến hay tình cảm cá nhân hay hội thánh.
5/ Hình phạt là loại bỏ người có tọi ra khỏi cộng đồng dân Chúa.
6/ “Giao phó cho quỷ Sa-tan “ có nghĩa là loại ra khỏi sự tương thông và bảo vệ của Chúa. Người đó phải bị ở trong sự tể trị của quỷ Sa-tan trong thế gian và không được Chúa bảo vệ gìn giữ.
7/ “Hủy hoại phần xác” thường chỉ vè sự đau ốm, bệnh tật hay sự chết về thể xác.
8/ Người bị giao phó cho Sa-tan không bị mất sự cứu rỗi vì hội thánh không có quyền ban sự cứu rỗi cho ai, chỉ có Chúa mới có quyền đó.
9/ Những hội thánh này hoặïc thỏa hiệp với thế gian hoặc không còn tin tưởng theo những giá trị đạo đức của Chúa Giê-su và Kinh Thánh.
10/ Chúa là Đấng thánh khiết; Ngài không thể chấp nhận và ban phước cho tội lỗi và ô uế.
Bài 13
Thanh Tẩy Men Tội Lỗi (1Côr 5:6-13)
1/ Vì họ cho rằng mình khôn ngoan và thiêng liêng vượt lên trên đạo đức Kinh Thánh và họ nghĩ rằng họ có đầu óc phóng khoáng, cỡi mở, chấp nhận mọi lối sống và hành vi đạo đức khác nhau.
2/ Phao-lô sẽ nói như trong thư Rô-ma 1:24-27.
3/ Men tượng trưng cho tội lỗi. Men có tính chất làm hư hoại (lên men) và lan tràn ra những phần khác . Ngoài ra men cũ dùng lại lâu ngày có khuynh hhướng làm cho dễ nhiễm trùng.
4/ Nếu một cá nhân trong hội thánh phạm tội công khai nhưng không thanh tẩy thì chính người đó sẽ mất phước và hội thánh cũng mất phước. Ngoài ra tội lỗi nếu không ngăn chận hay thanh tẩy sẽ lan tràn đến những người khác trong hội thánh Chúa. Hội thánh dung dưỡng tội lỗi hay hãnh diện về điều mà Kinh Thánh dạy là tội lỗi sẽ mất quyền năng của Chúa Thánh Linh và làm cho danh Chúa bị tiếng xấu.
5/ Không, Phao-lô không chủ trương tín hữu của Chúa phài xuất thế hay tránh xa thế gian nhưng phải sống theo tiêu chuẩn đạo đức của Chúa và ở ngay trong thế gian; đi vào thế gian để truyền bá Phúc Âm cho họ.
6/ Kinh Thánh dạy rõ đa thê là tội. Hội thánh phải đối ử với người phạm tội đa thê theo như lời Chúa Giê-su dạy trong Ma-thi-ơ 18:15-17.
7/ Bản chất của Chúa là Đấng thánh khiết vì thế con dân Chúa cũng phải thánh và hội thánh Chúa cũng phải thánh (1Phê-rơ 1:16). Nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su, chúng ta được huyết của Ngài thánh hoá và nhờ Chúa Thánh Linh thánh hoá trên tiến trình theo Chúa.
8/ Loài người không có quyền phán xét. Đức Chúa Trời sẽ đoán xét người ngoại đạo vô tín và thế gian vào ngày tận thế. (Khải 20:11-15)
9/ Khi con dân Chúa sống tội lỗi như thế gian thì sẽ không còn là ánh sáng cho thế gian. Tội lỗi nếu không được thanh tẩy sẽ lan tràn làm hư hại những cuộc đơì khác trong hội thánh và chính hội thánh cũng mất phước, mất quyền năng của Chúa cũng như làm danh Chúa bị ô uế và tiếng xấu.
Bài 14
Hành Vi Cao Quí của Tín Hữu (1Côr 6:1-11)
1/ Tín hữu của Chúa là những người đã được tái sinh, đổi mới (2Côr 5:17) nên có thể sống theo tiêu chuẩn đạo đức tốt đẹp và cao quí của Chúa.
2/ Tín hữu của Chúa sẽ được đồng trị và cùng tham gia xét xử nhân loại vô tín, tội lỗi trong ngày tận thế. (Khải 20:4-6)
3/ Tín hữu cũng sẽ được cùng Chúa xét xử các thiên sứ ác, sa ngã. (2Phê-rơ 2:4; Giu-đe 6)
4/ Không, Phao-lô cho rằng hội thánh Cô-rinh-tô có thể vẫn có nan đề vì tín hữu của Chúa không phải là những người toàn hảo. Tín hữu chỉ là những người đã được đổi mới và trên tiến trình thánh hóa, trở nên giống Chúa hơn, chứ chưa phải toàn hảo.
5/ Vì dù tín hữu của Chúa chưa phải là ngưòi toàn hảo nhưng là những người đã được đổi mới và có khả năng đạo đức, khôn ngoan cũng như tình yêu thương để giải quyết mọi xích mích với nhau.
Đem những xung đột, tranh tụng giữa tín hữu ra toà án của những người vô tín, xấu xa hơn tín hữu để nhờ giải quyết là điều xấu và đáng hổ thẹn vì điều đó chứng tỏ tín hữu Cô-rinh-tô chưa được đổi mới, không có tình yêu thương và không có người khôn ngoan đủ để giải quyết nan đề của mình.
6/ Tín hữu củaChúa đáng lý phải có bản tính mới, đạo đức, tốt đẹp hơn con người tội lỗi cũ; có tình yêu thương của Chúa và sự khôn ngoan của Chúa Thánh Linh trong lòng để giải quyết mọi sự trong đức tin và tình yêu thương.
7/ Người tin nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của mình sẽ được: Tẩy sạch khỏi mọi tội lỗi; được thánh h1a và được tuyên xưng công chính.
8/ Tín hữu của Chúa được tha thứ tội lỗi, ân xá và được tuyên xưng công chính nhưng vì còn mang bản tính cũ nên vẫn còn phạm tội và cần ăn năn, xưng tội để được tha thứ (1Giăng 1:9). Tiến trình thánh hóa sẽ giúp tín hữu ngày càng tốt đẹp và ít phạm tội hơn.
9/ Tín hữu của Chúa có sự sống vĩnh cửu và có bản chất mới nên sẽ cãi tiến đơì sống mỗi ngày. Tín hữu của Chúa có thể ăn năn, xưng tội đễ được tha thứ khi phạm tội. Khi một người đã được sinh ra làm con Đức Chúa Trời nếu người đó lỡ phạm tội, có thể người đó sẽ bị phạt nhưng không mất quyền làm con Chúa.
Chúa không thể bội tín (Xem Giăng 6:38-40; Giăng 10:27-29) và Ngài có quyền giữ lời hứa của Ngài.
Bài 15
Thân Thể Để Tôn Vinh Chúa (1Côr 6:12-20)
1/ Con người thọ tạo không thể có tự do tuyệt đối, chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng tự do tuyệt đối. Tín hữu là những người đã được giải thoát khỏi vòng nô lệ cho tội lỗi và ma quỉ, tức là được tự do đối với tội lỗi và ma quỉ nhưng là con dân của Đức Chúa Trời, thuộc về Ngài và sống cho Ngài.
2/ Ngiện tức là nô lệ; vì thế con dân của Chúa không nên để bị nghiện bất cứ một thứ gì . Chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời vinh quang và cao quí , hãy vâng phục và phục vụ Ngài.
3/ Sự cứu rỗi trong Chúa Giê-su bao gồm cả thể xác lẫn linh hồn. Dù thân xác vẫn phải chết nhưng nó đã được thánh hóa và sẽ được sống lại để sống đời đời với Chúa.
4/ Tín hữu là một phần của “thân thể của Chúa” (hội thánh Chúa) nên thân thể phạm tội tức là vi phạm đến thân thể của Chúa Cứu Thế.
5/ Thân thể của con dân Chúa là đền thờ của Đức Thánh Linh vì thế chúng ta nên giøn giữ cho khoẻ mạnh, thánh khiết. Bất cứ điều gì làm cho thân thể bệnh hoạn, đau yếu hay kiệt quệ là trái ý Chúa và vi phạm đến đền thờ thiêng liêng của Chúa.
6/ Chúa Thánh Linh là Đấng thánh; Ngài muốn ngự trong đền thánh, không thể là đền ô uế. Vì thế chúng ta nên giữ thân thể mình thánh khiết.
7/ Những người theo khuynh hướng thần học tự do cấp tiến (Liberal) không còn tin Kinh Thánh là chân lý và là Lời hằng sống, vô ngộ của Đức Chúa Trời nên họ không theo những điều Kinh Thánh dạy và theo tiêu chuẩn đạo đức Kinh Thánh.
8/ Đức Chúa Trời muốn dùng thân thể tín hữu để phục vụ và tôn vinh Chúa.
Bài 16
Những Vấn Đề Hôn Nhân (1Côr 7:1-16)
1/ Trong tình trạng hiện tại, nếu không có ân tứ ở độc thân thì lập gia đình là điều tốt hơn. Vì nếu gia đình hạnh phúc sẽ giúp tránh được vấn đề tội lỗi vì tình dục.
2/ Kinh Thánh dạy rằng tình dục là một phần của sự sáng tạo nên là điều bình thường, tự nhiên. Tình dục là điều tốt, tự nhiên và bình thường khi nó được sử dụng đúng mục đích, tức là trong hôn nhân. Tình dục trước hôn nhân, ngoài hôn nhân là tà dâm, tội lỗi.
3/ Kinh Thánh dạy gia đình là một đời sống tự nhiên và bình thường ngoại trừ một số ít người có ân tứ ở độc thân.
4/ Một trong những nguyên tắc giữ gia đình hạnh phúc là cố gắng đáp ứng đầy đủ cho nhau về phương diện tình dục. Tôn trọng thân xác và nhu cầu thể xác của nhau.
5/ Quan niệm của Kinh Thánh rất bình đẳng về nam nữ và quyền lợi cũng như trách nhiệm của mỗi người trong hôn nhân. Kinh Thánh không đồng ý với những quan niệm:
a. Chồng chúa, vợ tôi.
b. Trai năm thê bảy thiếp; gái chín chuyên chỉ có một chồng.
6/ Khi đời sống tình dục không được thỏa mãn, người ta dễ bị Sa-tan cám dỗ, phạm tội.
7/ Tín hữu không nên ly dị dù cho vợ hay chồng không tin Chúa. Trường hợp duy nhất Chúa cho phép ly dị là ngoại tình; tuy nhiên Kinh Thánh dạy chúng ta luôn luôn phải để cơ hội cho người phạm tội ăn năn, hối cãi và giải hòa.
8/ Người tín hữu không nên ly dị dù người phối ngẫu chưa tin Chúa vì trong hôn nhân và nhờ đức tin người tín hữu có dịp tiện đem chồng hay vợ mình về với Chúa.
9/ Người phối ngẫu và con cái của gia đình có người không tin Chúa được “thánh hóa” nghĩa là được cơ hội thuận tiện và ảnh hưởng tốt để có thể đến với Chúa sau này.
Bài 17
Sống Như Chúa Kêu Gọi (1Cor 7:17-40)
1/ Chính bản thân Phao-lô là người sống độc thân nhưng ông không theo quan niệm khắc kỷ cho rằng sống độc thân là thánh thiện và thiêng liêng hơn đơì sống gia đình.
Kinh Thánh Cựu Ước, Chúa Giê-su đều dạy lập gia đình là một điều tự nhiên và bình thường. Sống độc thân là một ân tứ của một số người (Ma-thi-ơ 19:11-12); không phải ai cũng sống như thế được. Người cố gắng sống độc thân và tìm cách đè nén “tình dục nung đốt” sẽ dễ bị sa ngã, phạm tội về tình dục và điều này sẽ tệ hại hơn cho chính cá nhân người đó và thiệt hại đến danh Chúa.
2/ Tín hữu Cô-rinh-tô hỏi Phao-lô về trường hợp của họ. Phao-lô trả lời cho tín hữu Cô-rinh-tô rằng vì tình hình khó khăn tại Cô-rinh-tô thời bấy giờ những người độc thân sẽ sống và phục vụ Chúa dễ dàng và hữu hiệu hơn là người có gia đình nhưng nếu những tín hữu tại Cô-rinh-tô muốn lập gia đình thì không mắc tội gì cả. Đây chỉ là lời khuyên thực tế và có tính cách giai đoạn nhất thời, không hải là một nguyên tắc chung.
3/ Kinh Thánh từ Sáng Thế đều dạy rằng đời sống hôn nhân là một đời sống bình thường, thánh thiện. Sống độc thân là một ân tứ cho một số người và độc thân không phải là lối sống thánh thiện hay thiêng liêng hơn lôí sống gia đình.
Quan niệm cho rằng đời sống độc thân thánh thiện và thiêng liêng hơn là quan niệm ngoại giáo.
4/ Người Công Giáo cho rằng tu sĩ ở độc thân để phục vụ Chúa là một truyền thống cổ cả ngàn năm của giáo hội. Nhưng truyền thống này cũng như nhiều truyền thống khác của giáo hội Công Giáo La Mã đã đi trái ngược với Kinh Thánh:
“CHÚA, Đức Chúa Trời lại nói, con người ở một mình không tốt!” Sáng Thế 2: 18
Phao-lô trong Kinh Thánh Tân Ước: “Nhưng nếu anh chị em không thể kiềm chế mình, thì hãy cưới gả vì lập gia đình vẫn tốt hơn là để tình dục nung đốt.” 1 Côr 7:9
Ngoài ra trong những thập niên cuối thế kỷ 20, vì thiếu người tu học để làm linh mục một số đại chủng viện Công Giáo đã thu nhận những người muốn sống độc thân dù họ là những người đồng tính luyến ái miễn là họ không công khai thực hành lối sống này.
Những người này không có ân tứ sống độc thân và cũng không thể kiềm chế tình dục của mình theo luật truyền thống độc thân nên họ đã phạm tội.
5/ Vì người ta đi theo những truyền thống, luật lệ của người phàm nên trái với bản chất tự nhiên do Chúa sinh ra.
Đức Chúa Trời sáng tạo nên người nam, người nữ với tình dục và thiết lập hôn nhân để con người có thể dùng tình dục để thể hiện tình thương một cách thích đáng.
Những quan niệm ngoại giáo về lối sống độc thân không những trái với bản chất tự nhiên nhưng nó cũng tạo ra những hành vi tội lỗi và đạo đức giả.
6/ Người tín hữu có vợ hay chồng qua đời đều được tự do và có quyền lấy vợ hay chồng khác miễn là người tin Chúa. Tuy nhiên vì tính chất tạm bợ của thế gian, vì thì giờ trong đơì sống của họ cũng không còn nhiều và vì tình trạng khó khăn người góa đó nếu có thể được thì nên sống độc thân là hơn. Nhưng đây chỉ là lời khuyên thực tế, không phải là luật lệ hay nguyên tắc chung cho mọi người.
Bài 18
Ăn Đồ Cúng (1 Côr 8:1-13)
1/ Kinh Thánh dạy rõ chỉ có một Ông Trời, Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa sáng tạo ra vũ trụ vạn vật; bao gồm cả loài người và thiên sứ (thiên thần). Một trong các thiên sứ trưởng là Sa-tan phản nghịch lại Chúa và kéo theo một số thiên sứ khác tức là ma qủy theo nó. ( Ma quỷ không phải là linh hồn của những người chết. Linh hồn của tất cả những người không tin Chúa sẽ phải về một nơi (Âm Phủ) để chờ ngày phán xét cuối cùng. Linh hồn tín hữu của Chúa sẽ về nước Thiên Đàng với Chúa khi qua đời).
Như thế không có một Trời nào khác và tất cả những vị thần thánh người ta thờ đều không có thật. Những hình tượng người ta thờ chỉ là những sản phẩm bằng vàng, bạc, gỗ, đávô tri, là sản phẩm của con người tạo ra và tôn lên để thờ. Tuy nhiên Sa-tan và ma quỷ thường mạo nhận là thần thánh này nọ để người ta tôn thờ chúng. Đây là lý do nhiều thần tượng, đền đài, am miếu rất linh thiêng vì Sa-tan hay ma quỷ đang hiện diện ở đó.
2/ Phao-lô khuyên tín hữu Cô-rinh-tô không nên ăn đồ cúng và không nên dự những bữa tiệc cúng tế trong các đền đài thờ các thần khác vì sẽ gây vấp phạm cho những tín hữu mới, đức tin còn yếu kém.
Người tín hữu ăn đồ cúng hay dự các buổi tiệc cúng tế thần thánh khác sẽ gây cho những người khác ấn tượng rằng, Đạo nào cũng vậy, thần nào cũng là chân thần cả và như thế những nguời này có thể trở lại thờ đa thần.
3/ Tín hữu không nên cúng giỗ người thân đã qua đời vì nếu họ là người không tin Chúa thì sẽ ở một nơi riêng, chờ ngày phán xét cuối cùng. Nếu họ là tín hữu của Chúa Giê-su thì họ sẽ về cùng Chúa trên thiên đàng. Như thế cúng giỗ là điều vô ích.
Tuy nhiên Kinh Thánh không cấm chúng ta kỷ niệm, ghi nhớ người thân; cho nên tín hữu có thể tổ chức một bữa ăn để kỷ niệm, tưởng nhớ người thân của mình.
Vấn đề được mời ăn giỗ.
Đây là một vấn đề tế nhị cần hết sức cẩn thận trong cách đáp ứng.
Vấn đề thờ cúng người qúa cố.
Chúng ta biết rằng tổ tiên, ông bà chúng ta nếu đã qua đời không thể trở về hiện diện với con cháu. Ma quỷ có thể dùng nhiều hình thức để mạo nhận người qúa cố. Như thế những đồ dâng cúng là cúng cho kẻ mạo nhận, tức là ma quỷ chứ không phải ông bà, tổ tiên chúng ta và vì thế những đồ đã dâng cúng này thuộc về ma qủy và trở thành ô uế trước mặt Đức Chúa Trời. Tín hữu của Chúa là con dân đã được thánh hóa, không nên đụng đến những đồ ô uế. Đây là lý do tín hữu không nên ăn đồ cúng.
Vấn đề giải thích lý do.
Nhiều người tín hữu vì không hiểu rõ vấn đề và không giải thích rõ khi từ chối ăn đồ cúng đã gây ra không ít sự hiểu lầm, bất mãn và đôi khi xung đột nữa. Một số tín hữu tuyên bố rằng mình không ăn đồ cúng vì những đồ ăn đó đã dâng cúng cho ma quỷ. Nếu chúng ta không giải thích rõ ràng và khéo léo, người ta sẽ hiểu rằng quý vị đã cho rằng tổ tiên, ông bà của họ là ma quỷ! Kinh Thánh không dạy như thế.
Hãy giải thích rõ điều chúng ta tin, người qúa cố đang ở một nơi riêng biệt và không thể trở về nhân thế. Ma qủy là những kẻ mạo nhận và chúng ta không muốn bị gạt hay ép buộc phải tham dự vào những gì thuộc về chúng.
Tín hữu rất mong muốn được kỷ niệm, ghi công và nhớ ơn ông bà, tổ tiên cho nên tín hữu sẽ tổ chức lễ kỷ niệm với bữa tiệc ghi ơn nhưng không cúng tế.
Hoặc tín hữu sẽ tham dự lễ kỷ niệm và dự tiệc ghi ơn nhưng xin dùng những đồ chưa dâng cúng.
Tín hữu cũng có thể tình nguyện đến nhà người tổ chức giỗ tiệc, nấu một vài món cho bữa tiệc chung, nhưng không để dâng cúng và tín hữu chỉ ăn những đồ không dân cúng.
4/ Vấn đề thờ cúng ông bà, tổ tiên.
Chúng ta nên nhấn mạnh đến vấn đề Kinh Thánh dạy rõ con người phải hiếu kính cha mẹ, ông bà và nhớ ơn tổ tiên. Đây là một trong mười Điều Răn trong Kinh Thánh.
Kinh Thánh khuyến khích con dân Chúa tổ chức lễ kỷ niệm, nhớ ơn và tỏ lòng hiếu kính chứ không cúng tế, thờ tự. Như thế tín hữu của Chúa bày tỏ lòng hiếu kính bằng một cách khác chứ không phải không hiếu kính, nhớ ơn hoặc tôn kính ông bà, tổ tiên.
Ngoài ra thờ cúng ông bà, tổ tiên chỉ là một cách bày tỏ lòng hiếu kính, ghi ơn của người Trung Hoa thời cổ, không phải là cách duy nhất cho toàn thể nhân loại phải làm theo cùng một cách đó thì mới có hiếu.
Tuy nhiên nếu quý vị là người tín hữu trong đại gia đình không tin Chúa thì nên có một lễ tiệc kỷ niệm để thay thế cho cúng giỗ. Vì nhiều tín hữu không làm gì cả trong những ngày giỗ tết nên bị coi là bất hiếu, “bỏ ông, bỏ bà”.
5/ Đối với tín hữu của Chúa, tri thức về Chúa, về sự việc là quan trọng nhưng tình yêu thương và tinh thần xây dựng anh chị em mình trong Chúa cũng không kém phần quan trọng trong đơì sống.
Bài 19
Sứ Đồ của Chúa (1Cor 9:1-27)
1/ Phao-lô đã được Chúa kêu gọi, đã gặp Chúa Giê-su phục sinh, đã thi hành nhiều phép mầu, dấu lạ khi truyền bá Phúc Âm và ông đã thành lập hội thánh Cô-rinh-tô cũng như nhiều hội thánh khác khắp vùng Trung Đông và Âu Châu.
2/ Những kết quả thuộc linh như đời sống đạo đức thay đổi, đem được nhiều người về cùng Chúa hay giúp xây dựng, đào tạo được nhiều người trưởng thành trong đức tin và trong công trường phục vụ Chúa là những dấu hiệu cho thấy một người được chúa kêu gọi và sử dụng.
3/ Đây cũng là một trong những lý do khiến cho nhiều người tín hữu trẻ, có nhiều khả năng không dám bước chân vào chức vụ mục sư vì:
a/ Trợ cấp của hội thánh không đủ sống.
Chính họ có thể hy sinh chịu đựng, nhưng phần lớn vợ con họ sẽ bất mãn, cay đắng và nhiều người đi đến chỗ bỏ cuộc.
b/ Nếu tình trạng tài chính đã thiếu thốn nhưng tinh thần cũng không được an uỉ khích lệ nhiều; trái lại thường bị phê bình, chỉ trích và hạch sách nhiều điều.
Lý do khiến nhiều bạn trẻ không muốn đi vào chức vụ mục sư vì họ nghĩ rằng họ cũng có thể phục vụ Chúa trong công việc chuyên môn của mình và tránh được những nan đề tài chánh và tinh thần như kể trên.
4/ Phao-lô đã tự túc để truyền bá phúc Âm và thành lập hội thánh Cô-rinh-tô vì ông
a/ không muốn những người ngoại đạo chưa hiểu biết về trách nhiệm dâng hiến của tín hữu hiểu lầm, gây trở ngại cho Phúc Âm.
b/ Ông muốn hy sinh tự do và quyền lợi củamình để tạo dịp tiện tối đa và tốt nhất cho người ta tin Chúa.
5/ Chúng ta phải biết rõ niềm tin, giáo lý căn bản và mục đích của Chúa. Chúng ta phải giữ vững niềm tin, giáo lý căn bản; không thể thay đổi sứ điệp Phúc Âm cứu rỗi. (Chúa Giê-su là Ông Trời giáng thế làm người; Ngài đã chết và sống lại; Ngài sẽ trở lại thế gian; Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, không sai lầm; Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế duy nhất của nhân loại…) Nhưng chúng ta cần sự khôn ngoan và tình yêu thương cao độ để linh động trong cách trình bày Phúc Âm của Chúa và cách hành xử trong đời sống hàng ngày.
Bài 20
Cảnh Cáo về Thần Tượng
1/ Phao-lô khuyên tín hữu của Chúa không nên tham gia thờ tự hay lễ hội ăn uống tiệc tùng tại các đền thờ các thần khác vì nhiều lý do:
a. Dù những hình tượng kia là vật vô tri giác, không phải là các thần linh thật nhưng Sa-tan và ma quỷ đã mạo nhận làm các thần đó. Sa-tan và ma qủy là các thiên sứ phản loạn với Đức Chúa Trời và đang hiện diện khắp thế gian.
b. Cho nên những hành động thờ cúng, dâng tế đồ vật không còn là dâng tế, thờ cúng các vật vô tri nữa mà là thờ cúng dâng tế ma qủy. Những đồ dâng cúng trở thành vật thuộc về ma qủy.
c. Tín hữu là những người có mối tương giao thiêng liêng mới với Đức Chúa Trời nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su, Con Một Đức Chúa Trời. Mối liên hệ giữa con dân Chúa với Ngài là mối liên hệ thiêng liêng, thánh khiết và chung thủy như một.
d. Khi một tín hữu tham gia, thờ cúng hay ăn uống đồ cúng cho ma quỷ là thông công với ma qủy. Đây là hành vi không vâng lời Chúa và bội tín, vi phạm vào mối thông công thánh khiết của tín hữu và Chúa.
e. Trong hội thánh bao giờ cũng có những tín hữu mới, chưa hiểu biết về Chúa và Đạo Chúa nhiều, chưa trưởng thành nên họ còn tin tưởng, sợ sệt nhiều thần thánh, tà linh. Những người này khi thấy tín hữu trưởng thành hay lâu năm ăn uống đồ cúng hay tham gia những lễ hội trong đền thờ các thần có thể hiểu lầm rằng đạo nào cũng vậy và trở lại tin tưởng, thờ cúng đa thần.
Đây là điều gây vấp phạm nghiêm trọng, nặng nề nhất mà tín hữu trưởng thành và có trách nhiệm trước mặt Chúa nên cố gắng tránh. Chúng ta muốn xây dựng, cứu vớt tội nhân chứ không bao giờ muốn phá hủy đức tin người khác dù là vô tình hay dù chúng ta có quyền tự do sống theo điều mình tin.
2/ Nguyên tắc căn bản là tín hữu phải tìm mọi cách giải thích cho người mời chúng ta hiểu rõ rằng tín hữu của Chúa không bị cấm tưởng niệm, kỷ niệm người qúa cố. Vì thế hãy tìm mọi cách bày tỏ lòng ngưỡng mộ, kính trọng và mong muốn tưởng niệm người qúa cố với thân chủ.
Nguyên tắc thứ hai là tín hữu không nên tham dự lễ tế và ăn uống đồ cúng tế. (xin xem phần lược giải). Hãy hết sức cẩn thận trong khi trả lời hay giải thích lý do.
Đây là điều khó hiểu đối với đa số người ngoại đạo và vì thế nhiều người đã trả lời vắn tắt, không đầy đủ và thiếu khéo léo: “chúng tôi không ăn đồ cúng cho ma qủy.” Trả lời như thế sẽ làm cho thân chủ hiểu lầm rằng chúng ta ám chỉ cha mẹ, tổ tiên họ là ma qủy.
Bạn có thể có những giải pháp đáp ứng được cả hai nguyên tắc trên. Sau đây là một giải pháp (không phải giải pháp duy nhất và bắt buộc cho mọi trường hợp):
Để tỏ lòng tưởng niệm, bạn có thể đến dự tiệc kỷ niệm chứ không dự buổi lễ tế tự, cúng kiến.
Nên xin phép gia chủ để riêng đồ không cúng hay chỉ ăn những đồ không dâng cúng.
Nên đem theo qùa (thực phẩm, bánh trái, nước ngọt v.v.) để tham gia, đóng góp vào phần gia chủ phải dành riêng cho bạn.
Nếu bạn là con trưởng hay trưởng gia tộc hãy tổ chức một lễ tưởng niệm và tiệc tưởng niệm nhưng không cúng.
Hãy mời tất cả gia đình đến dự và đề nghị những gia đình chưa tin Chúa có thể cúng riêng tại nhà riêng, nếu họ muốn.
3/ Người tin Chúa không nên tổ chức giỗ, nhưng nên tổ chức lễ tưởng niệm cha mẹ, ông bà qúa cố.
a.Trong buổi lễ tưởng niệm chúng ta nên nhấn mạnh đến công ơn, những công trình, thành qủa, đời sống tốt đẹp của người qúa cố.
b.Chúng ta nên có phần cầu nguyện cho gia đình, con cháu còn sống. Cha me, ông bà chúng ta dù đang ở đâu cũng đều mong Chúa ban phúc lành cho con cháu.
c. Tiệc kỷ niệm.
Bài 21
Phong Tục, Thẩm Quyền (1Cor 11:1-16)
1/ Phao-lô khuyến khích phụ nữ Cô-rinh-tô nên che đầu khi cầu nguyện và nói tiên tri trong buổi thờ phượng vì đây là những phong tục tốt đẹp hợp với Kinh Thánh trong việc tôn vinh Chúa.
Phong tục tập quán trong một nền văn hóa thường xuất phát từ những biến cố , hành động được giải nghĩa theo một số vũ trụ quan phổ quát. Vì thế chúng ta cần xét định những phong tục tập quán theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Điều cần quan tâm và hiểu rõ rằng chúng ta không phải làm theo phong tục tập quán của những tín hữu trong Kinh Thánh. Chúng ta cần xem xét mọi phong tục tập quán của mọi nền văn hoá theo những nguyên tắc đạo lý của Kinh Thánh, không phải theo phong tục tập quán của những dân tộc theo Cơ Đốc giáo.
2/ Phụ nữ VN không cần phải trùm khăn che đầu hay che mặt khi thờ phượng Chúa vì chúng ta không có phong tục này và phong tục này cũng không làm vinh hiển Chúa giữa người Việt Nam.
3/ Những phong tục hiếu kính ông bà, cha mẹ (không phải thờ). Tín hữu có thể tổchức tưởng niệm ông bà cha mẹ thay vì làm đám giỗ.
Những phong tục chúc tết đầu năm. Những truyền thống từ thiện, bác ái…
Giữ các lễ phép đối với người lớn tuổi.
4/ Kinh Thánh phân định thẩm quyền cho người chồng làm đầu gia đình nhưng cũng đòi hỏi trách nhiệm lớn lao và khó khăn: yêu thương, hy sinh và tận hiến đờisống mình cho vợ con. Vì thế người chồng hành xử thẩm quyền của mình trên căn bản tình yêu thương, hy sinh và cho quyền lợi, phúc lành của vợ con không phải hành động vì quyền lợi hay sở thích vị kỷ của cá nhân mình.
Quan niệm chồng chúa vợ tôi là một quan niệm độc đoán, vị kỷ cho nên thường vi phạm đến quyền bình đẳng nam nữ.
4/ Hội thánh vui lòng thuận phục Chúa Giê-su vì Chúa Giê-su đã hy sinh, tận hiến mạng sống Ngài cho hội thánh rồi. Nếu người chồng hy sinh, tận hiến đời sống mình cho vợ con thì vợ con cũng sẽ vui lòng thuận phục chồng, cha mình.
Bài 22
Lễ Tiệc Thánh (1Côr 11:27-34)
1/ Quan điểm cho rằng Tiệc Thánh là một hành động biểu tượng và mang ý nghĩa thuộc linh là hợp với cách giải nghĩa Kinh Thánh bình thường nhất. Ngoài ra khi Chúa Giê-su thiết lập lễ này Ngài còn hiện diện trong thân xác và chưa chịu đóng đinh trên cây thập tự, cho nên Ngài muốn nói về ý biểu tượng và thuộc linh là hợp lý hơn cả.
2/ Chúa dạy mỗi tín hữu là một phần của Thân Thể (Hội Thánh) Chúa; dự Tiệc Thánh một phần là để nhớ đến sự hiệp nhất thiêng liêng này; vì thế nếu chúng ta dự Tiệc Thánh mà chia rẽ, phân chia giai cấp tức là chúng ta công khai chống lại sự dạy dỗ của Chúa hay ít ra là coi thường sự hiệp nhất trong Thân Thể Chúa.
3/ Tiệc Thánh không phải lập ra cho những người thánh thiện dự nhưng Tiệc Thánh là biểu tượng nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không ai xứng đáng cả nhưng vì tình thương Chúa Cứu Thế hy sinh cứu rỗi chúng ta, những tội nhân. Vì thế Tiệc Thánh là dịp tiện nhắc nở chúng ta rằng chúng ta được tha tội là vì lòng ăn năn và đức tin nơi Chúa Cứu thế chứ không phải vì công đức thánh thiện của mình. Như thế đây là dịp tiện để chúng ta xét lại mình xem mình đã sống theo Lời Chúa chưa, nếu chưa , thì đây là thì giờ cho chúng ta ăn năn, xưng tội cùng Chúa và xin huyết Chúa thanh tẩy tội lỗi chúng ta để con dân Chúa không phải sống trong mặc cảm tội lỗi.
4/ Đa số những hội thánh không có được buổi ăn thông công thường xuyên vì nhiều lý do; có thể là lýdo thiếu phương tiện phòng ốc.
Nhưng lý do chính là thiếu tinh thần thông công, hiệp nhất; tính ích kỷ, ganh đua, tị hiềm vẫn còn khá nặng nên sinh ra mích lòng, giận hờn nhau:
-Người đem nhiều, kẻ đem ít.
-Người nấu món đắt tiền, kẻ đem món ăn rẽ tiền.
-Kẻ nấu ngon, người nấu dở…
5/ Dự Tiệc Thánh cũng là dịp nhắc nhở con dân Chúa phải rao truey62n sự hy sinh đền tội của Chúa cho đến khi Ngài trở lại.
6/ Chúa Cứu Thế đã hy sinh thân báu và đổ huyết vô tội của Ngài một lần đầy đủ đến đời đời; Kinh Thánh xác định như thế, Chúa không truyền cho chúng ta phải lập lại hành động kia; chúng ta chỉ cần nhớ và nhận lấy ân phúc thiêng liêng của sự hy sinh trên; đồng thời tiếp tục rao truyền sự hy sinh của Chúa cho đến khi Ngài đến.
7/ Chúa truyền cho tín hữu phải rao truyền sự hy sinh của chúa cho đến khi Ngài trở lại nhắc nhở chúng ta rằng Ngài đã sống lại và đang sống.
Bài 23
Thân Thể Chúa (1Côr 12:1-11)
1/ Tại Việt Nam, và nhiều nước Aù Châu vấn đề lên đồng, cầu tiên rồi nói tiếng ngoại quốc hay những điêù tiên tri, huyền bí nhờ các vị thần kia nhập vào con đồng là vịệc phổ thông tại nhiêù đền miếu.
2/ Nói tiếng lạ, làm phép lạ, chữa bệnh chưa chắc là một bằng chứng của sự đầy dẫy Đức Thánh Linh vì từ thời hội thánh đầu tiên cho đến ngày nay nhiều đạo sĩ của nhiều tôn giáo và thần linh khác cũng làm những điều này.
3/ Tín hữu của Chúa phải xét nội dung lời tuyên bố, dạy dỗ (giáo lý), đời sống đức tin của một người để xem người đó có thật sự được đầy dẫy ân tứ của Chúa Thánh Linh không.
-Lời tuyên bố, dạy dỗ sai lầm, trái với Kinh Thánh.
-Đời sống đạo đức không hợp với Lời Chúa.
-Tìm lợi ích, danh tiếng cho cá nhân mình, không làm vinh hiển Danh Chúa.
4/ Lời tuyên xưng “Chúa Giê-su là Chúa” có nghĩa là tin và đặt Chúa Giê-su làm Vua , làm Chúa Tể tối cao cai trị đời mình hơn bất cứ một vị vua, tổng thống và bất cứ một người chủ nào của trần thế này.
5/ Tín hữu của thế kỷ đầu tiên có thể phải trả bằng mạng sống của họ khi họ dám công khai tuyên xưng “Chúa Giê-su là CHÚA” của họ.
6/ Một người thật sự tin Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế và Chúa của mình:
-Tình cảm dâng cho Chúa: Lập gia đình với người trong Chúa như Chúa dạy.
-Tiền bạc: Dâng cho Chúa ít nhất cũng bằng với một người ngoại đạo phải nộp cho vua hay lãnh chúa chủ đất của họ. (Dân chúng thời cổ phải nộp một phần mười hoa màu của mình cho vua hay lãnh chúa chủ đất)
Chúng ta được cứu rỗi không phải vì dâng một phần mười (theo luật người Do Thái) nhưng nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su.
-Tín hữu của Chúa sống và làm ăn ngay thẳng, thành thật hợp với đạo đức Kinh Thánh và Chúa sẽ ban phước cho họ thành công.
7/ Chúng ta phải có tình yêu thương, tôn trọng mọi người dù họ có ân tứ khác nhau và làm nhiều việc khác nhau bằng nhiều cách khác nhau để xây dựng hội thánh.
-Chúng ta cần sự hiệp nhất trong Chúa Giê-su, trong đức tin và trong mục đích xây dựng hội thánh, làm vinh hiển Danh Chúa.
Để thực hiện và hoàn thành mục đích trên chúng ta không cần phải buộc mọi người:
-có cùng một ân tứ, khả năng (nói tiếng lạ, chứng đạo, chữa bệnh..)
-hành động cùng một cách.
-có cùng một dạng , làm cùng một việc..
Hiệp Nhất Bằng Đa Dạng.
Bài 24
Một Thân Thể (1Cor 12:12-31)
1.Tất cả mọi tín hữu khi tin Chúa đều có Đức Thánh Linh ngự vào lòng. Ai không có Đức Thánh Linh thì không phải là con dân Chúa.
2. “Chúng ta chịu phép báp-tem trong cùng một Thánh Linh” nói đến kinh nghiệm tiếp nhận Chúa Thánh Linh khi tin nhận Chúa Giê-su là Cứu Chúa của mình.
3. Cấu trúc lẫn văn mạch của câu 1Cor 12:13 không nói đến một phép báp tem hay một kinh nghiệm mới khác. Câu này nói đến tất cả chúng ta cùng nhận một Thánh Linh chứ không phải nói đến ĐứcThánh Linh là Đấng làm phép báp-tem cho một tín hữu.
4. Khi một người tin nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của mình và phép báp-tem là biểu tượng bên ngoài của đức tin và kinh nghiệm tiếp nhận Chúa Thánh Linh đó, lúc ấy người đó được sát nhập vào thân thể thiêng liêng (Hội thánh) của chúa.
5. Tất cả mọi người đều ý thức rõ rằng mình làm những việc hay chức vụ khác nhau trong hội thánh nhưng đều cho một mục đích chung, xây dựng thân thể Chúa và phát triển hội thánh Chúa đem vinh hiển đến cho Chúa.
Giới lãnh đạo trong hội thánh nên quan tâm và khích lệ nhiều hơn những người làm những việc âm thầm, phía sau hậu trường và những việc mà nhiều người cho rằng không quan trọng.
6. Phao-lô nói rõ ràng trong 1 Cor 12:30 rằng không phải tất cả đều có ân tứ nói tiếng lạ; vậy chúng ta không nên ép buộc mọi người đều phải nói tiếng lạ.
Ngày lễ Ngũ Tuần là biến cố tiên khởi chỉ xảy ra một lần trong lịch sử mở màn cho Đức Thánh Linh giáng lâm. Sách Công Vụ cho thấy những tín hữu đầu tiên được nhiều kinh nghiệm khác nhau như năng lựcmới, vui mừng, can đảm, khôn ngoan để đôí đáp với chính quyền, đầy quyền năng để giảng Phúc Âm khi họ đầy dẫy Đức Thánh Linh.
7. Ân tứ Đức Thánh Linh là những khả năng siêu nhiên để phục vụ Chúa do Đức Thánh Linh ban cho mỗi người theo ý Ngài, không phải do chúng ta ưa thích hay mong muốn. Vì thế một người không thể có ân tứ Đức Thánh Linh nhờ học hỏi, huấn luyện.
8. Khi mỗi tín hữu trong hội thánh đều quan tâm, chămsóc và tôn trọng lẫn nhau thì hội thánh đó sẽtránh được nhiều nan đề chia rẽ.
Bài 25
Tình Yêu Thương (1 Côr 13:1-13)
1. Một tín hữu có ân tứ nói tiếng lạ không nhất thiết là người trưởng thành trong Chúa vì ân tứ nói tiếng lạ không xây dựng người khác và không xây dựng hội thánh Chúa nếu không được thông giải và hành động trong tình yêu thương. Vì tất cả các ân tứ Đức Thánh Linh được ban cho tín hữu là để làm lợi ích chung (1 Côr 12:7). Thật ra Phao-lô ám chỉ người Cô-rinh-tô còn ấu trĩ , thiếu tình yêu thương (1 Côr13:11) và còn vị kỷ chỉ tìm ân tứ vì lợi ích cá nhân và khoe khoan.
2. Những người qúa nhấn mạnh đến các ân tứ nói tiếng lạ, tiên tri và tri thức nhưng không hành động theo tình yêu thương thường gây ra tinh thần ghen ghét, ganh tị, chia rẽ và bè phái trong hội thánh. Hội thánh Cô-rinh-tô đang ở trong tình trạng bè phái và chia rẽ đó vì một số người chú tâm và kiêu hãnh về các ân tứ họ có.
3. Phao-lô ám chỉ tín hữu Cô-rinh-tô là trẻ con vì ho ïchỉ chú tâm đến những ân tứ tạm thời, chưa hoàn hảo và thiếu tình yêu thương thiên thượng là ân huệ vĩnh cửu và có quyền năng xây dựng người khác và hội thánh Chúa.
4. Trong thời đại hiện tại một số những người phô trương ân tứ nói tiếng lạ, chữa bệnh công cộng đã dùng phương tiện truyền thông đại chúng để trở nên rất nổi tiếng, giàu có và lớn lao nhưng vì thiếu tình yêu thương thật và bông trái Đức Thánh Linh nên đã sa ngã vì tiền bạc, tình dục bỉ ổi khiến cho danh Chúa Giê-su bị phạm thượng, biếm nhẻ giữa vòng người ngoại đạo trên thế giới.
5. Tình yêu thương (1 Cor 13:4-7) và bông trái Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:22-26) là tiêu chuẩn và mẫu mực để mỗi tín hữu của Chúa Giê-su noi theo và lượng giá đời sống đức tin của mình.
6. Tôi hy vọng tín hữu của Chúa đều là những người thanh thiếu niên hay tráng niên thuộc linh. Hội thánh sẽ tăng trưởng và phát triển tốt đẹp.
Một hội thánh mà có qúa nhiều những tín hữu lâu năm nhưng trình độ thuộc linh chỉ là sơ sinh hay trẻ con sẽ có nhiều nan đề về ghen tị, ganh ghét, bè phái, chia rẽ v.v..
7. Các ân tứ như nói tiếng lạ, tiên tri và tri thức thường là những ân tứ tạm thời cho đời sống hiện tại. Những ân tứ này sẽ chấm dứt khi Đấng Toàn Hảo, Chúa Giê-su, tái lâm vào thơì tận thế. Chỉ có tình yêu thương mới trường tồn trong đời này lẫn nước đơì đời.
8. Chúng ta nên chú tâm vào việc xây dựng tình yêu thương
trong đời sống đức tin vì chỉ có tình yêu thương mới xây dựng người khác và xây dựng hội thánh Chúa và chỉ có tình yêu thương mới trường tồn trong Nước Thiên Đàng vĩnh cửu.
Bài 26
Sự Thờ Phượng Thích Đáng (1 Cor 14:1-40)
1. Một trong những mục đích của thờ phượng Chúa là xây dựng đời sống tín hữu trong hội thánh để mọingười đều trở nên trưởng thành giống Chúa Cứu Thế.
2. Khi một người có ơn nói tiếng lạ nhưng không cóngười thông giải cho hội thánh hiểu thì không nên nói vì không xây dựng đời sống tín hữu khác trong hội thánh.
3. Phao-lô khuyến khích tín hữu tìm kiếm ân tứ tiên tri vì nói tiên tri là truyền đạt các sứ điệp của Chúa cho tín hữu trong hội thánh hiểu và tăng trưởng. Mục đích của ân tứ tiên tri là xây dựng, khuyến khích, an ủi tín hữu, tức là làm lợi ich cho người khác, cho hội thánh.
4. Trách nhiệm của mỗi tín hữu trong buổi thờ phượng và nghe lời tiên tri (ngày nay lời giảng dạy) là xem xét, lượng giá xem có đúng là Lời của Chúa không vì nhiều người có thể nói lên lời cảm hứng cá nhân, lời dạy dỗ sai lầm, tà vậy và có thể là lời của Sa-tan, ma qủy ảnh hưởng, đầu độc.
Từ thời các Sứ Đồ cho đến ngày nay, hội thánh luôn luôn có Kinh Thánh là lời Chúa vô ngộ (không sai lầm) và chỉ có Kinh Thánh mới có thẩm quyền tuyệt đối trên đức tin và đời sống tín hữu.
5.Những hội thánh có buổi thờ phượng theo truyền thống hơi khô khan, lạnh lùng cần cải tiến để buổi thờ phượng sinhđộng, vui vẻ nhưng cũng không thiếu phần trang nghiêm.
Những hội thánh theo ân tứ cũng có thể đi qúa trớn, nhảy múa, la hét ồn ào, náo nhiệt, mất đi tinh thần trang nghiêm, trật tự như Phao-lô đã khuyến cáo hội thánh Cô-rinh-tô.
6. Hội thánh nên có những người có ân tứ về âm nhạc và thúc đẩy mọi người tham gia ca ngợi, tôn vinh, cảm tạ Chúa.
7. Phao-lô khuyên tín hữu hội thánh Cô-rinh-tô tìm kiếm và sữ dụng ân tứ tiên tri nhưng ông cũng truyền lệnh “đừng ngăn cấm việc nói tiếng lạ” (1Cor 14:39). Nếu những người có ân tứ nói tiếng lạ nên sử dụng riêng tư trong khi cầu nguyện cá nhân ở nhà.
8. Một số hội thánh và giáo phái Tin Lành chủ trương phụ nữ không được làm mục sư quản nhiệm và giảng dạy trong hội thánh. ( 1Cor 14:34-35)
Tuy nhiên đoạn kinh Thánh trên cũng có thể nói đến vấn đề hỏi han, tranh luận ồn ào trong buổi thờ phượng chứ không phải nói đến chức vụ quản nhiệm hay giảng dạy.
Ngoài ra từ thời Cựu Ước phụ nữ đã là tiên tri và thẩm phán (Thẩm phán 4:4 nữ tiên tri và thẩm phán Đê-bô-ra) trên cả nước. Lu-ca cho biết các con gái của chấp sự Phi-líp là những nữ tiên tri (Công Vụ 21:9). Phao-lô cũng đề cập đến phụ nữ cầu nguyện và nói tiên tri trong buổi thờ phượng tại hội thánh Cô-rinh-tô (1Cor 11:5); như thế Phao-lô không có ý cấm phụ nữ nói tiên tri nhưng chỉ hành xử thích đáng trong khi thờ phượng để bày tỏ đức tính nhu mì, thuận phục của phụ nữ tín hữu trái với hành vi hổn độn, ồn ào của các phụ nữ ngoại đạo tại các buổi cúng tế của các đạo giáo và đền thờ ngoại giáo thời bấy giờ.
Bài 27
Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su (1Cor 15:1-11)
1/Nội dung Phúc Âm Phao-lô truyền giảng bao gồm sự chết đền tội cho nhân loại của Chúa Giê-su theo như lời Kinh Thánh; Ngài được chôn trong mộ và đến ngày thứ ba Ngài sống lại như lời Kinh Thánh đã tiên báo.
2/ Nếu một người không kiên trì tin tưởng Phúc Âm của Chúa cho đến cuối cùng, người đó sẽ không được cứu rỗi.
3/ Ba nguồn nhân chứng của Phúc Âm là truyền thống của các hội thánh đầu tiên, sự chứng kiến Chúa sống lại của mười hai Sứ Đồ và trên 500 môn đệ của Chúa; sau cùng Chúa Giê-su phục sinh đã hiện ra cho Phao-lô, một kẻ chống đạo Chúa.
4/ Một bác sĩ y khoa kiêm khoa học gia đã nghiên cứu sự tra tấn của lính La Mã và hình phạt đóng đinh trên cây thập tự cho biết rằng một người đã bị tra tấn và đóng đinh như Chúa Giê-su không thể nào sống nỗi. Chúa Giê-su thật sự đã chết.
5/ Nếu các môn đệ của Chúa ăn cắp xác thì khi họ truyền giảng Chúa Giê-su sống lại tức là họ đã truyền giảng một điều láo khoét; đây chính là tội lỗi họ dạy không nên làm. Các môn đệ Chúa đã chứng tỏ một đời sống đạo đức cao, không thể làm điều dối trá đó. Nếu những người chính quyền ăn cắp xác Chúa thì khi môn đệ Chúa giảng dạy Chúa Giê-su đã sống lại ; họ chỉ cần đem xác Chúa ra để bác bỏ Phúc Âm, cần gì phải cấm đoán hay giết hại họ.
6/ Phúc Âm mà tôi nghe và tin ngày nay tại hội thánh tôi đúng y như Phúc Âm của Phao-lô giảng dạy cho tín hữu Cô-rinh-tô.
Nếu Phúc Âm mà giáo hội hay hội thánh tôi giảng không đúng y như Phúc Âm của Phao-lô truyền giảng, tôi sẽ không tin và không theo vì nó sẽ khôngcứu rỗi và không ích lợi gì cho tôi.
7/ Điều đáng tin cậy của Phúc Âm là vì nó là một sự kiện lịch sử có thật và được nhiều nhân chứng đáng tin cậy truyền lại. Và một yếu tố quan trọng khác là chính tôi chứng nghiệm được tất cả những sự thật mà Phúc Âm tuyên bố.
Bài 28
Hy Vọng Phục Sinh của Tín Hữu (1Cor 15:12-34)
1/ Những người không tin vào sự sống lại của con người vào ngày phán xét là sai lầm vì Chúa Giê-su, một con người bằng xương bằng thịt như chúng ta, đã chết và sống lại với đầy đủ bằng chứng xác thực.
2/ Tôi tin rằng tôi sẽ được sống lại và vào nước vinh hiển với Chúa Giê-su vì Chúa Giê-su đã sống lại và Ngài hứa sẽ ban cho ai tin cậy Ngài sẽ được sống lại như Ngài và vào Nước vĩnh hằng với Ngài.
3/ Chúa Giê-su là một người hoàn toàn như loài người nhưng Ngài đã chết và sống lại; Ngài không đầu thai thành một người khác hay trở thành này nọ như thuyết luân hồi đã dạy. Nếu sự phục sinh của Chúa Giê-su là một sự thật lịch sử thì thuyết luân hồi không thể đúng.
4/ Nếu Chúa Giê-su không sống lại và tuyên xưng công chính cho người tin Ngài thì tất cả nhân loại phải sống trong tội lỗi và sẽ chết trong tội lỗi của họ.
5/ Chúng ta khôngsống cho đời sống tạm bợ này mà thôi vì chúng ta hy vọng vào đời sống vĩnh cửu vinh hiển trong tương lai với Chúa.
6/ Hy vọng, phước hạnh và vinh hiển trong nước vĩnh hằng là tolớn vĩ đại vô cùng vì thế một số con dân của Chúa có thể hy sinh đời sống tạm bợ này để hưởng đời sống vĩnh phúc trong tương lai. Phao-lô cho rằng những tai họa, khổ nạn của đời này chỉ là nhẹ và tạm so với sự sống vĩnh phúc với Chúa.
7/ Người không tin vào sự phục sinh của Chúa Giê-su và của tín hữu vào ngày tận thế sẽ phạm hai tội, thứ nhất là vô tín và thứ hai là thiếu hiểu biết Đức Chúa Trời.
Bài 29
Thân Thể Phục Sinh (1Cor 15:35-49)
1/ Phao-lô mắng tín hữu Cô-rinh-tô là khờ dại vì những bằng chứng ngoài thiên nhiên như hạt giống và chính Chúa Giê-su đã sống lại vẫn chưa mở mắt họ để họ hiểu biết giáo lý quan trọng này.
2/ Ví dụ về hạt giống cho thấy vật chất khi chết đi vẫn có thể phục hồi bằng một hình thức khác tốt đẹp và vinh quang hơn vì Đức Chúa Trời có quyền làm như thế. Như vậy con người cũng có thể sống lại bằng một thân thể mới thiêng liêng.
3/ Ví dụ về A-đam cho thấy người chỉ mang bản chất A-đamsẽ chết như A-đam nhưng ai mang bản chất của Con Đức Chúa Trời, là bản chất thiêng liêng, vĩnh cửu sẽ được Chúa ban cho bản chất thiêng liêng mới đó.
4/ Lý luận cho rằng chết là hết hoàn toàn không hợp lý vì chính Chúa Giê-su đã chết và sống lại. Sự phục sinh của Chúa Giê-su là một bằng chứng lịch sử cụ thể được nhiều người chứng kiến. Vì thế tin cậy sự phục sinh là một điều hợp lý vì có bằng chứng và nhân chứng đáng tin cậy.
5/ Chúng ta tin rằng tín hữu sẽ được sống lại vinh quang vì Chúa Giê-su đã sống lại và Ngài hứa ban cho con dân Ngài sự sống mới đó.
6/ Chỉ có tínhữu của Chúa Giê-su mới được phục sinh vinh quang vì đã được Ngài ban cho sự sống phục sinh vinh quang đó khi họ tin nhận Ngài. Những người khác, không tin Chúa sẽ phải bị đoán phạt trong ngày tận thế.
7/ Sự sống phục sinh có nhiều đặc tính qúy gía như:
-thiêng liêng
-vĩnh cửu
-bất tử
-quyền năng
-không hư hoại
-vinh quang
Bài 30
Chiến Thắng Sự Chết (1Cor 15:50-58)
1/Sự huyền nhiệm Phao-lô nói đến ở đây là sự phục sinh và biến hóa của tín hữu khi Chúa Giê-su tái lâm.
2/ Khi Chúa Giê-su tái lâm tất cả tín hữu đã chết sẽ được phục sinh với một thân thể thiêng liêng như Chúa.
3/ Nếu một tín hữu còn sống khi Chúa đến, tín hữu đó sẽ được biến hóa thành thân thể thiêng liêng để sống trong nước thiên đàng với Chúa.
4/ Tín hữu phải được phục sinh hay biến hóa thành thân thể thiêng liêng mới có thể sống trong nước thiên đàng thiêng liêng vĩnh cửu. Thân thể phàm tục không thể sống trong nước thiên đàng vinh quang, vĩnh cửu.
5/ Tôi tin chắc rằng tôi sẽ được phục sinh hay biến hóa thành con người thiêng liêng để sống trong thiên đàng vì Lời Chúa xác nhận như thế và vì Chúa Giê-su đã sống lại và sẽ trở lại để đem chúng tôi vào Nước Thiên Đàng với Ngài. Chúa Giê-su phục sinh là một bằng chứng lịch sử xác thực; tất cả những lời phán của Chúa đều đúng vì thế lời hứa của Ngài cũng sẽ đúng.
6/ Theo Kinh Thánh nguyên nhân của sự đau khổ, chết là sự đau khổ nhất, là tội lỗi.
7/ Loài người không thể làm theo Kinh Luật(luật pháp) để được cứu rỗi vì Kinh Luật chỉ có thể chỉ rõ bản chất tội lỗi của con người nhưng không có quyền năng để tẩy sạch tội lỗi cho con người.
8/ Đức tin trong Chúa Giê-su mới có thể cứu rỗi con người vì Chúa Giê-su đã chết thay cho loài người và Ngài đã sống lại, chiến thắng sự chết nên Ngài mới có thể ban cho con người sự sống mới bất tử, vinh quang.
9/ Đa số những tín hữu thật của Chúa không còn sợ chết vì họ có sự sống phục sinh của Chúa, sự chiến thắng cái chết, trong lòng và chờ đợi sự phục sinh hay sự biến hóa thành người thiêng liêng khi Chúa tái lâm.
10/ Tín hữu của Chúa nên hăng hái, vững lòng phục vụ Chúa vì biết rằng mình sẽ được phục sinh hay biến hóa thành người mới, thiêng liêng và nhận phần thưởng cho những gì mình đã làm cho Chúa trong đời sống hiện tại khi Chúa Cứu Thế trở lại.
Bài 31
Quản Trị Tiền bạc, Cơ Hội và Nhân Sự
1/ Vì dâng hiến tiền bạc là sự đáp ứng lại những ân sủng lớn lao Chúa đã ban cho tín hữu. (2Côr 8:1,5) Trước hết tín hữu dâng hiến đời sống mình cho Chúa và dâng những gì mình nhận được để phục vụ Chúa.
2/ Phao-lô khuyến khích tín hữu Hy Lạp (Cô-rinh-tô) dâng hiến giúp đỡ tín hữu hội thánh Giê-ru-sa-lem là để giữ mối tương thông giữa hai dân tộc trong hai hội thánh địa phương khac nhau nhưng trong một hội thánh phổ quát của Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi đến từ người Do Thái (Chúa Giê-su là người Do Thái), Phao-lô cũng là người Do Thái cho nên đây cũng là một cách để đền ơn thuộc linh bằng phương tiện vật chất.
3/ Nếu có; đây là một điều tốt và phải lẽ vì chúng ta cùng ở trong một thân thể của Chúa Cứu Thế.
Nếu không, đây là một điều thiếu xót vì đa số những tín hữu của hội thánh hải ngoại đều có một đời sống khá cao so với những anh chị em của chúng ta trong Chúa tại quê nhà.
4/ Đa số những tín hữu tại Cô-rinh-tô có lẽ là những nô lệ không có tài sản hay lợi tức gì nhiều; dù vậy Phao-lô khuyên mọi người đều nên dâng hiến tùy khả năng của mình. Phao-lô không khuyên hội thánh Cô-rinh-tô dâng phần mười vì đa số họ không phải là người Do Thái.
Chúng ta đa số là những người ngoại quốc được cứu nhờ ân sủng, bởi đức tin, không phải người Do Thái để phải theo luật pháp. Tuy nhiên chính Chúa Giê-su đã khuyên những người Do Thái hãy sống theo tình yêu thương nhưng cũng đừng bỏ việc dâng phần mười (Math 23:23).
Ngoài ra việc dâng một phần mười lợi tức của mình cho Chúa là một truyền thống đã có trước thời luật pháp Môi-se. Áp-ra-ham đã dâng một phần mười chiến lợi phẩm của mình cho thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao (Sáng 14:20). Vào thời đó dân của một nước phải dâng một phần mười hoa lợi của mình cho vua. Ngày nay nếu một người thật sự tin nhận Chúa Cứu Thế làm Đấng cứu rỗi và Chúa Tể (vua) đời sống mình, người đó đã nhận được đời sống vĩnh phúc ngay trong đời này lẫn đời đời, thì việc người đó dâng hiến lại một phần mười lợi tức vật chất cho Vua thiên thượng của mình để lo phát triển Thiên Quốc là một điều tự nhiên và bình thường như những công dân thời cổ vậy thôi. Một phần mười có thể được coi như một tiêu chuẩn để tín hữu dâng hiến nhưng không phải là một luật chúng ta phải theo.
5/ Phao-lô dùng cụm từ “ngày đầu tuần lễ” là nhóm từ đặc biệt để chỉ ngày Chúa Nhật các tin hữu nhóm họp thờ phượng Chúa. Công Vụ 20:7 và Khải 1:10 cũng nói đến những buổi thờ phượng Chúa. Ngoài ra lịch sử ngoài Kinh Thánh cũng đề cập đến buổi thờ phượng của tín hữu vào ngày thứ nhất trong tuần lễ. Tín hữu ngoại quốc chọn ngày thứ nhất để thờ phượng Chúa vì đó là ngày Chúa sống lại từ cõi chết.
6/ Phao-lô truyền cho hội thánh phải cử một ủy ban lo việc quản trị và chuyển tiền đến hội thánh Giê-ru-sa-lem.
7/ Phao-lô đã giảng và lập hội thánh Cô-rinh-tô mà không nhận thù lao; vì thế bây giờ họ nên hỗ trợ ông để truyền giảng cho những dân tộc khác; đây chỉ là một việc trả ơn.
Ngoài ra một tín hữu hay một hội thánh mà không gieo ra thì cũng sẽ không có gì để gặt.
8/ Khi Phao-lô thấy người Ê-phê-sô mở lòng tin nhận Chúa và ông vẫn còn tự do để truyền giảng Phúc Âm; đó chính là cơ hội, cánh cửu đang mở rộng, dù cũng có những ngườ chống đối. Thật ra hầu hết những cánh đồng Phao-lô đến truyền giảng đều có sự chống đối.
9/ Phao-lô muốn hội thánh cũng khuyến khích, nâng đở những người trẻ phục vụ Chúa như họ đã hỗ trợ ông.
Ngày nay chúng ta thiếu rất nhiều người trẻ phục vụ Chúa trọn thì giờ vì thiếu sự nâng đỡ, khuyến khích và hỗ trợ của hội thánh.
10/ Dù có một số người chống đối Phao-lô nhưng cũng có những người như gia đình Sê-pha-na trung thành, hỗ trợ Phao-lô vì thế Phao-lô được an uỉ, tươi tĩnh trở lại.
11/ Hội thánh Cô-rinh-tô dù có nhiều nan đề nhưng họ đã làm theo những nguyên tắc sau nên họ vượt qua khó khăn, chiến thắng mọi nan đề , phát triển và trường tồn cho đến ngày nay:
a/ Tĩnh thức trước những âm mưu, hoạt động của kẻ thù. Họ nhận thức được sự sai lầm, tội lỗi để ăn năn, điều chỉnh.
b/ Họ vững vàng trong đức tin đúng đắn và thực hành đức tin với lòng tin quyết.
c/ Họ can đảm nhận sự sai lầm, tội lỗi và tà giáo và can đảm đối diện với kẻ thù chống đối.
d/ Tín hữu Cô-rinh-tô mạnh mẽ sống theo đức tin nên Chúa thêm sức cho họ hoàn thành sứ mệnh.
e/ Mọi sự người Cô-rinh-tô đã thực hành trong tình yêu thương. Phao-lô đã nói đến tình yêu thương ở chương 13. Trong phần kết thúc ông đã nhấn mạnh: “Ai không yêu mến Chúa, người ấy đáng bị nguyền rủa”. Đối với Phao-lô người không yêu mến Chúa là người không tin Chúa vì thế họ vẫn là người bị đoán xét như người ngoại đạo.
Người yêu mến Chúa cũng sẽ yêu mến người hư mất vì đó chính là lý do Chúa Cứu Thế hy sinh chết thế cho họ.